Rèn luyện kỹ năng đọc hiểu cho học sinh THPT qua dạy học đoạn trích “tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” theo đặc trưng thể loại - Pdf 35

ĐẶT VẤN ĐỀ
Chương trình SGK Ngữ văn mới được xây dựng theo nguyên tắc dạy học
theo trục kiến thức thể loại trên cơ sở có tính đến yếu tố lịch sử văn học. Việc dạy
học các văn bản Ngữ văn nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản nhất
về thể loại văn học đồng thời rèn luyện các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói,
đọc, viết). Theo đó ngâm khúc là thể loại được đưa vào giảng dạy trong chương
trình Ngữ văn 10 cả ở ban cơ bản và nâng cao. Việc giảng dạy ngâm khúc trong
nhà trường phổ thông là một điều cần thiết bởi đây là thể loại thơ trữ tình trường
thiên của dân tộc góp phần quan trọng tạo nên diện mạo cũng như sự phát triển của
văn học Việt Nam trung đại.
Hiểu là mục đích cuối cùng của mọi hoạt động đọc. Trong dạy học tác phẩm
văn chương, đọc hiểu, theo đúng nghĩa, là mục đích lí tưởng của việc đọc văn..
Phương pháp dạy học Văn theo hướng đọc hiểu đã bộc lộ những ưu điểm phù hợp
với yêu cầu dạy học hiện nay. Tuy vậy, dạy thế nào để giúp học sinh vừa rèn luyện
được kĩ năng đọc và tạo lập văn bản, vừa không làm giảm chất văn của môn văn là
một vấn đề cần được quan tâm.
Thực tế dạy học Văn những năm gần đây cho thấy việc đọc hiểu chưa thực
sự được học sinh đề cao, học sinh ở nhà thì phụ thuộc vào sách tham khảo, lên lớp
thì phụ thuộc vào giáo viên, thế nên có nhiều học sinh biến môn Văn thành môn
học thuộc lòng nên dần dần mất cảm hứng, mất năng lực cảm nhận văn học.
“Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” (Trích Chinh phụ ngâm) là một trích
đoạn đặc sắc tiêu biểu cho thể loại ngâm khúc, đồng thời cũng đánh dấu những
bước tiến vượt bậc trong tư duy nghệ thuật về con người ở văn học trung đại. Đọc
hiểu trích đoạn trên không chỉ để thấy cái hay cái đẹp của một đoạn văn bản cụ thể
mà còn để thấy phần nào diện mạo văn học ở thời kì phát triển đỉnh cao nhất. Tuy
nhiên do khoảng cách về thời gian, do sự khác nhau của tư duy thời đại, học sinh
phổ thông hiện nay chưa cảm thụ được hết những giá trị của trích đoạn nói trên
1


cũng như những giá trị của thể loại ngâm khúc từng làm say mê biết bao tâm hồn

- Tâm trạng chung của nhân vật trữ tình là buồn rầu đau đớn triền miên.
- Bài thơ có dung lượng lớn.
- Viết bằng thể song thất lục bát và chữ Nôm. Lời thơ có nhạc tính cao.
Thiếu đi một đặc điểm nào trong ba đặc điểm trên thì không phải là thể loại
ngâm khúc.
2.2 Đặc điểm loại hình của thể ngâm khúc
* Kết cấu: Ở Ngâm khúc chỉ có duy nhất một nhân vật trữ tình đang tự bạch tâm
trạng, phô diễn dòng ý thức đang vận động trong tâm tư để dẫn đến một sự cảm
nhận mới về cuộc sống. Kết cấu thơ trữ tình là sự tổ chức triển khai tứ thơ để thể
hiện dòng tâm trạng ấy.
Ngâm khúc thường mở đầu bằng việc thể hiện tâm trạng của nhân vật trữ
tình trong thời hiện tại. Tâm trạng này nảy sinh do những biến cố buồn đau trong
quá khứ: chiến tranh – chia li, bị ruồng bỏ, chồng chết…Từ nỗi buồn đau ở hiện tại,
nhân vật trữ tình hồi tưởng lại quá khứ xa, gần và xót xa nhận ra rằng hạnh phúc
chỉ tồn tại trong quá khứ. Trong sự bế tắc, tuyệt vọng họ mơ về tương lai. Đó là
giấc mơ chồng trở về trong hào quang chiến thắng (Chinh phụ ngâm) hay vãn hồi
được tình yêu của đấng quân vương (Cung oán ngâm)…
* Nhân vật trữ tình: Văn học giai đoạn thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX đã thoát
dần khỏi lối tư duy truyền thống mang tính chất Nho giáo. Từ quan niệm “thi dĩ
ngôn chí” của văn học giai đoạn trước, lúc này văn học hướng đến thể hiện những
khát vọng riêng tư về hạnh phúc và tình yêu. Nhân vật trữ tình trong Ngâm khúc
thường tự bộc lộ mình qua những cảm xúc, suy nghĩ, cách nhìn nhận cuộc sống. Họ
ít nhiều mất niềm tin vào lý tưởng và các nguyên tắc đạo đức truyền thống Nho
giáo. Người chinh phụ từng tin tưởng, hi vọng vào sự ra đi của chồng đã đi đến hối
hận, phủ nhận hai chữ công danh.

3


* Không gian nghệ thuật: Không gian trong Ngâm khúc đều được nhìn qua lăng

trệ, trễ nải trôi.
* Lời thơ : Ngâm khúc được viết bằng thể thơ song thất lục bát, là thể thơ của dân
tộc Việt. Có thể nói đây là thể thơ thích hợp nhất để diễn đạt những cung bậc cảm
xúc “sầu, hận, oan, oán” trong lòng nhân vật trữ tình. Nhìn chung, lời thơ Ngâm
khúc có những đặc điểm:
- Trong khi câu thơ thất ngôn Đường luật chỉ có một hạn độ (7), lục bát có hai (6-8)
thì song thất lục bát có tới ba (7-6-8), vì thế nên thể song thất lục bát có khả năng
ngắt nhịp phong phú: 3/4, 2/2/2, và 2/2/2/2 vì vậy mà câu thơ song thất lục bát có
nhạc tính cao hơn.
- Thể thơ song thất lục bát sử dụng được nhiều kiểu đối: đối giữa 2 câu thất, đối
trong câu lục, đối trong câu bát.
- Nhạc tính của thể song thất lục bát còn được tăng lên do việc các nhà thơ thường
sử dụng từ láy và phép điệp từ, điệp cụm từ, điệp cấu trúc câu.
- Ở lời thơ Ngâm khúc thường thấy sự xuất hiện khá cao của lớp từ Hán Việt. Việc
dùng nhiều từ Hán Việt là do đối tượng thẩm mĩ chi phối bởi ngâm khúc hướng về
miêu tả nỗi lòng của một chinh phụ khuê các, một cung nữ trong lầu son gác tía,
một bà hoàng hậu…và đằng sau đó là hình bóng tác giả - những trí thức phong
kiến.
- Lời thơ ngâm khúc sử dụng nhiều điển tích điển cố. Đây là một tư duy nghệ thuật
thường thấy ở văn học trung đại. Việc dùng điển tích điển cố giúp cho cách diễn
đạt trở nên súc tích và rất phù hợp với thị hiếu ngôn ngữ của tầng lớp trí thức quý
tộc.
- Tuy vậy, bên cạnh những từ Hán Việt, những điển tích điển cố Hán là lớp từ
thuần Việt được sử dụng rất tinh tế và đắc địa trong việc miêu tả tâm lí nhân vật.
Nhờ đó mà tính Việt hóa trong ngôn ngữ văn học dân tộc cũng được coi là đóng
góp lớn của thể loại này.
5


Như vậy với những đặc điểm trên về kết cấu, nhân vật trữ tình, không gian

đến tổ chức hoạt động tiếp thu kiến thức cơ bản và tổ chức vận dụng tri thức trong
bước liên hệ.
3.1. Xác định nội dung và cách thức gợi dẫn
Gợi dẫn là hoạt động không thể thiếu trong một giờ học Văn. Hoạt động này
sẽ cung cấp cho học sinh những tri thức công cụ và định hướng hoạt động để học
sinh tiếp cận ban đầu với tác phẩm qua hoạt động tự đọc văn bản. Với bài “Tình
cảnh lẻ loi của người chinh phụ”, giáo viên có thể gợi dẫn cho học sinh những nội
dung sau:
Về tác giả Đặng Trần Côn và văn bản chữ Hán Chinh phụ ngâm: giới thiệu
một vài nét cơ bản về tác giả; hoàn cảnh ra đời và tư tưởng chủ đạo của tác phẩm,
những đánh giá của người đương thời về tác phẩm
Về dịch giả: đây là vấn đề phức tạp chưa có sự giải quyết triệt để vì thế giáo
viên chỉ nêu vấn đề: có hai luồng quan điểm chính, một nghiêng về bản diễn Nôm
là của Phan Huy Ích, một nghiêng về của Đoàn Thị Điểm.
Về đoạn trích: cần nêu vị trí đoạn trích để học sinh dễ hình dung hơn khi tìm
hiểu nội dung đoạn trích.
Phần gợi dẫn đọc tác phẩm, giáo viên lưu ý học sinh đọc đúng nhịp điệu đặc
trưng của ngâm khúc: chậm rãi, thiết tha, đượm buồn.
Gợi dẫn tìm hiểu tác phẩm là hoạt động chính của quá trình tổ chức hướng
dẫn học sinh đọc hiểu văn bản. Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu cả hai bình
diện nội dung và nghệ thuật để thấy được cái hay cái đẹp của đoạn trích. Để qua
đọc hiểu học sinh có thêm kiến thức về thể loại ngâm khúc, về tư tưởng chủ đạo
của văn học thế kỉ XVIII, cũng như những thông điệp mà tác giả gửi gắm. Trong
phần gợi dẫn tìm hiểu tác phẩm, cần lưu ý hướng dẫn học sinh phát hiện và cảm thụ
được ý nghĩa tiềm ẩn đằng sau vỏ ngôn từ, giúp học sinh tổng hợp được những tri
thức cơ bản của bài học.
7


Tiếp đó giáo viên cần định hướng cho học sinh vận dụng những kiến thức

giới nội tâm nhân vật một cách tinh vi và sâu sắc khi thì qua ngoại hình, hành động,
suy nghĩ của nhân vật, khi thì lấy ngoại cảnh để thể hiện thế giới bên trong con
người. Đó còn là cách sử dụng triệt để khả năng của thể thơ song thất lục bát (với
sự réo rắt về nhịp, phong phú xoắn xuýt về vần,…) rất thích hợp để thể hiện âm
điệu sầu đau, oán trách.
Về kĩ năng: bài dạy đọc hiểu này đảm bảo những yêu cầu cơ bản là rèn luyện
kĩ năng đọc hiểu thể loại ngâm khúc
Nội dung kiến thức cơ bản của mỗi bài học là do mục tiêu bài học quyết
định. Song trong quá trình dạy học, tùy theo đối tượng, hoàn cảnh và môi trường
dạy học mà mỗi giáo viên có sự linh động trong giảng dạy để có được hiệu quả tốt
nhất.
3.3 Xác định phương tiện dạy học
Trong quá trình giảng dạy, để tiết học sinh động, ngoài sách giáo khoa, sách
giáo viên, sách hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn lớp 10,
giáo viên có thể sử dụng thêm tranh vẽ minh họa, tác phẩm Cung oán ngâm, phiếu
học tập…
4. Giáo án thực nghiệm (dạy học bài Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ chương trình chuẩn)
TÌNH CẢNH LẺ LOI CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ
(Trích Chinh phụ ngâm)
- Bản nguyên tác: Đặng Trần Côn
- Bản diễn Nôm: Đoàn Thị Điểm (?)
A. Mục đích, yêu cầu:
Giúp hs
- Hiểu được đặc trưng cơ bản của thể loại ngâm khúc

9


-Hiểu được nỗi đau khổ của người chinh phụ bắt nguồn từ cảnh cô đơn khi người
chinh phu phải ra trận vắng nhà. Qua đó nắm được ý nghĩa đề cao hạnh phúc lứa


→ ảnh hưởng đến cách cầm bút + Sáng tác: thơ, phú chữ Hán, tác phẩm nổi
của tác giả.

bật nhất là Chinh phụ ngâm.

GV: Qua phần Tiểu dẫn, hãy giới * Tác phẩm
thiệu về tác phẩm CPN bản chữ - Hoàn cảnh sáng tác:
Hán.

+ Nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra,

10


GV mở rộng: đề tài người vợ lính triều đình cất quân đi đánh dẹp.
khá phổ biến trong văn học Trung + Nhiều trai tráng phải giã từ ra trận, người
Quốc: Khuê oán – Vương Xương vợ ở nhà chịu nhiều mất mát, khổ đau.
Linh, Trăng nơi cửa ải – Lí Bạch, - Tác phẩm gồm 476 câu thơ, viết theo thể
Tiếng hát Lũng Tây – Trần Đào đoản trường cú.
hay trong ca dao VN.

- Đề tài: người vợ lính
- Chủ đề:

GV: Đương thời bản chữ Hán + oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa.
được đánh giá rất cao không chỉ + thể hiện tâm trạng khao khát tình yêu, hạnh
bởi nghệ thuật điêu luyện mà còn phúc lứa đôi.
vì tác phẩm thể hiện được khuynh 2. Vấn đề dịch giả và bản dịch chữ Nôm
hướng mới của VH – khuynh hiện hành

- Nhân vật trữ tình hiện ra trong sự hồi tưởng
về quá khứ, ai oán xót thương cho mình ở
thực tại.

- GV lưu ý hs khi cảm thụ thơ trữ - Được làm bằng thể thơ song thất lục bát.
tình cần nắm bắt được diễn biến, Thể thơ có nhạc điệu réo rắt, có sự phong
sự vận động bên trong nội tâm, phú về vần nhịp, các vần lưng vần chân
cảm xúc của nhân vật.

luyến láy không dứt rất phù hợp để thể hiện
tâm trạng buồn đau triền miên.

- GV: em hiểu gì về thể thơ song 4. Đoạn trích
thất lục bát?

- Vị trí: SGK
- Nội dung: tình cảnh và tâm trạng người
chinh phụ phải sống cô đơn buồn khổ trong
thời gian người chồng đi đánh trận, không có
tin tức, không rõ ngày trở về.

- GV: Qua phần tìm hiểu ở nhà, - Bố cục: 2 phần:
dựa vào Tiểu dẫn, em hãy nêu vị + Câu 1-16: tình cảnh lẻ loi của người chinh
trí, nội dung của đoạn trích.

phụ.

- HS trả lời:

+ Còn lại: nỗi nhớ thương người chồng ở

để giết thời gian
→ cuộc sống nhàm chán, tẻ nhạt, tù túng
→ tâm trạng rối như tơ vò.
- tiếng của chim thước có ý nghĩa báo tin vui
có khách
- Oán trách chim thước: thể hiện nỗi mong
ngóng chồng trở về, khao khát đoàn tụ.
Oán trách chim thước: sự thất vọng khi thấy

- GV: Việc oán trách chim thước sự lặng câm của chim như chính sự bặt vô
cho thấy tâm sự gì ở người CP?

âm tín của chồng.

- HS phát hiện:

Giọng oán trách là giọng điệu đặc trưng của
các khúc ngâm.
- Không gian:
+ Ngoài rèm: không gian rộng thoáng, là
không gian của ước mơ, của hi vọng. Nhưng
hạnh phúc lại quá xa xôi, không thể với tới,
người CP trở về không gian quen thuộc của

GV: Sự thay đổi về không gian, từ mình “trong rèm”.
“ngoài rèm” chuyển sang “trong + Trong rèm: không gian chật hẹp, tù túng bó

13



con gái Nam Xương, Cung oán + Chuyện người con gái Nam Xương.
ngâm, Truyện Kiều…

- Người CP nhận ra đèn cũng chỉ là vật vô tri
vô giác “dường bằng chẳng biết”
→ Nhận ra bi kịch của mình: không người sẻ
chia.
- Từ “riêng”:

- Trong đêm khuya có ngọn đèn + Thể hiện sự đối lập giữa nàng và xung
cùng thức, tại sao người CP lại quanh (tất cả đều lặng câm riêng lòng nàng

14


thất vọng?

thì dậy song)
+ sự cô đơn đến tuyệt đối cả về thể xác và

- Từ ngữ nào trong câu : Lòng tâm hồn (một mình mình biết, một mình
thiếp riêng bi thiết mà thôi gợi cho mình hay)
em nhiều suy nghĩ nhất?

+ sự than thở, oán trách của nàng với xung
quanh, với việc chồng ở xa không có tin tức
gì, liệu có thấu được tình cảnh của nàng hay
không…
+ cảm xúc thương mình
+ sự cảm thông sâu sắc của người cầm bút


cả một năm trôi đi.→Thời gian tâm lí làm
héo mòn con người. Cùng với sự trôi chảy
của thời gian là sự tăng tiến của nỗi sầu.

- GV mở rộng: người ta thường - Người CP đã có rất nhiều nỗ lực để vùng
quan niệm “dịch thơ là giết thơ” thoát khỏi nỗi buồn bằng cách: đốt hương,
nhưng ở đây, trong bản dịch soi gương, định gảy đàn.
ĐTĐiểm đã nâng Chinh phụ ngâm - Nhưng càng cố gắng lại càng thất bại vì
lên một tầm cao mới. So sánh với không có niềm vui nào có thể an ủi được
nguyên tác để thấy được sự đồng nàng lúc này:
sáng tạo tuyệt vời của ĐTĐ trong + Đốt hương – hồn mê mải
hai câu thơ : “Khắc giờ…biển xa”

+ soi gương – lệ châu chan
+ định gảy đàn – kinh đứt, ngại chùng

- GV: người CP cố gắng thoát ra → Nỗi đau tinh thần quá lớn, không gì có thể
khỏi nỗi sầu bằng nhiều cách. Đó bù đắp được, không gì có thể thay thế được
là những cách nào? Những cách hạnh phúc gia đình.
đó có làm nàng vơi bớt sầu đau?

- Tâm trạng của người CP hiện lên sinh động

- HS phát hiện:

qua nhiều phương thức:
+ Miêu tả gián tiếp qua dáng hình, hành
động, thiên nhiên
+ Miêu tả trực tiếp: qua những suy nghĩ của

được miêu tả như thế nào?

+ Sử dụng các từ láy miêu tả nỗi nhớ: “thăm
thẳm” (nỗi nhớ có bề cao, bề xa, bề sâu),
“đau đáu” (nỗi nhớ thường trực, nhớ nhiều
đến trở nên đau đớn).
+ sử dụng ngoại cảnh để thể hiện tâm cảnh:

17


bức tranh thiên nhiên lạnh lẽo (cành cây
sương đượm), hoang vắng (tiếng trùng mưa
phun) cũng chính là cõi lòng tê tái vì nhớ
nhung của người chinh phụ.
III. Tổng kết
- GV: Nêu khái quát những giá trị - Giá trị nội dung:
nội dung và nghệ thuật của đoạn + Qua tình cảnh lẻ loi của người CP, đoạn
trích hướng đến khẳng định quyền sống,

trích.

quyền hạnh phúc của con người trong đời
sống thực; đồng thời phê phán, tố cáo chiến
tranh phi nghĩa → giá trị nhân đạo
+ đánh dấu một khuynh hướng mới trong văn
học: hướng về thể hiện tiếng nói, khát vọng
cá nhân.
- Giá trị nghệ thuật:
+ nghệ thuật miêu tả tâm lí

+ 83% học sinh đạt điểm khá

- Lớp 10 C

+ 15% học sinh đạt điểm giỏi
+ 82% học sinh đạt điểm khá
+ 3% học sinh đạt điểm trung bình

Với kết quả trên tôi nhận thấy, từ quá trình chuẩn bị bài chu đáo ở nhà, đến quá
trình tích cực tham gia vào quá trình đọc hiểu ở lớp dưới sự hướng dẫn của giáo
viên, học sinh có được những tiết học sôi nổi và cuối cùng các em đã đạt được kết
quả tốt khi kiểm tra.
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Qua quá trình giảng dạy tôi nhận thấy chủ chương chuyển đổi phương pháp
từ giảng văn sang phương pháp đọc hiểu văn bản là hoàn toàn chính xác, đáp ứng
được yêu cầu lấy học sinh làm trung tâm. Bằng việc đọc hiểu, học sinh được chủ
động tham gia vào quá trình tiếp nhận văn bản vì thế mà kiến thức thu nhận được là
kết quả của sự tìm tòi, khám phá của chính học sinh, các em nắm vững bài và ghi
nhớ bài nhanh hơn.
19


Tuy vậy làm thế nào để truyền cho học sinh kĩ năng đọc hiểu tốt đòi hỏi
người giáo viên phải thực sự chủ động, linh hoạt trong quá trình định hướng cho
học sinh từ khâu hướng dẫn các em tìm hiểu bài ở nhà đến quá trình học tập ở trên
lớp và quá trình vận dụng kiến thức vào thực hành tạo lập văn bản tương đương ở
cấp độ phù hợp. Người giáo viên cần phải công phu trong tìm đặt câu hỏi để làm
thế nào thực sự “lôi” học sinh vào hoạt động học một cách say mê, hứng thú.
Khi hướng dẫn đọc hiểu một văn bản, người giáo viên cần chú ý rèn kỹ năng
đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại để từ việc tìm hiểu một văn bản hoặc một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status