skkn nâng cao chất lượng dạy nội dung về câu cho học sinh lớp 4 thông qua việc sử dụng các thủ - Pdf 35

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến thành phố Ninh Bình
Chúng tôi gồm:
Tỉ lệ %
S

Họ và tên

Ngày tháng

Nơi công tác

Chức danh

Trình

đóng góp

độ

vào việc

chuyên

tạo ra

môn



Trường TH

1 Đinh Thị Tuyết Chinh

24/5/1961

2 Tống Thị Thu Thủy

29/6/1969

3 Phạm Thị Bình

02/01/1973

4 Đỗ Thị Mỹ Bằng

06/3/1974

Đinh Tiên Hoàng
Trường TH
Đinh Tiên Hoàng
Trường TH
Đinh Tiên Hoàng
Trường TH
Đinh Tiên Hoàng

Là nhóm tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: “ Nâng cao chất lượng dạy nội
dung về câu cho học sinh lớp 4 thông qua việc sử dụng các thủ pháp phân biệt
thành phần câu”

9 tiết

Câu:

26 tiết

Dấu câu:

3 tiết

Từ sự phân bố về thời lượng nói trên, chúng ta thấy, nội dung học về câu của
học sinh lớp 4 chiếm thời gian chủ yếu trong phân môn Luyện từ và câu. Trong đó
nội dung học về thành phần câu chiếm thời lượng 18 tiết, tập trung ở các tuần học:
16, 17, 19, 20, 21, 22, 24, 25, 26, 31, 32, 33, 34. Khi học về thành phần câu, học
sinh được học hai thành phần chính của câu ( chủ ngữ, vị ngữ) và thành phần phụ
trạng ngữ. Nội dung học này giúp học sinh xác định, phân biệt được các thành
phần chính trong câu đơn và thành phần trạng ngữ của câu, giúp học sinh có kĩ
năng nói và viết phải thành câu, đúng mục đích diễn đạt, giữ gìn sự trong sáng của
tiếng Việt.
Trong quá trình dạy học nhiều năm nay chúng tôi thấy, chất lượng dạy học
phân môn Luyện từ và câu nói chung, chất lượng dạy học về nội dung Thành phần
câu nói riêng còn nhiều hạn chế, đa số giáo viên còn chưa chú trọng khi dạy nội
dung này. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó, mà cơ bản nhất là
những nguyên nhân sau:
Bài kiểm tra định kì của học sinh chỉ có một phần nhỏ nội dung về Luyện từ
và câu và Thành phần câu mà lượng kiến thức về nội dung này lại khá nhiều, khó
dạy, khó học nên nhiều giáo viên chỉ dạy lướt qua cho hết bài.

2


3


Dừng lại ở ngoài cổng, chị nâng vạt áo lau những giọt mồ hôi nhễ nhại.
- Khi đặt câu, viết đoạn văn, đa số các em đã không thực hiện được theo yêu
cầu, mục đích cần đạt.
Ví dụ: Bài tập yêu cầu điền thêm bộ phận chính vào sau trạng ngữ để hoàn
chỉnh câu sau : Bên kia cánh rừng, .........
Kết quả là 100% học sinh điền sai, mà chủ yếu điền được dạng câu như sau :
Bên kia cánh rừng có một ngôi nhà.
Nếu đọc câu văn lên thì rất hoàn chỉnh, nhưng nó đã không đúng với yêu cầu
của đề bài : Trạng ngữ đã biến đổi thành chủ ngữ.
Để khắc phục những tồn tại trên, chúng tôi đã đưa ra những giải pháp mới
được cải tiến như sau :
2. Giải pháp mới cải tiến:
Giải pháp 1: Bổ sung thêm hoặc thay đổi nội dung ngữ liệu trong sách giáo
khoa để xây dựng kiến thức cần ghi nhớ cho học sinh
* Khi dạy những bài về Chủ ngữ (CN), chúng tôi đã đưa thêm những ngữ liệu và
phân tích những ngữ liệu đó như sau:
(1) Họ / chiến đấu rất dũng cảm.
CN
(2) Ở đời, mất cái nọ được cái kia / là lẽ thường tình.
CN- thành ngữ
(3) Sản xuất / phải gắn với nhu cầu tiêu thụ.
CN- động từ
(4) Đẹp nhất/ là hoa hồng.
CN- cụm tính từ
(5) Anh về muộn / làm cả nhà lo lắng.
CN- cụm C-V
(6) Thất bại đó/ do sự chủ quan của chúng ta.

Chủ ngữ có thể là một cụm C-V

5
6

Chủ ngữ có thể là từ, ngữ hoặc cụm C-V + từ chỉ trỏ ( này, nọ, kia, đó)

7
Chủ ngữ có thể là từ chỉ thứ tự

8

* Khi dạy những bài về Vị ngữ (VN), chúng tôi đã đưa thêm những ngữ liệu và
phân tích những ngữ liệu đó như sau:
(1) Ông thủ trưởng cơ quan tôi / người Quảng Bình.
VN- Cụm DT
(2) Nó / vuốt mặt không nể mũi.
VN- Thành ngữ
(3) Vải này / khổ hơi hẹp.
VN - Cụm C- V
(4) Trước mặt chúng tôi, sừng sững / một dãy núi đá.
VN
CN
Từ những ngữ liệu đã được phân tích ở trên, chúng tôi đã hướng dẫn học
sinh rút ra được những ghi nhớ cần thiết ( ngoài sách khoa):
Câu

Rút ra được kiến thức ghi nhớ

1

TN
Từ những ngữ liệu đã được phân tích ở trên, chúng tôi đã hướng dẫn học sinh
rút ra được những ghi nhớ cần thiết ( ngoài sách khoa):
Rút ra được kiến thức ghi nhớ

Câu
1

Trạng ngữ có thể là một cụm C- V

2

Trạng ngữ có thể ở giữa câu

3

Trạng ngữ có thể ở cuối câu

Giải pháp 2: Đưa một số thủ pháp phân biệt các thành phần câu trong các tiết
luyện tập
Thực tế dạy học đã xuất hiện những câu có cấu tạo đặc biệt mà học sinh rất
khó phân biệt các thành phần câu. Vì vậy, chúng tôi đã nghiên cứu và tập hợp các
trường hợp đặc biệt ấy thành một hệ thống thủ pháp để giúp học sinh phân biệt các
thành phần câu như sau:
* Phân biệt chủ ngữ với trạng ngữ chỉ nơi chốn và trạng ngữ chỉ thời gian
Ví dụ:
Trong thùng / đầy nước.
CN- chỉ nơi chốn
Bên phải / là dãy núi Thiên Nhẫn.
CN- chỉ nơi chốn

* Phân biệt trạng ngữ với cụm từ của vị ngữ ( bổ ngữ):
Chúng tôi đưa ra hai cặp câu sau và giúp đỡ học sinh phân tích:
Ví dụ:
(1) Vì tương lai,/ chúng ta / phấn đấu .
TN
CN
VN
Chúng ta / phấn đấu vì tương lai.
CN
VN
TN
(2) Giữa sân đình, anh ta / hăm hở bước tới.
TN
CN
VN
Anh ta / hăm hở bước tới giữa sân đình.
CN
VN

7


Cặp câu (1): Bộ phận trạng ngữ Vì tương lai có thể ở vị trí đầu câu hay cuối
câu mà nghĩa của câu không thay đổi.
Cặp câu (2): Bộ phận trạng ngữ Giữa sân đình khi chuyển vị trí xuống cuối câu
thì nghĩa của câu đã hoàn toàn thay đổi nên nó không còn là trạng ngữ nữa mà là
một cụm từ của vị ngữ ( bổ ngữ).
Từ đó, chúng tôi nhấn mạnh với học sinh: Khi trạng ngữ chuyển vị trí xuống
cuối câu (hay giữa câu) thì phải đảm bảo nghĩa của câu không thay đổi,.
* Phân biệt trạng ngữ với 1 cụm C - V ( một vế của câu ghép):

CN
VN
Một phần của VN ở câu (2) đã bị lược bỏ để tránh lặp từ. Câu nguyên vẹn là:
Thuốc, anh ấy không hút thuốc. Nên từ thuốc đứng đầu không phải là TN
(3)Anh ấy, thuốc không hút.
VN
Ở câu (3), CN và một phần của VN đã bị lược bỏ để tránh lặp từ. Câu nguyên vẹn
là: Anh ấy, thuốc, anh ấy không hút thuốc. Nên từ Anh ấy và từ thuốc đứng đầu
không phải là TN
Từ Thuốc ở câu (2), các từ ngữ: Anh ấy, thuốc đứng ở đầu câu (3) đều không
phải là TN hay CN mà chúng là một thành phần phụ khác của câu. (Không đề cập
đến)
IV. NHỮNG THÔNG TIN CẦN ĐƯỢC BẢO MẬT: ( Không )
V. CÁC ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN:

Chúng tôi đã áp dụng thử sáng kiến này từ năm học 2013 - 2014 với lớp
đồng chí Phạm Thị Bình giảng dạy. Năm học 2014 - 2015, sáng kiến đã được áp
dụng thử với toàn khối 4 trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng và mang lại kết quả rất
đáng khích lệ. Từ những kết quả đó, chúng tôi có thể tự tin khẳng định rằng khả
năng áp dụng sáng kiến kinh nghiệm của chúng tôi vào thực tế giảng dạy là rất lớn.
Bất kì một giáo viên Tiểu học nào, ở một vùng miền nào cũng có thể áp dụng được
sáng kiến của chúng tôi vào dạy học cho học sinh lớp 4.
Chất lượng học của học sinh nói chung, chất lượng phân môn Luyện từ và câu
nói riêng không tự dưng mà có, để sáng kiến được áp dụng một cách hiệu quả thì:
- Trước hết mỗi giáo viên phải coi trọng đúng mức việc dạy và học phân môn
Luyện từ và câu, đồng thời nắm chắc kiến thức về tiếng Việt rất phong phú, đa
dạng. Để dạy tốt một đơn vị kiến thức cho học sinh thì giáo viên không chỉ nắm
chắc kiến thức đó mà còn phải có hiểu biết sâu rộng về những kiến thức có liên
quan. Dạy về thành phần câu cho học sinh lớp 4 thì giáo viên phải biết tất cả các
9

c, …………., chim chóc hót líu lo.
d, Năm tôi học lớp Một,……………..
e, Bên kia cánh rừng,……………….
10


Khảo sát năm học 2012 - 2013 ( Trước khi áp dụng sáng kiến)
Điểm

T. Số

Lớp
4E

HS

Giỏi

%

Khá

%

TB

%

Yếu


21

%
58.3

Khá
12

%
33.3

TB
3

Yếu
0

%
8.4

%
0

Khảo sát năm học 2014 - 2015 ( Sau khi áp dụng sáng kiến)
Học sinh làm đúng số lượng câu
Lớp

T.Số
HS


câu

%

Dưới
5 câu

9

25.7

12

34.3

7

20.0

3

8.6

2

5.7

2

5.7

DỤNG THỬ SÁNG KIẾN:

Các đồng chí giáo viên giảng dạy khối lớp 4 trường tôi đã áp dụng sáng kiến
này từ năm học 2014 - 2015 đều đánh giá rất cao về lợi ích của sáng kiến:
- Nội dung của sáng kiến đã định hướng và chỉ rõ cho giáo viên một số kiến
thức về Tiếng Việt.
- Sáng kiến đã góp phần làm cho giáo viên khẳng định và tự tin hơn trong
giảng dạy, nhất là dạy phân môn Luyện từ và câu.
- Sáng kiến đã đưa ra một số kinh nghiệm thiết thực và bổ ích trong dạy học
về thành phần câu.
- Việc áp dụng sáng kiến trong dạy học đã góp phần nâng cao chất lượng học
sinh đối với môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Luyện từ và câu nói riêng.
Chúng tôi cũng khảo sát chất lượng học sinh bằng hai bài tập như trên ở một
số lớp 4 trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng và thu được kết quả như sau:
Khảo sát năm học 2014 - 2015 ( Sau khi áp dụng sáng kiến)
Học sinh làm đúng số lượng câu
Lớp

T.Số

10
câu

%

9
câu

%



20.0

11

31.5

9

25.7

5

14.3

2

5.7

1

2.8

0

0

4C

36


35

6

17.1

9

25.8

12

34.3

4

11.4

2

5.7

2

5.7

0

0


02/01/1973

2

Trần Thị Huệ

15/4/1976

3

Phạm Thị Ngân

11/3/1974

4

Nguyễn Thị Vân

11/5/1973

5

Trương Thị Huyền Châu

21/01/1961

6

Phạm Thị Quế

Đại học

Giáo viên

Đại học

Giáo viên

Đại học

Giáo viên

Cao đẳng

Giáo viên

Cao đẳng

Giáo viên

Đại học

Áp dụng thử
sáng kiến
Áp dụng thử
sáng kiến
Áp dụng thử
sáng kiến
Áp dụng thử
sáng kiến

Cá / bơi lội tung tăng..
1 CN- 1 DT
Hoa lan, hoa huệ, hoa hồng / nói chuyện bằng hương, bằng hoa.
3CN- 3 cụm DT
Bên cạnh đó cũng gặp không ít trường hợp đặc biệt khác của chủ ngữ mà giáo viên
cần hướng dẫn học sinh phân biệt:
14


Một số trường hợp đặc biệt khác của CN:
2. Chủ ngữ có thể là từ thay thế cho danh từ hay cụm danh từ ( Đại từ):
Ví dụ:
Họ / chiến đấu rất dũng cảm.
CN
Vì học sinh lớp 4 chưa được học về Đại từ, nhưng khi gặp những câu có dạng như
trên, giáo viên cần hướng dẫn học sinh xác định bộ phận chủ ngữ bằng cách đặt
câu hỏi tương tự như dạng câu thường gặp: Ai chiến đấu rất dũng cảm ? ( Họ).
3. Chủ ngữ có thể là một thành ngữ:
Ví dụ:
Ở đời, mất cái nọ được cái kia / là lẽ thường tình.
CN- thành ngữ
Ở dạng câu trên, giáo viên hướng dẫn học sinh đặt câu hỏi: Điều gì là lẽ thường
tình ? ( Mất cái nọ được cái kia).
- Chủ ngữ có thể là động từ, tính từ hay cụm động từ, cụm tính từ
Ví dụ:
Sản xuất / phải gắn với nhu cầu tiêu thụ.
CN- động từ
Đẹp nhất/ là hoa hồng.
CN- cụm tính từ
- Chủ ngữ có thể là một cụm chủ-vị

câu sẽ không trọn vẹn. Vì vậy, chúng là CN chỉ nơi chốn hay CN chỉ thời gian
trong câu.
- Chủ ngữ có thể là từ chỉ thứ tự:
Ví dụ:
Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống.
CN
CN
CN
CN
Phân tích cho học sinh thấy được: Câu trên tương đương với câu: Nhất là
nước, nhì là phân, tam là cần, tứ là giống. và CN trong câu là những từ chỉ thứ tự.
Tóm lại: Chủ ngữ trong câu thường do danh từ hay cụm danh từ tạo thành,
cũng có khi chủ ngữ do động từ, cụm động từ, tính từ, cụm tính từ, từ chỉ thứ tự,
thành ngữ, hay cụm C- V tạo thành. Chủ ngữ thường trả lời câu hỏi Ai? Cái gì?
Con gì?, cũng có khi chủ ngữ trả lời câu hỏi Ở đâu? Khi nào? Thứ mấy? Sự việc
gì?
16


Giải pháp 3: Hướng dẫn học sinh phân biệt các kiểu cấu tạo của thành phần
vị ngữ
5. Vị ngữ là động từ ( ĐT) hoặc cụm động từ:
Ví dụ:
Đàn cá heo / bơi trước mũi tàu như dẫn đường.
1VN- 1 Cụm ĐT
Các loài hoa / nghe tiếng hót trong suốt của Hoạ mi, chợt bừng tỉnh, xoè
4VN- 4 Cụm ĐT
những cánh hoa đẹp, bày đủ các màu sắc rực rỡ.
6. Vị ngữ là tính từ ( TT) hoặc cụm tính từ:
Ví dụ:

VN - Cụm C- V
10. Vị ngữ có thể đứng trước CN:
Ví dụ:
Trước mặt chúng tôi, sừng sững / một dãy núi đá.
VN
CN
11. Vị ngữ có thể ở vị trí rất giống với trạng ngữ:
Ví dụ:
(1)Dừng lại ở ngoài cổng,/ chị / nâng vạt áo lau những giọt mồ hôi nhễ nhại.
VN
CN
VN
(2) Ở ngoài cổng,/ chị / nâng vạt áo lau những giọt mồ hôi nhễ nhại.
TN
CN
VN
Câu (1): Chị có hai hoạt động Dừng lại ở ngoài cổng và Nâng vạt áo lau
những giọt mồ hôi nhễ nhại nên hai hoạt động này trả lời câu hỏi Làm gì?. Đó là
hai bộ phận vị ngữ trong câu.
Câu (2): Chị chỉ có một hoạt động Nâng vạt áo lau những giọt mồ hôi nhễ
nhại nên câu này chỉ có một vị ngữ. Còn bộ phận Ở ngoài cổng trả lời câu hỏi Ở
đâu? nên nó là bộ phận trạng ngữ.
12. Một số quan hệ từ nằm xen giữa CN và VN, được xác định là mở đầu vị
ngữ.
Ví dụ:
Cái óc nặng nề ấy / thì phải lâu mới nhớ ra được.
VN
18



CN
VN
TN
Giáo viên nhấn mạnh với học sinh: Khi trạng ngữ chuyển vị trí xuống cuối câu
hay giữa câu thì phải đảm bảo nghĩa của câu không thay đổi, khi viết phải đặt dấu
19


phảy ngăn cách với CN hay VN. Hãy so sánh các cặp câu sau đây để thấy rõ điều
đó:
Vì tương lai,/ chúng ta / phấn đấu .
TN
CN
VN
Chúng ta / phấn đấu, / vì tương lai.
CN
VN
TN
Giữa sân đình, anh ta / hăm hở bước tới.
TN
CN
VN
Anh ta / hăm hở bước tới giữa sân đình.
CN
VN
16. Một số chú ý khi phân biệt trạng ngữ với các thành phần khác của câu:
+ Phân biệt trạng ngữ với vị ngữ:
Ví dụ:
Dừng lại ở ngoài cổng, chị nâng vạt áo lau những giọt mồ hôi nhễ nhại.
Câu có thể có nhiều vị ngữ, trong đó có vị ngữ rất giống với trạng ngữ như ở

Ví dụ:
Giữa sân đình, anh ta / hăm hở bước tới.
TN
CN
VN
Anh ta / hăm hở bước tới giữa sân đình.
CN
VN
+ Phân biệt trạng ngữ với cụm C - V:
Ví dụ:
(1) Vì Dế Mèn tập tành đều đặn nên bạn ấy rất khoẻ.
Cụm C - V
Cụm C - V
(2) Vì tôi, cậu ấy bị phê bình.
TN
(3) Vì tương lai, chúng ta phấn đấu,
TN
( 4) Nhờ trận mưa rào nên trời mát mẻ hẳn.
TN
Câu (1) là câu có cấu trúc C-V, C-V ( Lớp 5 gọi là câu ghép) nên rất dễ bị
nhầm lẫn là câu có trạng ngữ chỉ nguyên nhân ở đầu câu nên giáo viên cần nhấn
mạnh cho học sinh.
Còn các câu (2), (3), (4) là câu có trạng ngữ.
+ Phân biệt trạng ngữ với một số thành phần khác của câu:
Ví dụ:
Thuốc, anh ấy không hút.
Không phải TN

21


CN
VN
Cà Mau, đất đai màu mỡ.
Không phải CN hay TN
Cà Mau, đó là nơi đất đai màu mỡ.
Không phải CN hay TN
Trái lại, đây là một việc rất khó.
Không phải TN
22


Nghề nuôi ong, vốn nhỏ nhưng hiệu quả kinh tế lại cao.
Không phải CN hay TN
Hoa, bao nhiêu là hoa màu sắc rực rỡ !
Không phải CN hay TN
Tóm lại: Trạng ngữ của câu có thể là một từ, một cụm từ hay một cụm
C-V. Trạng ngữ thường đứng ở đầu câu, cũng có khi đứng ở giữa câu hay cuối câu.
Cần chú ý phân biệt trạng ngữ với vị ngữ phụ, với một vế của câu có cấu trúc C-V,
C-V và với một số thành phần phụ khác của câu.
Giải pháp 1 : Giáo viên cần nắm vững những đặc trưng cơ bản của các thành
phần ngữ pháp của câu:
Trước hết cần hiểu: Thành phần câu là thành tố trực tiếp tạo câu, có thể là từ,
ngữ, cụm từ ngữ hay một cụm chủ- vị.
Ba tiêu chuẩn cũng là ba đặc trưng cơ bản của thành phần câu là:
* Vai trò ngữ pháp và ngữ nghĩa trong câu:
- Chủ ngữ ( CN) là thành phần chính thứ nhất trong hai thành phần chính của
câu, rất ít khi CN bị lược bỏ khi tách khỏi ngữ cảnh. Chủ ngữ biểu thị đối tượng
được nói tới trong câu.
- Vị ngữ ( VN) là thành phần chính thứ hai của câu, VN không thể bị lược
bỏ khi tách khỏi ngữ cảnh. Vị ngữ biểu thị hành động, trạng thái, đặc điểm, tính

Ví dụ:
Vì tôi , cậu ấy bị phê bình.
TN
Vì tôi nên cậu ấy bị phê bình.
TN
* Vị trí thường xuất hiện trong câu:
- Chủ ngữ thường đặt ở đầu câu, ngay trước vị ngữ, không bị tách khỏi vị
ngữ bởi dấu phẩy.
- Vị ngữ thường đặt ở sau chủ ngữ, không bị tách khỏi chủ ngữ bởi dấu
phẩy.
Ví dụ:
Dân tộc Việt Nam / là một dân tộc anh hùng.
CN

VN
24


- Có câu đảo vị ngữ lên trước chủ ngữ tạo nên một trật tự không bình
thường, nhằm đạt hiệu quả tu từ, biểu cảm.
Ví dụ:
Vinh quang thay / dân tộc Việt Nam!
VN
CN
- Cũng có trường hợp xen vào giữa chủ ngữ, vị ngữ là thành phần chú giải
hoặc trạng ngữ.
Ví dụ:
(1) Pa-xcan,/ nhà toán học người Pháp,/ đã sáng chế ra chiếc máy tính đầu
CN
phần chú giải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status