A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Cơ sở lý luận
Giáo dục là nền tảng của xã hội, là cơ sở tiền đề để quyết định sự phồn
vinh của đất nước. Giáo dục cung cấp những hiểu biết về kho tàng tri thức của
nhân loại cho biết bao thế hệ, giúp cho các em những hiểu biết cơ bản, cần thiết
về khoa học và cuộc sống. Mặt khác, giáo dục còn góp phần hình thành và bồi
dưỡng nhân cách tốt đẹp cho học sinh, đặc biệt là giáo dục Tiểu học, đây là bậc
học mang tính chất nền móng để các em tiếp tục học tiếp các bậc học cao hơn.
Ở Tiểu học, Tiếng Việt vừa là môn học chính, vừa là môn công cụ giúp
học sinh tiếp thu các môn học khác. Trong đó Tập làm văn là một phân môn hết
sức quan trọng. Phân môn này có nhiệm vụ rèn cho học sinh cả bốn kĩ năng
nghe, nói, đọc, viết.
Chiếm một phần lớn trong phân môn Tập làm văn ở Tiểu học là văn miêu
tả. Văn miêu tả chia làm nhiều loại. Ở lớp 4, các em đã được học tả đồ vật, tả
cây cối, tả con vật Trong đó số tiết tập làm văn tả cây cối chiếm thời lượng
tương đối lớn so với tổng số tiết tập làm văn miêu tả ở lớp 4. Mục tiêu của phân
môn Tập làm văn lớp 4 không chỉ trang bị kiến thức và rèn luyện các kĩ năng
làm văn cho học sinh mà còn góp phần cùng các môn học khác mở rộng vốn
sống, rèn luyện tư duy lô-gíc, tư duy hình tượng, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc
thẩm mỹ, hình thành nhân cách cho các em.
Như chúng ta đã biết văn tả cây cối là loại văn căn cứ vào những điều
quan sát, ghi chép, cảm nhận được về đối tượng là cây cối trong thiên nhiên,
cảnh vật , dùng ngôn ngữ để vẽ ra hình ảnh chân thực của đối tượng đó, trình
bày theo bố cục hợp lí và diễn đạt bằng lời văn sinh động, khiến cho người đọc
người nghe cùng thấy, cùng cảm nhận như mình.
Khi thực hiện viết một bài văn miêu tả học sinh phải tiến hành theo các
bước sau:
- Quan sát, tìm ý
- Lập dàn ý
- Vận dụng các kiến thức tổng hợp để viết đoạn
- Viết thành bài văn hoàn chỉnh
2. Giáo viên chưa thực sự chú ý đến việc hình thành cho các em thói quen
tích luỹ những hiểu biết về thế giới tự nhiên trong cuộc sống và trong văn học.
3. Việc giúp học sinh vận dụng kiến thức Tiếng Việt vào dạy Tập làm văn
còn hạn chế.
Thực tế: Khi viết văn thì việc sử dụng từ, viết câu rất quan trọng. Nhưng
khi dạy tập đọc giáo viên ít quan tâm đến việc rèn cho học sinh cảm nhận hoặc
chỉ ra những từ ngữ hay, những hình ảnh đẹp, những câu văn sinh động, hấp
dẫn, giàu cảm xúc của tác giả bài viết.
4. Một số giáo viên chưa thật sự chú ý đến việc dạy học sinh cách lập dàn
ý cho một bài văn.
5. Việc rèn kĩ năng viết bài cho học sinh chưa thường xuyên, hiệu quả.
b) Thực trạng của học sinh hiện nay:
1. Học sinh ngại học văn đặc biệt là làm bài tập về đặt câu, viết đoạn văn
và học phân môn Tập làm văn.
2. Vốn sống, thói quen và khả năng tích luỹ những hiểu biết về thế giới tự
nhiên trong cuộc sống và trong văn học còn hạn chế.
3. Mặc dù học sinh đã được thực hành luyện viết câu, đoạn văn ngắn khá
nhiều trong chương trình Tiếng Việt 2, 3 và viết bài văn có cấu tạo ba phần của
Tiếng Việt 4 nhưng việc viết câu văn, đoạn văn của học sinh còn rất hạn chế. Cụ
thể:
- Vốn từ học sinh còn nghèo nàn dẫn đến việc sử dụng từ còn lặp, vụng,
chưa đúng.
2
Ví dụ : Sân trường em rất rộng. Sân trường em có rất nhiều cây cho bóng
mát. Ở sân trường, em thích nhất là cây bàng. (lặp từ)
- Một số học sinh khá giỏi cũng chưa chú ý một cách “đúng mức” đến
việc tập viết câu giàu giá trị nghệ thuật.
- Học sinh còn rất hạn chế khi nối câu, tạo đoạn, liên kết đoạn để viết
thành bài văn hoàn chỉnh.
5/ Rèn kĩ năng viết bài văn cho học sinh.
II. Các biện pháp thực hiện
3
1/ Biện pháp thứ nhất: Trau dồi hứng thú cho học sinh khi tiếp xúc với
tác phẩm văn học
Như chúng ta đã biết, mỗi tác phẩm văn học là kết quả của sự bộc lộ đầy
tài năng, bộc lộ tâm tư tình cảm của người nghệ sĩ. Trong văn là sự chắt lọc tinh
tuý của cái hay, cái đẹp, sự phong phú giàu hình ảnh, sự khái quát của ngôn ngữ
Tiếng Việt qua cái tài của nhà văn. Nếu học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp
trong văn học thì học sinh rất thích học văn. Khi đó cảm xúc của các em dâng
cao và các em có khả năng sáng tạo văn, vận dụng vào viết bài văn của mình.
Để học sinh có lòng yêu thích văn học và có hứng thú khi viết văn nói
chung, văn tả cây cối nói riêng, tôi giúp học sinh hiểu được chỉ có sự yêu thích
văn học mới có sự nuôi dưỡng say mê. Cần thường xuyên đọc thơ, văn để bồi
dưỡng lòng yêu văn học, thấy được sự trong sáng, phong phú và đặc sắc của
ngôn ngữ dân tộc, nâng cao năng lực xúc cảm, trau dồi lòng hướng thiện và
muốn “làm thân” với văn thơ thì chúng ta phải có tấm lòng chân thật,
tình cảm thiết tha yêu mến văn thơ.
Làm thế nào để các em có điều kiện tiếp xúc nhiều hơn với thơ văn ?
Khi dạy Tập đọc tôi luôn giúp các em cảm nhận được cái hay, cái đẹp của
bài, cách dùng từ, đặt câu, cách sử dụng một số biện pháp nghệ thuật đồng thời
khuyến khích các em học thuộc lòng những đoạn văn, những bài thơ hay mà các
em yêu thích, kiểm tra những đoạn mà học sinh thích trong giờ học sau. Tôi có
thể cho học sinh diễn xuôi lại một số bài thơ tả cây cối, tả cảnh hay; cảm nhận
được những điều thú vị từ những mẩu chuyện vui do cách dùng từ trong tiết
luyện từ và câu. Những buổi sinh hoạt ngoại khoá tôi tổ chức cho các em thi
đọc những bài văn, bài thơ hay mà các em sưu tầm được ngoài sách giáo khoa,
giới thiệu về cảnh đẹp địa phương, những cuộc triển lãm nhỏ về tranh phong
cảnh của đất nước, để trau dồi cảm xúc cho các em.
quen quan sát hàng ngày. Quan sát và tự đặt câu hỏi để giải đáp, nhằm tìm hiểu
và khắc sâu vào trí nhớ những hình ảnh về cây cối, về cuộc sống xung quanh. Vì
vậy, khi dạy học giáo viên cần rèn học sinh thói quen quan sát, ghi chép, phát
hiện ra những đặc điểm tiêu biểu cụ thể của cây cối, của sự vật, hiện tượng
quanh mình.
Ví dụ: Học sinh có thể quan sát hai bên đường ta đi học có những loại
cây gì? Cây cối trong vườn, trên sân trường ra sao? Cảnh cây cối vào mùa đông
khác với mùa hè, buổi sáng khác với buổi chiều ở chỗ nào? Với từng loại cây cụ
thể, quen thuộc học sinh còn phải biết mùa ra hoa, kết trái, màu sắc hình dáng,
mùi hương của hoa lá. Tất cả những điều quan sát và ghi nhận được cần phải
chép lại vào một cuốn sổ tay. Không cần chép dài dòng, chỉ điểm qua những nét
chính, ngắn gọn. Sẽ rất thành công nếu khi quan sát chúng các em có được
những phát hiện bất ngờ thú vị. Những phát hiện này sẽ là điều kiện giúp cho bài
làm của các em thêm sáng tạo và độc đáo.
Nếu đối tượng miêu tả không xuất hiện trực tiếp hàng ngày trong cuộc
sống của các em thì làm sao có thể quan sát? Tôi định hướng cho học sinh biết
có nhiều nguồn để thu thập kiến thức thực tế cho mình. Các em có thể quan sát
qua những hình ảnh trên chương trình truyền hình, quan sát qua những bức tranh
phong cảnh, ảnh đẹp về cây cối, đọc những tác phẩm văn học có giá trị nghệ
thuật miêu tả đặc sắc Từ nhiều nguồn khác nhau đó, các em chắc chắn sẽ có
một vốn kiến thức thực tế hết sức phong phú.
Khi tiến hành quan sát để viết một bài văn cụ thể học sinh phải nắm được
yêu cầu và giới hạn của đề bài để tránh miêu tả đôi khi rất hay nhưng không
đúng trọng tâm của đề. Tôi gợi ý cho các em biết có rất nhiều loài cây, loài hoa
đẹp. Mỗi loài lại có một vẻ đẹp đặc sắc, riêng biệt. Từng loài cây cối lại đẹp nhất
vào một thời gian, thời điểm nào đó trong ngày nên các em có thể chọn tả vào
thời điểm đó để làm nổi bật vẻ đẹp riêng vốn có của từng loài và bài văn thêm
hay, thêm hấp dẫn lòng người.
Với bài tập đưa ra nhiều đề tài cho học sinh lựa chọn đối tượng miêu tả,
học sinh nên chọn một đối tượng nào đó phù hợp, gần gũi với cuộc sống của
tiến hành thường xuyên và dưới nhiều hình thức: Thông qua các giờ học Tiếng
Việt trong nhà trường, thông qua giao tiếp hàng ngày, thông qua quá trình đọc
sách, đọc tài liệu tham khảo có liên quan tới văn miêu tả. Nhưng chủ yếu thông
qua các phân môn của Tiếng Việt.
Muốn viết được bài văn ngoài yêu cầu về vốn từ phong phú còn đòi hỏi học
sinh phải hiểu nghĩa từ, tác dụng của từ, cách sử dụng từ. Trước khi viết đoạn
văn học sinh phải xác định được từ ngữ dùng để gọi tên sự vật cần tả cho phù
hợp, từ ngữ nào gợi tả được màu sắc, âm thanh, hình dáng của những sự vật
được chọn tả.
Ví dụ: Khi tả cây ăn quả, tôi đã gợi ý để học sinh tìm ra những từ chỉ màu
sắc thích hợp để tả quả khi chín như: vàng tươi, vàng mọng, vàng ươm, đỏ
mọng, đỏ rực, Còn khi tả cây đang lên xanh tốt học sinh phải chọn nhóm từ
chỉ sắc xanh của lá: xanh non, xanh mượt mà, xanh thẫm,
6
Điều cần lưu ý là phải luôn có thói quen tìm từ gợi hình, biểu cảm và phải
chọn từ ngữ phù hợp với đối tượng, với văn miêu tả. Muốn làm nổi bật hình ảnh
của đối tượng thì chú ý nhiều tới hệ thống từ tượng hình (tả màu sắc, hình dáng,
trạng thái ), muốn làm nổi bật không khí thì sử dụng hệ thống từ tượng thanh
(mô phỏng các tiếng động ) hay từ ngữ nói lên tình cảm, sự chăm sóc của con
người đối với cây cối (tưới nước, vuốt ve, nâng niu, ). Bài văn miêu tả thiếu đi
các từ ngữ có sức tạo hình, gợi cảm thì chắc chắn sẽ không thể hay. Nhưng cũng
cần ý thức được rằng nếu dùng từ ngữ, hình ảnh tuỳ tiện hoặc khuôn sáo, bắt
chước một cách lộ liễu thì cách miêu tả cũng không có sức thuyết phục. Cụ thể
ngôn ngữ trong văn miêu tả phải thật chính xác. Dùng từ hay không có nghĩa là
từ đó phải “kêu”. Dùng từ phong phú không có nghĩa là liệt kê ra thật nhiều.
Điều quan trọng là người tả cần chọn đúng từ ngữ diễn tả chính xác nhất cái
thần, cái hồn của đối tượng miêu tả.
VD: Cùng tả về hoa gạo có em viết:
Những bông hoa gạo đỏ rực như lửa.
Trước khi viết, học sinh phải lựa chọn được những chi tiết, sự vật nào có
thể miêu tả theo cách so sánh hay nhân hoá. Chọn được sự vật rồi ta mới lựa
chọn xem so sánh với cái gì và nhân hóa như thế nào ?
Ví dụ: Bài tả cây cam đang mùa quả chín.
Câu văn : Những chùm cam chín vàng trông thật là ngon.
Học sinh có thể viết thành: Những chùm cam chín vàng óng, da căng
mọng như mời gọi mọi người đến thưởng thức.
Sử dụng biện pháp so sánh, nhân hoá giáo viên cần chú ý học sinh dựa
trên dấu hiệu nhận biết để viết. Câu có sử dụng biện pháp tu từ không chỉ phù
hợp ở dấu hiệu bên ngoài mà cần có nội dung phù hợp thực tế.
Khi sử dụng các nghệ thuật trên trong bài văn miêu tả, chúng ta cần lưu ý
rằng những nghệ thuật ấy chỉ thực sự có tác dụng nếu được dùng đúng lúc, đúng
chỗ, hợp văn cảnh. Ngược lại nếu dùng nghệ thuật ấy một cách máy móc, sáo
mòn thì nó làm giảm giá trị của bài văn miêu tả rất nhiều. Mặt khác nếu dùng
quá lạm dụng cách nói so sánh, nhân hoá mà ít tả thực thì chắc chắn cảm giác
thích thú ban đầu của người đọc sẽ giảm dần, thậm chí dẫn tới sự khó chịu, nhất
là khi gặp những hình ảnh nhạt nhẽo, vô vị.
3.3/ Vận dụng dùng từ, đặt câu
Cách đặt câu trong văn miêu tả đòi hỏi người viết phải linh hoạt, công phu.
Có thể là câu dài với đầy đủ các thành phần chính phụ, có nhiều tầng ý nối tiếp.
Cũng có thể là những câu ngắn (câu đặc biệt ). Vì vậy học sinh phải biết chọn
kiểu câu phù hợp với hoàn cảnh, với tình huống, nội dung miêu tả, và cả cảm
xúc của người miêu tả nữa.
- Kiểu câu dài, nhiều tầng ý, nhiều vế nối nhau thường phù hợp với việc
miêu tả khung cảnh thiên nhiên êm đềm, yên ả, hoặc những hoạt động diễn ra
nhẹ nhàng, liên tiếp nhau, hoặc khi cảm xúc của con người đang dâng trào, tuôn
chảy.
- Kiểu câu ngắn (câu đặc biệt ) với các dấu câu (chấm than, chấm hỏi,
chấm lửng ) thường dùng để diễn tả những cảm xúc mạnh, những tình huống
bất ngờ, những hoạt động diễn ra nhanh gọn, liên tục.
với con người hơn.
Vì vậy khi lập dàn ý chỉ chọn những chi tiết, đặc điểm tiêu biểu nhất để
đưa vào dàn ý và viết ngắn gọn dưới các từ ngữ, cụm từ. Để học sinh quen dần
với việc khai thác tư liệu ghi chép được khi quan sát, giáo viên cần nêu những
câu hỏi gợi mở khi sắp xếp các ý đã quan sát chung cho các bài tả cây cối như
sau:
- Tả cây gì?
- Tả cây theo trình tự nào?
- Cây đó có những bộ phận nào, đặc điểm nổi bật của từng bộ phận?
- Mỗi đặc điểm (bộ phận lớn) gồm mấy chi tiết cần được tả?
- Mỗi chi tiết liên quan đến sự vật nào?
Trả lời được câu hỏi đó là học sinh nắm được đầy đủ nội dung của dàn ý.
Ví dụ với đề bài: Tả cây bàng ở sân trường em.
1. Mở bài : Giới thiệu cây bàng ở sân trường em
2. Thân bài:
* Tả theo trình tự thời gian
- Tả cây vào các mùa trong năm (gồm 4 phần lớn):
+ Mùa xuân.
9
+ Mùa hạ.
+ Mùa thu .
+ Mùa đông.
* Mỗi phần lớn gồm các chi tiết:
+ Mùa xuân: cành, lá, chim chóc,
+ Mùa hạ: lá và hoa,
+ Mùa thu: lá , quả,
+ Mùa đông: lá, cành cây,
* Các chi tiết liên quan đến sự vật: mưa xuân, nắng mùa hạ, gió mùa thu,
chim chóc, ong bướm, âm thanh của tiếng chim, Đặc biệt là con người cùng
10
* Cách kết bài: Có thể kết bài bằng một câu văn tả.
Ví dụ: Kết bài cho bài văn tả cây chuối đang có buồng: Chuối mẹ đứng đó
như đang thao thức cùng trời đêm để canh cho đàn con ngủ say giấc nồng.
Cũng có thể kết bài bằng một vài lời tâm tình trực tiếp với đối tượng được
miêu tả.
Ví dụ: Kết bài cho bài văn tả cây hoa hồng: Cảm ơn hồng nhung nhé! Hồng
nhung là món quà quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người.
5.2/ Dạy viết phần thân bài
Thông thường, khi làm văn, học sinh chia bài làm ba phần: Mở bài, thân
bài, kết bài. Do đó, ứng với ba phần thường là ba đoạn văn. Mở bài và kết luận
ngắn, thân bài thì dài. Dù nội dung văn nghèo nàn hay phong phú, dù lượng bài
văn ngắn hay dài, dù đối tượng miêu tả ít hay nhiều, phần thân bài cũng chỉ có
một đoạn. Đây là hạn chế đáng tiếc mà ta bắt gặp trong bài làm của học sinh. Vì
vậy giáo viên phải giúp học sinh khắc phục hạn chế này bằng cách nào ?
Điều trước tiên là phải xác định những ý cần triển khai trong nội dung bài văn
miêu tả để chia thân bài thành các đoạn văn tương ứng. Có nhiều cách để chia
đoạn trong bài văn tả cây cối.
Chia đoạn theo trình tự thời gian: Học sinh đặt đối tượng miêu tả vào các
khoảng thời gian khác nhau trong một năm thì theo bốn mùa: xuân, hạ, thu
đông; trong một ngày thì có sáng, trưa, chiều, tối.
Chia đoạn theo trình tự không gian : Học sinh quan sát đối tượng từ nhiều
góc độ, nhiều hướng khác nhau: Từ xa nhìn lại, từ ngoài nhìn vào, từ trong nhìn
ra, từ trên nhìn xuống, từ dưới nhìn lên, nhìn bên trái, nhìn bên phải, nhìn phía
trước, nhìn phía sau, nhìn toàn bộ hay nhìn chi tiết,
Chia đoạn theo đối tượng được miêu tả: Ví như tả gốc, thân, cành lá, hoa
quả, cảnh vật xung quanh,
Chia đoạn rồi thì phải suy nghĩ cách triển khai ý trong từng đoạn. Thông
thường, toàn bộ phần thân bài triển khai trong một đoạn văn thì nhiều khi chỉ
cần liệt kê các bộ phận của cây cũng có thể tạo thành đoạn (dù rằng nội dung
- Giáo viên chấm, nhận xét.
Ví dụ: Tiết 2 - tuần 26, Tả một cây có bóng mát (hoặc cây ăn quả, cây hoa)
mà em yêu thích.
+ Bước 1: Học sinh đọc yêu cầu đề bài.
Giáo viên hỏi: Bài yêu cầu gì? (Học sinh trả lời, giáo viên gạch dưới
những từ ngữ quan trọng: cây có bóng mát, cây ăn quả, cây hoa, yêu thích).
+ Bước 2: Giáo viên yêu cầu khoảng 2- 3 học sinh khá giỏi trình bày
miệng những điều mình đã quan sát được.
Lưu ý khi quan sát :
Để tiện cho việc tả từ bao quát đến cụ thể, em nên chọn góc độ từ xa đi
đến gần. Từ xa, những gì đã hiện lên; lại gần để tả từng bộ phận của cây nhưng
cần chú ý đến tả bóng mát
Cây cối gắn liền với nắng gió, chim chóc, với cả mùa nữa Vào mùa nào
cây đang có nhiều lá và cho bóng mát, cây đang ra hoa? Rồi âm thanh? Hãy
lắng nghe xem có những gì? (tiếng chim, tiếng người, tiếng gió thổi, ) Những
ai có mặt và đang làm gì ? Cây đó gắn với kỉ niệm nào của em?
+ Bước 3: Giáo viên yêu cầu học sinh lập dàn ý (giáo viên theo dõi giúp
đỡ học sinh còn yếu). Học sinh sắp xếp các ý đã quan sát thành dàn ý.
+ Bước 4 : Học sinh chuyển dàn ý thành bài văn (Có thể chỉ là một đoạn
văn).
+ Bước 5: Đánh giá
* Những vấn đề cần chú ý khi yêu cầu học sinh viết văn tả cây cối:
12
Đối với học sinh bài văn tả cây cối có thể coi là một bức tranh bằng ngôn
ngữ. Khi viết học sinh có thể chọn một trong số các trình tự tả: Theo trình tự
thời gian, không gian, số lượng các bộ phận được tả, Bức tranh tả cây cối hay
tả cảnh thiên nhiên không bao giờ ở dạng tĩnh mà luôn có sự thay đổi, vì vậy khi
tả phải làm nổi bật được sự thay đổi này (mùa này khác mùa kia, buổi sáng khác
buổi chiều, )
từ nào sử dụng chưa hợp lý, câu nào viết chưa đúng thì yêu cầu học sinh sửa lại.
Có thể cho học sinh ghi lại những câu văn hay để học tập).
+ Việc liên kết các câu, liên kết đoạn đã phù hợp chưa?
13
Sau đó, đối với những bài viết chưa tốt tôi yêu cầu các em về nhà viết lại
bài, giáo viên vẫn tiếp tục kiểm tra, cần khích lệ học sinh.
III/ Kết quả của việc thực hiện các biện pháp
Sau khi thực hiện các biện pháp trên trong năm học vừa qua tôi
nhận thấy về mặt chuyên môn tôi hiểu biết thêm nhiều và tự tin,
không còn thấy ngại trong giờ dạy Tập làm văn cho học sinh nhất
là văn tả cây cối. Tôi càng vui hơn khi thấy học sinh của mình có
nhiều tiến bộ, những kiến thức đã học phần lớn các em vận dụng tốt
trong việc viết văn tả cây cối, các em đã bắt đầu yêu thích giờ học
văn. Chính vì thế chất lượng các bài văn của học sinh đã được nâng
lên một cách rõ rệt.
Cụ thể : Qua khảo sát kết quả cuối năm học 2011 - 2012 cũng với đề bài:
Hãy tả một cây ở sân trường gắn với nhiều kỷ niệm của em. Kết quả thu được
như sau:
Số
H
S
30
HS đạt
điểm giỏi
HS đạt
điểm khá
HS đạt
điểm TB
HS đạt
tự nhiên trong cuộc sống và trong văn học bằng cách giao việc về nhà sưu tầm,
quan sát, lắng nghe rồi viết những điều quan sát, nghe thấy trong cuộc sống vào
phiếu học tập.
d) Dạy học sinh biết vận dụng kiến thức Tiếng Việt vào viết văn miêu tả
đặc biệt là văn tả cây cối.
e) Giáo viên cần chú ý rèn cả kỹ năng nghe - nói - đọc - viết cho học sinh
khi dạy văn.
Việc hướng dẫn học sinh viết văn tả cây cối đạt kết quả cao không phải
một sớm một chiều, một tiết học nhất định. Vì thế người giáo viên cần phải có
lòng kiên trì và sự say mê nghiên cứu văn học.
* Đối với học sinh :
- Các em phải có ý thức tự học, tự rèn luyện đặc biệt là học viết văn để
còn tiếp tục học lên các bậc học trên.
- Đặc biệt các em phải trau dồi cho mình lòng say mê, yêu thích văn học.
- Chăm chỉ tìm tòi và đọc nhiều loại sách để bồi dưỡng tâm hồn, mở mang
sự hiểu biết về tự nhiên và thế giới xung quanh.
II. Những kiến nghị, đề xuất
1/ Đề xuất với tổ chuyên môn và nhà trường:
Tổ chức có hiệu quả các buổi sinh hoạt chuyên môn (Tăng cường dự giờ,
trao đổi kinh nghiệm, ), bổ sung và tăng cường sử dụng các tài liệu tham khảo
về dạy văn ở Tiểu học.
Tạo điều kiện để giáo viên tham gia hội thảo, dự giờ hội thi Giáo viên giỏi
cấp huyện, cấp tỉnh.
2/ Đề xuất với Phòng giáo dục:
- Đối với những sáng kiến của các đồng chí giáo viên trong ngành có giá
trị áp dụng trong giảng dạy Phòng giáo dục cần in thành tập san để các trường
học tập những kinh nghiệm quý báu.
- Có sự khuyến khích động viên đối với những giáo viên có những sáng
kiến kinh nghiệm hay.
Trên đây là những kinh nghiệm của bản thân tôi trong việc “Nâng cao