SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HƯNG YÊN
TRƯỜNG THPT DƯƠNG QUẢNG HÀM
S¸NG KIÕN kinh nghiÖm
ĐỀ TÀI
HƯỚNG DẪN HỌC SINH THPT
CÁCH LÀM DẠNG ĐỀ SO SÁNH VĂN HỌC
Lĩnh vực nghiên
cứu : Ngữ văn
Tác giả: Lê Thị Quỳnh Sen
Chức vụ: Tổ trưởng tổ Văn- Thể dục- Quốc phòng
Tài liệu đính kèm: Phụ lục
1
Năm học 2013 - 2014
PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Điều 35 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi rõ:
“Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nhà nước phát triển giáo dục nhằm
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài...” Đại hội đại biểu toàn
quốc của Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX cũng khẳng định “ Phát triển giáo
dục đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát triển nguồn lực con người, yếu tố cơ
bản để phát triển xã hội, tăng cường kinh tế nhanh và bền vững...” Xác định được
nhiệm vụ quan trọng đó nên những năm qua Bộ giáo dục đã không ngừng đưa ra
nhiều giải pháp mang tính cải tiến để thúc đẩy phát triển giáo dục. Đứng trước thềm
muốn nâng cao chất lượng làm bài dạng so sánh văn học trong các kì thi của học
sinh THPT nói chung, học sinh trường THPT Dương Quảng Hàm nói riêng, nhất là
các em thi học sinh giỏi môn Văn, các em thi Đại học, cao đẳng khối C, khối D tự
tin hơn khi bước vào kì thi. Theo chúng tôi thiên chức của người giáo viên dạy văn
không chỉ giúp các em “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa
có” mà dạy cho các em phương pháp, kĩ năng làm bài vì thế mục đích chính của đề
tài này :
- Giúp học sinh hiểu thế nào là dạng đề so sánh văn học
- Các loại so sánh văn học thường gặp trong thi cử
- Phương pháp, cách thức làm dạng đề này đạt kết quả cao.
- Góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn
- Đề tài này cũng có thể coi tài liệu để các giáo viên tham khảo khi dạy các
tiết ôn tập, ôn thi tốt nghiệp, ôn thi đại học, ôn thi học sinh giỏi.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Học sinh trung học phổ thông
- Dạng đề so sánh văn học
IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3
Trong văn học thực tế có rất nhiều các dạng đề so sánh văn học mà tôi chưa
thể thống kê hết được. Song tôi đã cố gắng nghiên cứu và khái quát thành các dạng
đề thường gặp và đưa ra cách làm bài, ví dụ minh họa các bước khi làm dạng đề so
sánh.
Phạm vi nghiên cứu là các đề văn có dạng so sánh mà học sinh trung học
phổ thông (nhất là học sinh lớp 11, 12) thường gặp trong các kì thi như: So sánh hai
chi tiết trong tác phẩm văn học, so sánh hai đoạn thơ, so sánh hai đoạn văn, so sánh
hai hình tượng trong tác phẩm văn học...
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2. Khái niệm so sánh văn học cần phải được hiểu theo ba lớp nghĩa khác
nhau. Thứ nhất, so sánh văn học là “một biện pháp tu từ để tạo hình ảnh cho câu
văn” . Thứ hai, nó được xem như một thao tác lập luận cạnh các thao tác lập luận
như: phân tích, bác bỏ, bình luận đã được đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn 11. Thứ
ba, nó được xem như “một phương pháp, một cách thức trình bày khi viết bài nghị
luận”, tức là như một kiểu bài nghị luận bên cạnh các kiểu bài nghị luận về một
đoạn trích, tác phẩm thơ; nghị luận về một đoạn trích, tác phẩm văn xuôi… ở sách
giáo khoa Ngữ văn 12. Ở đề tài này chúng ta nghiên cứu vấn đề ở góc nhìn thứ ba.
3. So sánh là phương pháp nhận thức trong đó đặt sự vật này bên cạnh một
hay nhiều sự vật khác để đối chiếu, xem xét nhằm hiểu sự vật một cách toàn diện,
k lưỡng, r nét và sâu sắc hơn. Tuy nhiên, so sánh văn học như một kiểu bài nghị
luận văn học lại chưa được cụ thể bằng một bài học độc lập, chưa xuất hiện trong
chương trình sách giáo khoa. Vì vậy, từ việc xác lập nội hàm khái niệm kiểu bài,
5
mục đích, yêu cầu, đến cách thức làm bài cho kiểu bài này thực sự rất cần thiết
song lại gặp không ít khó khăn.
4. Kiểu bài viết so sánh văn học yêu cầu thực hiện cách thức so sánh trên
nhiều bình diện: đề tài, nhân vật, tình huống, cốt truyện, cái tôi trữ tình, chi tiết
nghệ thuật, nghệ thuật trần thuật… Quá trình so sánh có thể chỉ diễn ra ở các tác
phẩm của cùng một tác giả, nhưng cũng có thể diễn ra ở những tác phẩm của các
tác giả cùng hoặc không cùng một thời đại, giữa các tác phẩm của những trào lưu,
trường phái khác nhau của một nền văn học.
5. Mục đích cuối cùng của kiểu bài này là yêu cầu học sinh chỉ ra được chỗ
giống và khác nhau giữa hai tác phẩm, hai tác giả, từ đó thấy được những mặt kế
thừa, những điểm cách tân của từng tác giả, từng tác phẩm; thấy được vẻ đẹp riêng
của từng tác phẩm; sự đa dạng muôn màu của phong cách nhà văn. Không dừng lại
ở đó, kiểu bài này còn góp phần hình thành kĩ năng lí giải nguyên nhân của sự khác
...Để đất nước này là Đất Nước nhân dân”
(trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm)
+ Năm học 2011-2012: Đề ra cảm nhận về hai đoạn văn trong bài Vợ nhặt của Kim
Lân và Vợ chồng APhủ của Tô Hoài
+ Năm học 2012-2013: Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:
“Những đường Việt Bắc của ta
.....Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng” (Trích Việt Bắc – Tố Hữu)
“Ngày nắng đốt theo đêm mưa dội
.....Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”
+ Năm học 2013-2014: Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ trong bài Tràng
giang (Huy Cận) và bài Đây thôn Vĩ Dạ Hàn Mặc Tử)
- Đề thi đại học, cao đẳng của Bộ giáo dục:
+ Đề thi tuyển sinh đại học năm 2009, khối D (câu 3a) như sau:
Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật người vợ nhặt (Vợ nhặt Kim Lân) và nhân vật người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn
Minh Châu).
7
+ Đề thi tuyển sinh đại học khối C năm 2009: Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn
văn sau:
“Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình,..... lừ lừ cái màu
đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về”
(Người lái đò Sông Đà – Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12 Nâng cao)
“Từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, .....
.....“sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” như người Huế thường miêu tả”
(Ai đã đặt tên cho dòng sông – Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ văn 12 Nâng cao)
+ Đề thi Tuyển sinh đại học khối D (câu 3b) năm 2010: Cảm nhận của anh/chị về
chi tiết “bát cháo hành” mà nhân vật thị Nở mang cho Chí Phèo (Chí Phèo – Nam
Cao) và chi tiết “ấm nước đầy và nước hãy còn ấm” mà nhân vật Từ dành sẵn cho
Hộ (Đời Thừa – Nam Cao).
nhận xét những điểm thống nhất và khác biệt của phong cách nghệ thuật Nguyễn
Tuân trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945).
Bài viết số 6 trong SGK Ngữ văn 12 cũng có đề so sánh về hai bài thơ của Nguyễn
Đình Thi và Nguyễn Khoa Điềm
3. Thực trạng đề thi có dạng so sánh xuất hiện phong phú như vậy nhưng
trong chương trình sách giáo khoa môn Ngữ văn của trung học phổ thông lại không
có một kiểu bài dạy riêng để hướng dẫn cho thầy cô giáo cũng như các em học sinh
nắm được phương pháp làm dạng đề nay một cách hiệu quả nhất. Chính vì vậy mà
như đã trình bày ở phần lí do chọn đề tài nhiều em học sinh tỏ ra rất lúng túng khi
đứng trước đề bài so sánh văn học, còn không ít thầy cô thì băn khoăn về phương
pháp làm bài. Đứng trước thực trạng đó, bằng kinh nghiệm của bản thân qua những
năm dạy đội tuyển học sinh giỏi, dạy chuyên đề đại học cũng như trao đổi với đồng
nghiệp, tôi đề xuất cách làm dạng đề so sánh này.
9
III. ĐỀ XUẤT CÁCH LÀM DẠNG ĐỀ SO SÁNH VĂN HỌC
1.Xác định các loại đề so sánh văn học thường gặp
Thực tế cho thấy dạng bài so sánh văn học có rất nhiều loại nhỏ. Bằng sự
trải nghiệm của bản thân và dựa vào tổng kết các đề thi của những năm gần đây,
tôi thống kê và khái quát lại thành những cấp bậc đề so sánh văn học cơ bản và đưa
ra một vài ví dụ mang tính chất minh họa cho mỗi loại nhỏ:
- So sánh hai chi ti t trong hai tác ph m văn học:
Ví dụ 1: Đề khối D 2010: So sánh chi tiết ấm nước đầy và còn ấm mà Từ dành
chăm sóc Hộ và chi tiết bát cháo hành của Thị Nở dành cho Chí Phèo
Ví dụ 2: Cảm nhận của anh/chị về chi tiết “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá!”
mà nhân vật Chí Phèo cảm nhận được sau đêm gặp thị Nở (Chí Phèo - Nam Cao,
Ngữ văn 11) và chi tiết “Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi” mà nhân vật
Mị nghe được trong đêm tình mùa xuân (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài, Ngữ văn 12)
cháo hành. Hắn ôm mặt khóc rưng rức...” ( Chí Phèo –Nam Cao)
- So sánh hai nh n v t
Ví dụ 1: Đề thi đại hoc –khối C 2009 Vẻ đẹp khuất lấp của: người vợ nhặt trong Vợ
nhặt của Kim Lân và người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa của
Nguyễn Minh Châu.
Ví dụ 2: So sánh nhân vật Đan Thiềm trong trích đoạn Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài
của Nguyễn Huy Tưởng và viên quản ngục trong Chữ Người tử tù của Nguyễn
Tuân.
Ví dụ 3: Bi kịch của Vũ Như Tô (Vũ Như Tô – Nguyễn Huy Tưởng) và Hộ (Đời
thừa – Nam Cao)
- So sánh cách k t thúc hai tác ph m:
Ví dụ 1: Đề thi đại học 2012: So sánh kết thúc tác phẩm truyện ngắn Chí Phèo của
Nam Cao và kết thúc tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân
Ví dụ 2: So sánh cách kết thúc hai tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam và Chí
Phèo của Nam Cao
- So sánh phong cách tác giả:
11
Ví dụ: So sánh Chữ người tử tù (Ngữ văn 11, tập một) với Người lái đò Sông Đà,
nhận xét những điểm thống nhất và khác biệt của phong cách nghệ thuật Nguyễn
Tuân trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945.
- So sánh, đánh giá hai lời nh n định về một tác ph m
Đề thi đại học khối C năm 2013 cũng có thể xem là một dạng của so sánh: Về hình
tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng có ý kiến cho rằng: người
lính ở đây có dáng dấp của tráng sĩ thuở trước; ý kiến khác thì nhấn mạnh: hình
tượng người lính mang đậm vẻ đẹp của người lính thời kì kháng chiến chống
Pháp.Từ cảm nhận của mình về hình tượng này, anh chị hãy bình luận những ý
kiến trên.
Đề thi đại học 2013 yêu cầu người viết hiểu đúng, hiểu sâu nhưng quan trọng là tự
- Giới thiệu khái quát về các đối tượng so sánh
Thân bài
- Làm r đối tượng so sánh thứ 1 (bước này vận dụng kết hợp nhiều thao tác
lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích)
- Làm r đối tượng so sánh thứ 2 (bước này vận kết hợp nhiều thao tác lập
luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích)
- So sánh:
+ Nhận xét nét tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng trên cả các bình diện
như chủ đề, nội dung hình thức nghệ thuật...(bước này vận dụng kết hợp nhiều thao
tác lập luận nhưng chủ yếu là thao tác lập luận phân tích và thao tác lập luận so
sánh)
+ Lý giải sự khác biệt: Thực hiện thao tác này cần dựa vào các bình diện: bối cảnh
xã hội, văn hóa mà từng đối tượng tồn tại; phong cách nhà văn; đặc trưng thi pháp
của thời kì văn học…(bước này vận nhiều thao tác lập luận nhưng chủ yếu là thao
tác lập luận phân tích)
K t bài:
- Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu
- Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân.
*Cách 2: Phân tích song song được hiểu song hành so sánh trên mọi bình diện của
hai đối tượng. Cách này hay nhưng khó, đòi hỏi khả năng tư duy chặt chẽ,
13
lôgic, sự tinh nhạy trong phát hiện vấn đề học sinh mới tìm được luận diểm của bài
viết và lựa chọn những dẫn chứng tiêu biểu phù hợp của cả hai văn bản để chứng
minh cho luận điểm đó. Ví dụ, khi so sánh hai bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình
Thi và trích đoạn Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm. Ứng dụng cách viết này học
sinh không phân tích lần lượt từng tác phẩm như cách một mà phân tích so sánh
song song trên các bình diện: Xuất xứ - cảm hứng - hình tượng - chất liệu và giọng
3. Hướng dẫn thực nghiệm
Để minh họa cho các bước làm một đề so sánh văn học tôi đưa ra hai ví dụ
để ứng dụng. Ví dụ 1 sẽ được làm theo cách làm bài số 1 – Phân tích nối tiếp; ví dụ
2 sẽ được làm theo cách làm bài số 2 – Phân tích song song. Hai ví dụ được vận
dụng xuyên xuốt trong phần thực nghiệm để chúng ta kiểm chứng lại lí thuyết về
cách làm bài và tiện đối chiếu mặt mạnh, mặt yếu của từng cách làm.
* Ví dụ 1: Sự tư ng phản giữa ánh sáng và bóng tối trong truyện ngắn Hai đứa
trẻ của Thạch Lam và Chữ người tử tù của Nguyễn Tu n.
* Ví dụ 2: Hình tượng người lính trong thời kì kháng chi n chống Pháp qua
hai bài th Tây Tiến của Quang Dũng và Đồng chí của Chính Hữu.
3.1. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề
- Thông thường giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề qua ba ý
+ Xác định kiểu đề
+ Nội dung, ý cơ bản
+ Phạm vi dẫn chứng
Nếu chỉ dừng lại ở lẽ thường trên thì có lẽ chưa đủ với cách tìm hiểu đề
của dạng so sánh này. Bởi thực tế cho thấy nhiều em học sinh chỉ cần đọc qua đề
xác định đó đúng là dạng đề so sánh văn học là bắt tay vào viết ngay, gặp gì viết
lấy, cốt bài dài dài là được. Ví dụ cứ thấy đề bàn về nhân vật nào, tác phẩm nào là
mang tất cả những gì hiểu biết về tác phẩm ấy đưa vào bài viết. Thực ra thì hoàn
toàn không phải là thế. Mỗi đề văn, nhất là đề văn hay phải vừa “lạ” vừa “quen”,
người ra đề ngoài những yêu cầu bình thường còn cài đặt trong đó một ẩn ý sâu xa
mà học sinh chịu khó tìm hiểu, suy nghĩ mới có thể đáp ứng được yêu cầu. Chính vì
vậy mà ngay bước khởi đầu này giáo viên cần lưu ý các em phải biết cách nhận
thức đề cho đúng và trúng – nghĩa là tìm cho đúng trọng tâm yêu cầu đề.
15
- Thường đề hỏi theo hai cách: dạng hỏi có định hướng (có luận điểm sẵn
ít khi có một lời đáp duy nhất, nhất là các dạng đề mở. Tuy nhiên, nói như thế
không có nghĩa là trước một đề văn ai nói gì thì nói mà ta cũng phải tuân thủ theo
những nguyên tắc nhất định. Một bài văn làm theo hình thức tự luận thì bất kì đề
thi thuộc kiểu, dạng gì cũng thường có đủ ba phần: Đặt vấn đề (mở bài), giải quyết
vấn đề (thân bài), kết thúc vấn đề(kết bài).
- Nội dung tiếp theo của SKKN tôi sẽ giới thiệu cách làm ba phần trong
một bài viết, có dàn ý chi tiết minh họa cho hai cách làm bài như đã trình bày ở
trên. Còn bài viết chi tiết tôi sẽ minh chứng bằng bài viết của học sinh ở phần Phụ
lục của SKKN
3.2.1.Đặt vấn đề
- Không phải không có lí khi có ý kiến cho rằng: văn hay chỉ cần đọc mở
bài. Tất nhiên nếu chỉ đọc mở bài thì không thể đánh giá được toàn bộ bài văn.
Nhưng mở bài có tầm quan trọng thực sự đối với bài viết. Người ta thường nói
“Vạn sự khởi đầu nan”. Khi viết văn có được một mở bài hay, tự nhiên “dòng văn”
như được khơi chảy, tuôn trào. Mở bài lúng túng, trục trặc sẽ khiến bài văn thiếu
sinh khí, văn phong không liền mạch, ý tứ sẽ trở nên rời rạc.
- Đối với dạng đề so sánh văn học, học sinh càng lúng túng hơn khi viết
mở bài vì liên qua tới hai tác giả, hai tác phẩm. Qua thực tế chấm bài của học sinh
làm tôi thấy nhiều học sinh mở bài so sánh chưa đúng nguyên tắc. Các em thường
mắc phải lỗi giới thiệu tuần tự hai tác giả, hai tác phẩm một cách rời rạc khiến
người chấm có cảm giác như có hai mở bài. Vì vậy dạy đề văn dạng này giáo viên
cần lưu ý cho học sinh cách mở bài:
+ Các em nên bắt đầu từ những điểm chung có liên quan đến hai tác giả,
hai tác phẩm, thời đại, đề tài, các nhận định liên quan...để dẫn dắt vào vấn đề
+ Để có một mở bài hay các em cần mở bài ngắn gọn, đầy đủ (các thông
tin cơ bản), độc đáo (gây được sự chú ý của người đọc về vấn đề mình sẽ viết) và
phải tự nhiên.
17
+ Sau đó cần nhận xét, đối chiếu để chỉ ra điểm giống và khác nhau. Bước này đòi
hỏi học sinh cần có sự quan sát tinh tường, phát hiện chính xác và diễn đạt thật nổi
bật, r nét, tránh nói chung chung, mơ hồ.
Khi nhận xét về điểm giống và khác nhau, giáo viên cũng cần định hướng cho các
em tìm trên các bình diện để so sánh như :
-> Thời đại, hoàn cảnh ra đời
-> Đề tài, chủ đề
-> Phong cách sáng tác
-> Nội dung tư tưởng
-> Đặc sắc nghệ thuật
->Vị trí đóng góp của tác phẩm, tác giả.....
Nếu các em đối chiếu hai đối tượng (văn bản) được so sánh trên các bình
diện trên để khái quát vấn đề chắc chắn các em sẽ tìm thấy điểm giống và khác
nhau. Vì người ra đề thi dạng so sánh thường dựa trên những vấn đề có liên quan
tới nhau để ra đề.
+ Cuối cùng là đánh giá, nhận xét và lí giải nguyên nhân của sự giống và khác nhau
đó. Bước này đòi hỏi những tiêu chuẩn chắc chắn và bản lĩnh vững vàng cùng
những hiểu biết sâu sắc ngoài văn bản để tránh những suy diễn tùy tiện, chủ quan,
thiếu sức thuyết phục. Đây là một luận điểm khó nhất trong bài viết nên không nhất
thiết đề thi nào cũng yêu cầu học sinh phải làm được, mà chỉ là khuyến khích học
sinh tìm ra để thưởng điểm. Vì vậy giáo viên cũng không nên quá nặng nề khi đạt
ra yêu cầu thực hiện ở học sinh. Thực tế cho thấy đa phần đáp án đề thi đại học, cao
đẳng, đề thi học sinh giỏi những năm qua cũng không bắt buộc phải có ý này.
* Ví dụ 1:
- Ph n tích đối tượng so sánh 1: Sự tư ng phản giữa ánh sáng và bóng tối
trong truyện ngắn Hai đứa trẻ
+ Bóng tối: Dày đặc, bao trùm cả phố huyện và được lặp đi, lặp lại nhiều lần: Một
đêm mùa hạ êm như nhung; đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối;
20
-> Kết quả của sự tương phản giữa ánh sáng và bóng tối là sự chiến thắng của thiên
lương con người trước cái xấu cái ác, trước cái cao cả với cái thấp hèn…
- Nh n xét điểm tư ng đồng và khác biệt
+Điểm tư ng đồng
+ Cả hai tác giả đều sử dụng ánh sáng và bóng tối - một thủ pháp nghệ thuật tương
phản, đối lập mà văn học lãng mạn hay sử dụng nhằm tạo tình huống truyện. Đây là
các chi tiết nhỏ nhưng góp phần chuyển tải nội dung tư tưởng, chủ đề tác phẩm
+Ánh sáng và bóng tối trong hai tác phẩm tác phẩm vừa mang ý nghĩa tả thực vừa
mang ý nghĩa biểu tượng cao. Bóng tối tượng trưng cho cái xấu, còn ánh sáng
tượng trưng cho cái tốt.
+ Điểm khác biệt
+ Sự tương phản gữa ánh sáng và bóng tối được xây dựng trên sự đối lập gay gắt,
có sự chuyển biến bất ngờ, đột ngột. Thủ pháp nghệ thuật này dẫn dắt tình huống
truyện đi đến kết thúc là sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối, của chân lí,
cái đẹp, cái thiên lương với cái xấu cái ác. Qua đó nhà văn thể hiện r thái độ trân
trọng cái Đẹp
+Sự tương phản giữa ánh sáng và bóng tối không có sự chuyển biến bất ngờ. Ánh
sáng của phố huyện nhỏ bé, ánh sáng từ đoàn tàu qua nhanh nên ánh sáng chỉ càng
làm cho bóng tối trở nên dày đăc hơn, tô đậm thêm cái ngột ngạt, tăm tối của cuộc
sống nơi đây. Qua đó nhà văn bày tỏ lòng cảm thông đối với những con người nhỏ
bé, đặc biệt là số phận trẻ thơ trong xã hội cũ- những con người sống trong tăm tối
nhưng không nguôi hướng về ngày mai tươi sáng.
+Lí giải sự khác biệt
Cả hai nhà văn đều xuất hiện trong giai đoạn văn học 1930-1945, trong một xã hội
đầy biến động tuy nhiên phong cách sáng tác khác nhau
Nguyên Tuân: Đại biểu của dòng văn học lãng mạn, một nhà văn xuốt đời
canh gác ( Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới; Đầu súng trăng treo)
- Khác nhau:
+Lu n điểm 1: Bút pháp
22
Hình tượng người lính “Tây Tiến” được vẽ bằng bút pháp lãng mạn
Hình tượng người lính trong bài Đồng chí được thể hiện bằng bút pháp tả
thực
+ Lu n điểm 2: Hoàn cảnh xuất th n
Người lính Tây Tiến ra đi từ những phố phường, mái trường, công sở, là
những thanh niên tri thức hà thành nên họ mang theo vào cuộc chiến đấu giấc mơ
của một tâm hồn lãng mạn (Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm)
Người lính trong Đồng chí xuất thân từ những mái tranh nghèo, từ những
vùng quê, đất mặn đồng chua, đất cày lên sỏi đá (Quê hương anh nước mặn đồng
chua; Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá) nên họ mang vào cuộc chiến đấu cái dáng
vẻ lam lũ của những miền quê.
+ Lu n điểm 3: Vẻ đẹp của t m hồn:
Người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp hào hùng nhưng cũng rất hào hoa (Mắt
trừng gửi mộng qua biên giới./Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm) Tâm hồn bay bổng
trước vẻ đẹp của thiên nhiên (Heo hút cồn mây súng ngửi trời). Một tâm hồn nghệ
sĩ trong sinh hoạt tinh thần (Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa; Kìa em xiêm áo tự
bao giờ; Khèn lên man điệu nàng e ấp; Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ)
+ Vẻ đẹp tâm hồn của người lính trong Đồng chí lại được nhấn mạnh đến tình đồng
chí đồng đội giữa những người lính . Cơ sở làm nên tình cảm của họ là có chung
một hoàn cảnh nghèo khổ nên họ dễ đồng cảm, có chung một chí hướng (Đêm rét
chung chăn thành đôi tri kỷ), chung tấm lòng yêu quê hương đất nước... Chính tình
đồng đội, đồng chí đó đã tạo nên sức mạnh chiến đấu.
3.2.3 K t thúc vấn đề
- Kết bài là khâu cuối cùng để hoàn thành bài viết. Trải qua khâu chấm thi
học sinh có thể kết hợp vừa so sánh vừa lí giải... .Vấn đề cốt tủy của mọi bài nghị
luận là làm thế nào để vừa “đúng” vừa “trúng” vừa “hay”. Nguyên tắc trình bày
một bài nghị luận so sánh văn học cũng không đi ra ngoài mục đích đó.
24
3.3. Một số đề luyện t p tham khảo
Phần này tôi giới thiệu một số đề so sánh văn học và gợi ý đáp án để
chúng ta cùng tham khảo khi hướng dẫn ôn tập cho học sinh. Vì dung lượng có hạn
của một sáng kiến kinh nghiệm nên tôi không trình bày đầy đủ các ý cần có theo
yêu cầu đề mà chủ yếu gợi ý điểm giống và khác nhau – luận điểm khó nhất của bài
viết. Thiết nghĩ các luận điểm khác học sinh có thể làm tốt được.
Đề 1: Cảm nh n về bài th Độc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du và bài th Đàn
ghi ta của Lor- ca (Thanh Thảo)
Gợi ý
* Nét tư ng đồng:
- Đề tài: Hai bài thơ viết ở hai thời điểm khác nhau nhưng cùng hướng về một đề
tài: con người tài hoa bạc mệnh.
+Tiểu Thanh một người con gái tài sắc, làm lẽ, bị vợ cả ghen bắt ra ở một mình
trên núi Cô Sơn –Trung Quốc. Buồn khổ, nàng lâm bệnh và chết trong nỗi cô đơn
khi mới 18 tuổi. Tập thơ của nàng cũng bị người vợ cả ghen tuông đốt sạch.
+Thanh Thảo một nhân cách lớn, nhà thơ cách tân thiên tài của đất nước Tây Ban
Nha, người đã hát lên bằng thơ tiếng hát tự do nhưng đã bị bọn phát xít Phrăng-cô
sát hại, thủ tiêu mất xác.
- Cảm xúc: Hai bài thơ các tác giả cùng có chung một cảm xúc: thương cảm cho
những kiếp người tài hoa mà bạc mệnh, trân trọng và ngưỡng mộ tài năng của họ.
+Nguyễn Du thương cho nàng Tiểu Thanh tài sắc mà Nửa chừng xuân thoắt gãy
cành thiên hương
+Thanh Thảo cảm thương cho Lor-ca, người nghệ sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ đấu tranh cho