Các rào cản trong thương mại quốc tế và yêu cầu đối với hoạt động xuất khẩu của việt nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 35

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG
HỌC
NGOẠI
THƢƠNG
BỘĐẠI
GIÁO
DỤC
VÀ ĐÀO
TẠO
---------***--------TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
---------***---------

PHẠM XUÂN THỤY

Phạm Xuân Thụy

CÁC RÀO CẢN TRONG THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ YÊU CẦU
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦAVIỆT NAM TRONG
TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Các rào cản trong thƣơng mại quốc tế và yêu cầu đối với hoạt động
xuất
khẩu ngành:
củaViệt Kinh
Nam trong
hội hệ
nhập
kinh
tế quốc


MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾ TẮT
LỜI MỞ ĐẦU

1

CHƢƠNG I. TỔNG QUAN VỀ CÁC RÀO CẢN TRONG THƢƠNG MẠI
QUỐC TẾ

4

1.1 Khái niệm về rào cản trong thƣơng mại quốc tế

4

1.2 Sự hình thành và mục đích sử dụng các rào cản thƣơng mại quốc tế

6

1.2.1 Sự hình thành các rào cản trong thương mại quốc tế

6

1.2.2 Mục đích sử dụng các rào cản trong thương mại quốc tế

8

1.3 Các loại rào cản trong thƣơng mại quốc tế


1.3..2.4 Các biện pháp về vệ sinh và kiểm dịch động thực vật

18

1.3.2.5 Các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời

18

3.2.2.6 Quản lý tỷ giá hối đoái

19

1.3.2.7 Tỷ lệ nội địa hoá bắt buộc

19

1.3.2.8 Các biện pháp liên quan đến các doanh nghiệp nhà nước và
quyền kinh doanh thương mại

20

1.3.2.9 Các rào cản khác

20


3

1.4 Qui định của WTO về các rào cản trong thƣơng mại quốc tế


1.4.2.4 Các biện pháp kỹ thuật trong thương mại

28

1.4.2.5 Các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời

30

1.4.2.6 Qui định về mua sắm chính phủ

33

1.4.2.7 Các biện pháp khác

34

CHƢƠNG II. NGHIÊN CỨU CÁC RÀO CẢN TRONG THƢƠNG MẠI
QUỐC TẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
2.1 Rào cản thƣơng mại ở một số thị trƣờng xuất khẩu chính của Việt Nam
2.1.1 Các rào cản thương mại của thị trường Hoa Kỳ

36
36
36

2.1.1.1 Hàng rào thuế quan Hoa Kỳ

37


61


4

2.1.4.1 Rào cản thuế quan của các nước ASEAN

62

2.1.4.2 Rào cản phi thuế quan của các nước ASEAN

63

2.2 ảnh hƣởng của các rào cản thƣơng mại tại các thị trƣờng chính đến hoạt
động xuất khẩu của Việt Nam

66

2.2.1 ảnh hưởng của các rào cản thuế quan

66

2.2.2 Ảnh h-ëng cña c¸c rµo c¶n phi thuÕ quan

67

CHƢƠNG III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ NHẰM ĐỐI PHÓ VỚI
CÁC RÀO CẢN TRONG THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ, ĐẨY MẠNH XUẤT
KHẨU CỦA VIỆT NAM



3.1 Giải pháp cho các Hiệp hội ngành nghề

88

3.3 Giải pháp đối với các doanh nghiệp

91

KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO


5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Viết tắt

Tiếng Anh

Tiếng Việt

(Agreement on) Anti-Dumping
Practices

Hiệp định về chống bán phá giá

AFTA


Department of Commerce

Bộ Thương mại Hoa Kỳ

European Union

Liên minh Châu Âu

General Agreement on Tariffs
and Trade

Hiệp định chung về thuế quan và
thương mại

EU
GATT
GSP

Generalized System of
Preferences

Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập

ISO

International Standardization
Organization

Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế


Tổ chức Thương mại thế giới

NT
OECD

VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
TCVN

Tiêu chuẩn Việt Nam

TMQT

Thương mại quốc tế


6

LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Thương mại quốc tế, từ lâu, đã đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển
kinh tế ở mọi quốc gia. Thông qua thương mại quốc tế, các quốc gia tiến hành trao đổi
để phát huy hết các lợi thế và khắc phục các hạn chế của nền kinh tế nước mình. Tuy
nhiên, tham gia vào thương mại quốc tế không có nghĩa là tham gia vào một cuộc
chơi hoàn toàn bình đẳng, bởi vì, các quốc gia khi tham gia vào thương mại quốc tế
đều cố gắng phát huy hết khả năng để thu được lợi ích tối đa nhất nhưng đồng thời
cũng luôn bảo hộ thị trường cho các doanh nghiệp nội địa. Để làm được điều này
Chính phủ các quốc gia đã lập nên các hàng rào, cả hữu hình lẫn vô hình để ngăn cản
hàng hoá, dịch vụ từ nước ngoài thâm nhập và cạnh tranh với các doanh nghiệp trong
nước. Trong đó, các nước giàu, các nước có nền kinh tế phát triển, với các ưu thế của
mình lại là những nước áp dụng mạnh mẽ nhất các biện pháp này đối với hàng hoá từ

Đặc biệt, trong thời gian gần đây cũng đã có những công trình nghiên cứu lớn
đề cập đến vấn đề này, có thể nêu ra: “Bảo hộ hợp lý sản xuất và mậu dịch nông sản
trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế”- Đề tài nghiên cứu cấp bộ của
Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội (2002-2003), “Hệ thống rào cản kỹ thuật trong
thương mại quốc tế và những giải pháp để vượt rào cản kỹ thuật của các doanh nghiệp
ở Việt Nam”–Viện Nghiên cứu thương mại, Bộ Thương Mại (2001-2002), “Nghiên
cứu các rào cản trong thương mại quốc tế và đề xuất các giải pháp đối với Việt Nam”Bộ Thương Mại (2003-2004).
Tuy nhiên, với việc Việt Nam sẽ sớm trở thành thành viên của Tổ chức thương
mại thế giới (WTO) trong năm 2006 này người vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu các
rào cản trong thương mại quốc tế dựa trên các qui định của WTO để từ đó tạo đà cho
hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam vượt qua các rào cản, đẩy mạnh hoạt động xuất
khẩu của nước ta.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích các hình thức rào cản trong thương mại quốc tế, đặc biệt
là dựa trên các qui định của WTO, luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu các rào cản thương
mại ở các thị trường xuất khẩu chính mà hàng hoá của Việt Nam đang vấp phải cũng
như đề xuất các giải pháp để vượt rào cản, đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu


8

-

Chỉ ra và phân tích các rào cản đang được áp dụng trong thương mại quốc tế
dựa trên qui định của WTO

-


1.1

Khái niệm về rào cản trong thƣơng mại quốc tế

Khi tham gia vào thương mại quốc tế (TMQT), các quốc gia đều cố gắng phát
huy hết các lợi thế của mình, tận dụng các ưu thế trên thị trường quốc tế nhưng mặt
khác chính các quốc gia đó lại cũng phải đối mặt với những lợi thế của các quốc gia
khác là đối thủ cạnh tranh. Lợi thế cho quốc gia này đồng nghĩa với sự yếu thế cho
quốc gia khác. Để khắc phục, các quốc gia sẽ sử dụng một loạt các công cụ để điều
chỉnh hoạt động thương mại. Công cụ truyền thống và hiện vẫn được sử dụng phổ
biến hơn cả là đánh thuế nhập khẩu đối với hàng hoá của các quốc gia khác khi thâm
nhập vào thị trường trong nước, cùng với đó là hàng loạt các khoản thu, các qui định,
các chính sách nhằm hạn chế hàng hoá của nước ngoài xâm nhập thị trường nội địa.
Đối với nước xuất khẩu lúc này hàng hoá của họ sẽ phải đối mặt với một hàng rào mà
người ta gọi là rào cản thương mại.
Thuật ngữ “rào cản thương mại” (barriers to trade) hay “hàng rào thương mại”
đã được sử dụng khá phổ biến, được đề cập đến ở nhều nơi như trong phần
“UNDERSTANDING THE WTO: THE AGREEMENTS” của WTO hay trong các
nghiên cứu của Nhóm làm việc của Uỷ ban về thương mại thuộc Tổ chức Hợp tác và
Phát triển kinh tế (OECD). Tuy nhiên, cho đến nay, có thể nói rằng vẫn chưa có một
định nghĩa nào cụ thể về các rào cản trong thương mại. Trong Hiệp định về các rào
cản kỹ thuật đối với thương mại của WTO có một khái niệm về rào cản thương mại
nhưng mới chỉ dừng lại ở việc thừa nhận như một thoả thuận rằng “không một nước
nào có thể bị ngăn cản tiến hành các biện pháp cần thiết để đảm bảo chất lượng hàng
hoá xuất khẩu của mình, hoặc để bảo vệ cuộc sống hay sức khoẻ con người, động và
thực vật, bảo vệ môi trường hoặc để ngăn ngừa các hoạt động man trá, ở mức độ mà
nước đó cho rằng phù hợp và phải đảm bảo rằng các biện pháp này không được tiến
hành với cách thức có thể gây ra phân biệt đối xử một cách tuỳ tiện hoặc không thể
biện minh được giữa các nước, trong các điều kiện giống nhau, hoặc tạo ra các hạn


áp dụng bên trong biên giới; có biện pháp thuế quan và phi thuế quan; có biện pháp
môi trường và biện pháp vệ sinh dịch tễ; có biện pháp tự vệ đặc biệt và có biện pháp
mang tính tạm thời; có biện pháp chung nhưng cũng có biện pháp mang tính chuyên
ngành; có những biện pháp trực tiếp đối với hàng hoá xuất nhập khẩu và cũng có biện
pháp gián tiếp như đầu tư liên quan đến thương mại. Chính vì tính đa dạng và phức


11

tạp của các rào cản trong TMQT này đã đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu không chỉ bản
chất và thực tiễn áp dụng chúng mà phải nắm rõ được vai trò và mục tiêu của các
quốc gia khi xây dựng và áp dụng chúng.
1. 2 Sự hình thành và mục đích sử dụng các rào cản thƣơng mại quốc tế

1.2.1 Sự hình thành các rào cản trong thƣơng mại quốc tế
Rào cản thương mại nằm trong hệ thống các chính sách thương mại của các
quốc gia, chính vì vậy, cũng như các biện pháp khác chúng có vai trò chủ yếu trong
trong việc tác động và điều chỉnh hoạt động thương mại theo hướng có lợi nhất, đáp
ứng các mục tiêu và yêu cầu xác định của mỗi quốc gia.
Rào cản trong TMQT bao gồm nhiều loại khác nhau và mỗi loại rào cản lại có
vai trò nhất định riêng của nó. Ví dụ, cả rào cản thuế quan và rào cản phi thuế quan
đều có tác dụng bảo hộ sản xuất trong nước. Thuế quan thì có ưu điểm là rõ ràng,
minh bạch, có thể dự đoán và là nguồn thu quan trọng cho Chính phủ nhưng thuế
quan lại dễ làm sai lệch các tín hiệu thị trường dẫn đến phân bổ các nguồn lực không
hợp lý, hơn nữa thuế quan không có tính bảo hộ cao và kịp thời được như các biện
pháp phi thuế quan. Trong khi đó, các biện pháp phi thuế quan như cấm nhập khẩu,
hạn ngạch nhập khẩu, cấp giấy phép nhập khẩu... có tác dụng hạn chế nhập khẩu
nhanh chóng. Một biện pháp phi thuế quan có thể được áp dụng cho nhiều mục đích
khác nhau. Ví dụ, với các qui định về vệ sinh và kiểm dịch động thực vật vừa nhằm
mục đích bảo vệ sức khoẻ, bảo vệ cuộc sống của con người và động thực vật vừa có

bảo vệ an ninh quốc gia, đạo đức xã hội, bảo vệ sức khoẻ và cuộc sồng của con người
và động thực vật; đó cũng có thể là các rào cản nhằm đảm bảo lợi ích kinh tế của quốc
gia như áp dụng thuế quan, các khoản thu như phí và lệ phí chẳng hạn.
Trong trường hợp này, Chính phủ sẽ phải cân nhắc đến lợi ích của từng nhóm
thành phần xã hội cũng như tổng thể để quyết định có nên thực thi rào cản đó hay
không. Quá trình này không hề dễ dàng vì việc tính toán lợi ích và thiệt hại là rất khó
khăn nhất là khi nó liên quan đến quyền lợi của các quốc gia là đối tác thương mại có
liên quan.

Từ phía người lao động và người tiêu dùng
Bảo vệ người tiêu dùng là một trong những mục tiêu lớn nhất của việc tạo
dựng và thực thi các rào cản thương mại, đặc biệt là các rào cản kỹ thuật. Với lý do là
bảo vệ sức khoẻ của người tiêu dùng các quốc gia có thể đưa ra các qui định hay tiêu
chuẩn kỹ thuật ở mức rất cao và trở thành rào cản thương mại, mặc dù nguy cơ có thể
chưa được xác định dựa trên cơ sở khoa học.
Một lý do khác dẫn tới việc hình thành rào cản trong thương mại là để bảo vệ
người lao động. Thông qua các nghiệp đoàn của mình, người lao động đã kiến nghị
lên Chính phủ yêu cầu có những biện pháp để đảm bảo công ăn việc làm và một mức


13

thu nhập ổn định cho họ. Và trong bối cảnh TMQT hiện nay, các rào cản thương mại
nhằm bảo hộ cho ngành sản xuất của họ luôn được tính tới.
Thậm chí, vì mục tiêu chính trị của đảng cầm quyền, đối với người lao động và
người tiêu dùng, việc đảm bảo lợi ích cho họ không chỉ là nhiệm vụ của các Chính
phủ mà còn là biện pháp để xoa dịu và lấy được sự tín nhiệm của họ.

Từ phía các doanh nghiệp
Một điều dễ nhận thấy là các nhà sản xuất ở mỗi quốc gia đều cần được bảo

lao động và chất lượng sản phẩm trong nước. Và biện pháp dễ áp dụng và cho hiệu
quả hơn cả chính là các rào cản thương mại.
Cũng nằm trong nhóm mục đích này, các rào cản thương mại giúp bảo hộ để
phát triển các ngành công nghiệp trong nước, bảo vệ việc làm và thu nhập ổn định cho
người dân.
Ngoài ra, thông qua việc kiểm soát việc nhập khẩu hàng hoá Chính phủ các
quốc gia sẽ định hướng được việc tiêu dùng hàng hoá trong nước. Đối với các mặt
hàng không cho sử dụng sẽ bị cấm nhập khẩu, các hàng hoá không được khuyến
khích sử dụng sẽ bị đánh thuế cao hoặc chỉ cho nhập khẩu một lượng nhất định thông
qua hạn ngạch, giấy phép...

Bảo vệ an ninh quốc gia, đạo đức xã hội và bảo vệ môi trường
Vấn đề an ninh quốc gia luôn đòi hỏi các biện pháp cấm hoặc hạn chế tối đa
việc nhập khẩu các hàng hoá là vũ khí, chất nổ, phương tiện chiến tranh, nhất là các
loại vũ khí, chất độc có thể huỷ diệt hàng loạt.
Đạo đức xã hội không cho phép nhập khẩu các văn hoá phẩm không lành
mạnh, các chất gây nghiện làm bại hoại đạo đức và lương tri của con người.
Ngoài ra, một vấn đề chung hiện nay toàn cầu đang cùng phải giải quyết là bảo
vệ môi trường cũng đã làm nảy sinh các rào cản đối với việc luân chuyển hàng hoá từ
nước này sang nước khác. Vấn đề đặt ra ở đây là việc áp dụng các biện pháp này phải
hợp lý và dựa trên các cơ sở khoa học xác thực.

Bảo vệ người tiêu dùng
Bảo vệ người tiêu dùng luôn một trong những mục đích quan trọng nhất của
việc áp dụng các hàng rào thương mại. Sự an toàn của người tiêu dùng luôn được đưa
lên hàng đầu trong việc kiểm soát hàng hoá nhập khẩu với các yêu cầu về tiêu chuẩn
kỹ thuật, vệ sinh và kiểm dịch, yêu cầu về đóng gói và ghi nhãn hiệu.
Các hàng rào cũng giúp ngăn cản các hàng hoá không đảm bảo chất lượng gây
ảnh hưởng đến sức khoẻ và sự an toàn của người dân.


1.3.1.1 Thuế quan
Đây là hình thức rào cản thương mại truyền thống và phổ biến nhất trong
TMQT. Việc áp dụng thuế quan có ưu điểm là đảm bảo tính minh bạch, dự báo được
và nếu như thuế suất được áp dụng ở mức vừa phải thì nó không hề bóp méo thương
mại. Vì các lý do này, hiện thuế quan đang là biện pháp được WTO khuyến khích sử
dụng. Tuy nhiên, trong bối cảnh thương mại ngày càng tự do hiện nay, nếu như phải
thực hiện vai trò là hàng rào thương mại thì nó không phát huy được yêu cầu phân
biệt đối xử và không thể áp dụng trong trường hợp cần ngăn chặn nhanh hàng hoá
nhập khẩu.
Xét về cách tính thuế, thuế quan bao gồm các loại sau:


16

-

Thuế phần trăm: (ad-valorem tariff) được đánh theo tỷ lệ phần trăm trên trị giá

giao dịch của hàng hoá nhập khẩu, ví dụ: mức thuế nhập khẩu cà chua từ Việt Nam
vào Hoa Kỳ là 16%. Hiện nay, đây là loại thuế được sử dụng rộng rãi nhất trong
TMQT.
-

Thuế phi phần trăm: (non-ad valorem tariff) bao gồm các loại:
Thuế tuyệt đối: là thuế được xác định bằng một khoản tiền cố định trên một

đơn vị hàng hoá nhập khẩu. Loại thuế này được áp dụng phổ biến nhất đối với các
mặt hàng nông sản. Ví dụ, thuế nhập khẩu hạt tiêu Việt Nam vào Hoa Kỳ hiện là 4,7
cent/kg.
Thuế tổng hợp: là sự kết hợp của cả thuế phần trăm và thuế tuyệt đối. Ví dụ,

17

-

Thuế áp dụng trong các khu vực mậu dịch tự do: Đây là mức thuế suất thấp

nhất và thậm chí là bằng không mà các quốc gia trong các khối mậu dịch tự do dành
cho hàng hoá của nhau, như trường hợp của Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ
(NAFTA), hay khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) hoặc giữa 2 quốc gia kí Hiệp
định về mậu dịch tự do như Mỹ-Singapore, Mỹ-Irsael, Thái Lan-Trung Quốc...
Trong các hình thức thuế quan còn có một số loại thuế quan đặc thù như thuế
thời vụ là loại thuế thường được áp dụng cho hàng nông sản với các mức thuế suất
khác nhau vào các thời điểm khác nhau của mùa vụ, loại thuế này thường là rất cao
khi vào vụ thu hoạch.

1.3.1.2 Hạn ngạch thuế quan (Tariff-rate quota)
Hạn ngạch thuế quan là biện pháp quản lý nhập khẩu bằng thuế quan với 2
mức thuế nhập khẩu. Đây là một biện pháp hạn chế nhập khẩu định lượng bằng thuế
quan. Hàng hoá sẽ không bị hạn chế về số lượng nhập khẩu nhưng đối với hàng hoá
trong khuôn khổ hạn ngạch thì có mức thuế suất thấp, còn với hàng hoá vượt mức hạn
ngạch sẽ phải chịu mức thuế suất cao, thậm chí là rất cao. Ví dụ, các nước OECD có
mức thuế trong hạn ngạch đối với hàng nông sản là 36%, nhưng nếu vượt quá hạn
ngạch mức thuế suất sẽ là 120%. Đây là biện pháp đang được WTO khuyến cáo sử
dụng cho hàng nông sản kể từ sau vòng đàm phán Uruguay.

1.3.2. Rào cản phi thuế quan (Non-tariff barriers)
Theo Hiệp định CEPT – Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung
trong khuôn khổ AFTA: “Rào cản phi thuế quan nghĩa là các biện pháp không phải
thuế quan, trên thực tế ngăn cấm hoặc hạn chế việc nhập khẩu hay xuất khẩu các sản
phẩm giữa các quốc gia” 33 .

Có hiệu lực ngay, khi muốn ngăn chặn việc nhập khẩu một hàng hoá nào đó.

Điều này thì thuế quan không thể làm được.
Về nhược điểm, các rào cản phi thuế quan không có tác dụng tăng thu ngân
sách cho nhà nước, gây bất bình trong quan hệ với đối tác, nhiều khi nó cũng làm sai
lệch tín hiệu của thị trường. Đối với các nhà xuất khẩu, các rào cản phi thuế quan
thường không rõ ràng và khó dự đoán.
Rào cản phi thuế quan bao gồm rất nhiều loại khác nhau, có thể được áp dụng
ở biên giới hay nội địa, có thể là biện pháp hành chính và cũng có thể là các biện pháp
kỹ thuật, có những biện pháp bắt buộc phải thực hiện nhưng cũng có những biện pháp
hoàn toàn tự nguyện. Chính vì tính đa dạng của mình mà các rào cản có thể trùng lắp
nhau. Việc phân chia các hình thức rào cản phi thuế quan chỉ mang tính chất tương
đối.

1.3.2.1 Các biện pháp tương đương thuế quan (para-tariff measures)
Đây là các biện pháp làm tăng giá hàng hoá nhập khẩu và do đó có tác động
tương đương với thuế quan. Các biện pháp tương đương thuế quan bao gồm:

Xác định trị giá hải quan
Vì thuế nhập khẩu hàng hoá được tính trên cơ sở trị giá hải quan của hàng hoá
nên việc xác định trị giá hải quan của hàng hoá là vô cùng quan trọng. Nó liên quan
trước hết là đến số tiền thuế phải nộp và đồng thời đến giá cả hay khả năng cạnh tranh


19

của hàng hoá đó trên thị trường nước nhập khẩu. Trong trường hợp việc xác định trị
giá hải quan không rõ ràng sẽ là một cản trở đối với thương mại.
Về nguyên tắc cơ bản, trị giá hải quan của hàng hoá xuất nhập khẩu được xác
định dựa trên trị giá giao dịch của hàng hoá đó hay số tiền thực tế người mua phải trả


Thuế hoá đơn lãnh sự quán

-

Phí giấy phép nhập khẩu hàng hoá

-

Thuế và phí thu thêm đối với các danh mục hàng hoá nhạy cảm

-

Các khoản thu nội địa đối với hàng hoá nhập khẩu…


20

1.3.2.2 Các biện pháp hạn chế định lượng (Quantitative Restriction)
Đây là nhóm các biện pháp qui định trực tiếp về số lượng hoặc giá trị hàng hoá
được nhập khẩu. Các biện pháp này hiện bị chỉ trích nhiều nhất và đang dần được gỡ
bỏ. Các biện pháp hạn chế định lượng bao gồm:

Cấm nhập khẩu (Prohibition)
Đây là biện pháp bảo hộ cao nhất khi một quốc gia tiến hành lệnh cấm toàn
diện việc nhập khẩu hàng hoá từ một thị trường nào đó, cấm nhập khẩu một mặt hàng
nào đó hoặc cấm phần lớn các doanh nghiệp mà chỉ cho một số doanh nghiệp xác
định được nhập khẩu hàng hoá.
Thông thường biện pháp này được thực hiện nhằm đảm bảo an ninh quốc gia
(ví dụ như cấm nhập khẩu vũ khí, đạn dược), bảo vệ đạo đức xã hội (cấm nhập khẩu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status