Chương 1
ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
1.1 Lí do lí thuyết
Xuất phát từ sự đổi mới phương pháp dạy và học trong nhà trường phổ thông:
dạy học theo quan điểm phát triển năng lực của học sinh. Với quan điểm này, việc
đánh giá kết quả học tập của học sinh không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến
thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá. Đánh giá kết quả học tập chú trọng khả
năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau. Chính
vì thế, các nhà giáo dục học đã đề xuất nhiều phương pháp dạy học khác nhau như
phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề, phương pháp dự án, phương pháp
đàm thoại gợi mở, phương pháp dạy học nhóm… nhằm phát huy tính tích cực, năng
động, sáng tạo của người học, hình thành những năng lực cần thiết cho học sinh để
đáp ứng nhu cầu về nguồn lực con người trong thế kỉ XXI. Trong đó, phương pháp
dạy học dự án được coi là một trong những phương pháp hiệu quả nhằm đáp ứng
mục tiêu giáo dục và đào tạo Việt Nam trong giai đoạn mới. Phương pháp này đã
được phổ biến rộng rãi trên thế giới. Và ở Việt Nam, đã tiếp cận với phương pháp dự
án bằng nhiều cách thức: như thông qua dự án giáo dục Việt Bỉ, chương trình giáo
dục của các tập đoàn Intel, Microsoft....
Xuất phát từ lợi thế của phương pháp dạy học dự án. Ở phương pháp này,
người học trở thành trung tâm của hoạt động học tập, kiến tạo kiến thức. Hay nói
khác đi, người học không phải là cái bình được đổ đầy mà là ngọn đèn được thắp
sáng (Kakura). Quá trình dạy học không còn mang tính truyền thụ kiến thức theo lối
nhồi nhét mà thực sự đó là một quá trình tìm kiếm, khám phá và sáng tạo của người
học bằng niềm đam mê với môn học và sự chỉ đạo, định hướng của người dạy. Hơn
nữa, đây là một phương pháp dạy học mang tính phức hợp – sử dụng kiến thức của
1
nhiều lĩnh vực hoặc nhiều môn học khác nhau để cùng giải quyết một tình huống học
tập – nên nó tạo điều kiện tối ưu cho việc vận dụng các kiến thức liên môn đã học
hướng nghiệp và Tiếng Anh. Trong đó, bộ môn Ngữ văn là chính, tập trung những kĩ
năng của chương trình ngữ văn lớp 10 và 11. Tuy nhiên, để giải quyết tốt mọi tình
huống học tập, chúng tôi đã cần sử dụng thông tin tư liệu từ các môn như lịch sử , địa
lý và hướng nghiệp cho việc tìm hiểu về đất nước, con người và nền văn hóa của Nhật
Bản, đồng thời khảo sát xu hướng nghề nghiệp trong tương lai của học sinh THPT.
Đồng thời, dự án còn tích hợp với môn Tin học để có các kỹ thuật tìm kiếm thông tin,
xây dựng bài thuyết trình trên phần mềm Powerpoint và kĩ thuật làm video; mỹ thuật
và nhạc cho việc trình bày thông tin hoặc thuyết trình.
Ngoài ra, để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, học sinh còn được học tập rất
nhiều kỹ năng không hề được giảng dạy trong nhà trường phổ thông nhưng cực kỳ
quan trọng cho việc giúp các em hoà nhập vào công việc tương lai như kỹ năng tìm
kiếm lựa chọn thông tin phù hợp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng thuyết trình, kỹ
năng phản biện, kỹ năng tổ chức công việc.
Cụ thể như sau:
TÊN BÀI
LỚP
KĨ NĂNG CẦN ĐẠT
NGỮ
Tiết : Thơ Hai cư của
10
- HS hiểu về đặc trưng nghệ thuật thơ Hai
VĂN
10
3
học Nhật.
thuyết minh
Tiết : Phương pháp thuyết
10
minh
Tiết : Trình bày một vấn
10
đề
Tiết : Quảng cáo
10
Tiết : Phỏng vấn và trả lời
11
vấn (qua mail, trực tiếp) về việc học tập và
phỏng vấn
Tiết : Luyện tập phỏng
12
hiểu thông tin du học trên các trang web
của các trường đại học Tokyo; Todai;
Kyoto của Nhật… khi chưa biết tiếng Nhật
ĐỊA LÝ
Bài 9: Nhật Bản
11
- HS hiểu được về vị thế địa lý, điều kiện
Tiết 1. Tự nhiên, dân cư và
tự nhiên, con người, hình thành đất nước
tình hình phát triển kinh tế
Nhật
Tiết 2. Các ngành kinh tế
- Vị thế của Nhật Bản trong trường quốc tế
và các vùng kinh tế
và trong khu vực, đặc biệt về lĩnh vực kinh
nhu cầu thị trường
nguồn nhân lực của đất nước, tìm kiếm
HƯỚNG
NGHIỆP
nghề nghiệp phù hợp trong tương lai, lựa
Chủ đề: Tôi muốn đạt
chọn những phương thức đào tạo nghề phù
được ước mơ
hợp với năng lực và điều kiện của gia đình,
bản thân
- Hình thành ước mơ, khát vọng về nghề
nghiệp của bản thân, có ý thức phấn đấu để
thực hiện ước mơ dù cho hoàn cảnh hiện
tại có khó khăn, cản trở.
Đối với học sinh THPT: Đây là lứa tuổi thanh niên năng động, nhiệt huyết và
giàu khát vọng, đam mê sáng tạo. Không chấp nhận kiểu học cũ theo lối thầy giảng
trò ghi nhàm chán trong nhà trường truyền thống, các em muốn được trải nghiệm,
được khám phát và sáng tạo trong học tập. Đặc biệt, học sinh trường THPT chuyên
Lê Hồng Phong – Nam Định, hầu hết là những học sinh có tư chất thông minh, năng
lực học tập tốt, nhạy bén với thời đại, khát khao mở rộng tầm nhìn ra thế giới. Đây
chính là một trong những lí do quan trọng thôi thúc và động viên chúng tôi thực hiện
Sáng kiến kinh nghiệm Tổ chức dạy học dự án liên môn Đường tới Nhật Bản
cho học sinh trung học phổ thông là kết quả quá trình làm việc nghiêm túc, say mê
của cả giáo viên và học sinh trong năm học vừa qua.
6
Chương 2
THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI TẠO RA SÁNG KIẾN
2.1 Về việc dạy học tích hợp trong nhà trường phổ thông và việc sử dụng
phương pháp dạy học dự án
Phương pháp dạy học dự án đã xuất hiện ở Việt Nam cách đây hàng chục năm
với chương trình dạy học của Intel và phổ biến hơn trong những năm học gần đây với
nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường. Tuy vậy, việc sử dụng
phương pháp dạy học dự án nói chung và trong dạy học Ngữ văn nói riêng còn rất
hạn chế, gần như mới dừng lại ở những bài thực nghiệm cho các công trình nghiên
cứu, các bài dự thi trong cách cuộc thi Giáo viên sáng tạo trên nền tảng công nghệ
thông tin, Vận dụng kiến thức liên môn vào giải quyết các tình huống thực tiễn…
Thực tế, trong nhà trường phổ thông hiện nay, còn giới hạn về thời gian lên
lớp, về chương trình dạy học và về yêu cầu kiểm tra đánh giá học sinh qua các kì thi
định kì, phương pháp dạy học dự án chưa được phổ biến rộng rãi. Thời lượng của một
tiết học 45 phút, số lượng môn học của các em ở nhà trường phổ thông là 13 môn mà
thực hiện một dự án liên môn các em cần thời gian làm việc khoảng từ 1 tuần đến 1
tháng…. Chương trình học các môn vẫn độc lập, giáo viên chưa hướng dẫn học sinh
tích hợp nên khả năng tích hợp liên kiến thức để giải quyết vấn đề chưa tốt. Đặc biệt,
yêu cầu kiểm tra đánh giá kết quả còn tập trung vào kiến thức môn học độc lập nên
học sinh cũng chưa chú ý nhiều tới liên môn.
Do hạn chế về việc sử dụng công nghệ thông tin và việc tìm hiểu về phương
pháp dạy học dự án của giáo viên, đặc biệt với đội ngũ giáo viên đã có tuổi, nên
phương pháp dạy học dự án chưa được sử dụng rộng rãi trong từng lớp học, cấp học,
tập ở nhà trường mà rèn luyện được những năng lực quan trọng cho cuộc sống trong
tương lai.
8
Chương 3
NHỮNG GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM
3.1 Khái quát chung về quan điểm dạy học tích hợp và phương pháp dạy học dự án
3.1.1. Quan điểm dạy học tích hợp
Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “integration” một từ gốc Latin (integer)
có nghĩa là “whole” hay “toàn bộ, toàn thể”. Có nghĩa là sự phối hợp các hoạt động
khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống để bảo đảm sự hài hòa chức
năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy. Theo từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là
hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh
vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học”. Dạy học tích
hợp các bộ môn khoa học được hiểu là một “cách trình bày các khái niệm và nguyên
lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh
nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau"
(Theo quan điểm của Unesco). Dạy học tích hợp các khoa học nghĩa là phải chỉ ra
cách thức chuyển từ nghiên cứu khoa học sang triển khai ứng dụng, làm cho các tri
thức kĩ thuật – công nghệ trở thành một bộ phận quan trọng trong đời sống xã hội
hiện đại. Từ đó, nó đặc ra yêu cầu đối với giáo dục nhà trường phải chuyển từ đơn
thuần dạy kiến thức sang phát triển ở học sinh những năng lực hành động, xem năng
lực là khái niệm cơ sở của khoa học sư phạm tích hợp. Dạy học tích hợp là quá trình
hình thành ở học sinh những năng lực cụ thể có dự tính trước những điều kiện cần
thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập sau này hoặc nhằm hòa
nhập các em vào cuộc sống thực tại.
Mục đích của dạy học tích hợp là làm cho quá trình học tập có ý nghĩa bằng
cách gắn học tập với cuộc sống hằng ngày. Học sinh có năng lực cơ bản vận dụng vào
10
kĩ năng mới; phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn
đề trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống.
Việc tích hợp các môn học sẽ giúp cho HS dễ vận dụng kiến thức vào thực tiễn
vì những vấn đề nảy sinh trong đời sống, sản xuất ít khi chỉ liên quan với một lĩnh
vực tri thức nào đó mà thường đòi hỏi vận dụng tổng hợp các tri thức thuộc một số
môn học khác nhau.
3.1.2. Phương pháp dạy học dự án
Thuật ngữ “dự án” – tiếng Anh là Project, có nguồn gốc từ tiếng La tinh
“Proicere”, được hiểu theo nghĩa phổ thông là một đề án, một dự thảo, một kế hoạch
được thực hiện nhằm đạt mục đích đề ra. Khái niệm dự án được sử dụng phổ biến
trong hầu hết các lĩnh vực từ kinh tế - xã hội đến giáo dục – đào tạo. Trong giáo dục,
dự án được dùng như một phương pháp dạy học. Đầu thế kỉ XX, các nhà sư phạm Mỹ
đã xây dựng cơ sở lí luận cho phương pháp dự án và coi đó là phương pháp dạy học
quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học lấy học sinh là trung tâm, nhằm khắc
phục nhược điểm của dạy học truyền thống coi thầy giáo là trung tâm. Ban đầu, nó
được dùng trong việc dạy các môn học kĩ thuật, sau đó, được mở rộng ở tất cả các
môn, cả các môn khoa học xã hội.
Phương pháp dạy học theo dự án – Project Method, còn được gọi là dạy học dự
án, dạy học theo dự án, dạy học dựa trên dự án, có nhiều cách định nghĩa khác nhau
nhưng nhìn chung đều hướng tới việc đề cao vai trò của người học trong hoạt động
dạy và học. Trong cuốn Lí luận dạy học hiện đại của tác giả Nguyễn Văn Cường và
Bernd Meier, Phương pháp dạy học theo dự án được hiểu là “một phương pháp dạy
học, trong đó, người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp
giữa lí thuyết và thực hành, tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu. Nhiệm vụ này được
người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác
định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá
kiến thức thực tiễn để giải quyết vấn đề học tập.
Bước 4: Nghiệm thu sản phẩm của dự án. Kết quả toàn dự án của các nhóm được
trình bày trong một buổi báo cáo kết quả dự án. Kết quả thực hiện dự án có thể được
viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo, bài báo, những sản phẩm vật chất, những sản
phẩm phi vật chất… Giáo viên và học sinh đánh giá quá trình thực hiện và kết quả
cũng như kinh nghiệm đạt được. Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc thực hiện
các dự án tiếp theo.
Phương pháp dạy học theo dự án là một trong những lựa chọn tối ưu về phương
pháp dạy học bởi những ưu điểm vượt trội của nó so với phương pháp dạy học truyền
thống.
Nếu phương pháp dạy học truyền thống lấy người thầy làm trung tâm của quá
trình dạy học, thì phương pháp này đã khẳng định vai trò quan trọng của người học.
Người thầy định hướng, gợi mở vấn đề, hướng dẫn học sinh sử dụng các nguồn tư
liệu khác nhau như: sách giáo khoa, internet, sách tham khảo, báo chí, trao đổi chuyên
gia… để thực hiện nhiệm vụ học tập của bản thân. Người học sẽ tham gia vào việc
giải quyết các nội dung học tập khác nhau trong bài học, hoặc gắn với thực tế đời
13
sống. Như vậy, người học không chỉ hứng thú với việc học mà còn có khả năng sáng
tạo, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, tinh thần tự lực, trách nhiệm trong công
việc.
Nếu phương pháp dạy học truyền thống đề cao tính độc lập trong học tập, thụ
động đón nhận kiến thức từ thầy thì phương pháp dạy học theo dự án lấy hoạt động
nhóm là hình thức làm việc cơ bản. Vì thế, học sinh có cơ hội rèn luyện không chỉ
tính đoàn kết, cộng tác trong công việc mà còn phát triển năng lực giao tiếp (biết lắng
nghe, chấp nhận, phê phán ý kiến của người khác, trình bày và bảo vệ ý kiến cá
nhân…), năng lực phương pháp (có phương pháp làm việc phù hợp…)….
Phương pháp dạy học truyền thống đã trao quyền đánh giá học sinh cho người
thầy thông qua các bài kiểm tra định kì, thì phương pháp dạy học theo dự án đã phát
nay GV nên chủ động xây dựng ý tưởng cho dự án dựa trên kinh nghiệm và khả năng
sáng tạo của bản thân.
3.2.1.1. Xác định chủ đề học tập
Thực hiện dự án dạy học tích hợp liên môn “Đường tới Nhật Bản”, chúng tôi
muốn kết nối các bài học về chủ đề Nhật Bản trong chương trình THPT của môn:
Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Ngoại ngữ (Tiếng Anh).
Sử dụng kiến thức từ những bài học này HS sẽ đến Nhật Bản bằng con đường
văn hóa; các em sẽ tìm hiểu về lịch sử, địa lí, văn hóa, văn học Nhật Bản thông qua
hình thức trải nghiệm và sáng tác.
3.2.1.2. Phát hiện vấn đề thực tiễn có liên quan đến các học trong chương
trình học tập của HS.
Trong những năm gần đây, quan hệ hợp tác giữa hai nước Việt Nam - Nhật Bản
phát triển ngày càng sâu rộng. Các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam ngày
càng nhiều và hiện tượng du học sinh và người lao động Việt Nam đến "đất nước mặt
trời mọc" để kiếm tìm cơ hội ngày càng gia tăng. Các công ty giới thiệu tư vấn về du
15
học Nhật Bản xuất hiện ở khắp nơi, nhu cầu du học Nhật Bản trong HSSV Việt Nam
trở thành một "làn sóng mới".
Thực hiện dự án này, chúng tôi muốn HS vận dụng kĩ năng từ các bài học: trình
bày một vấn đề, phỏng vấn và trả lời phỏng vấn, văn bản thuyết minh, quảng cáo.....
để tìm hiểu và giới thiệu về du học Nhật Bản.
Sử dụng các kĩ năng này HS sẽ đến NB bằng con đường du học, các em sẽ phân
tích các cơ hội, thách thức khi du học Nhật Bản thông qua thu thập, xử lí thông tin,
gợi mở khả năng và đưa ra cảnh báo.
3.2.1.3. Gieo vấn đề cho HS
Sau khi xác định được chủ đề học tập và vấn đề thực tiễn có liên quan, GV gieo
vấn đề cho HS dưới hình thức bài tập tình huống "Em và nhóm của em là nhân viên
Sản phẩm: - 1 video về lịch sử, địa lí Nhật Bản
- 1 Album giới thiệu những nét đặc sắc, văn hóa Nhật Bản (văn học,
ẩm thực, thời trang, văn hóa ứng xử)
- 1 bài thuyết trình về văn học Nhật Bản và đặc trưng thơ Hai cư.
+ Nhóm 2: Nhóm tư vấn có nhiệm vụ tìm hiểu thông tin về du học Nhật Bản
(khảo sát nhu cầu, thông tin về các trường đại học có uy tín, chi phí du học, đời sống
của du học sinh Việt Nam tại Nhật Bản, về xu hướng du học Nhật Bản của học sinh
THPT Việt Nam hiện nay....). HS sẽ đóng vai phóng viên báo chí, nhân viên PR để
cung cấp thông tin hữu ích và thiết thực cho những bạn học có nhu cầu du học Nhật
Bản.
Sản phẩm: - 1 Porter quảng cáo về du học Nhật Bản
- 1 bài nghiên cứu về cơ hội và thách thức khi du học Nhật Bản (kèm
Slide trình chiếu trên Power Point)
- 1 video phỏng vấn cựu du học sinh người Việt đã học tại Nhật về
phương pháp học tập tại các trường Đại học tại Nhật
3.2.2.3. Nguồn công nghệ và thực hiện phục vụ cho dự án
17
- Nguồn công nghệ thông tin
+ Internet: truy cập các trang web để tìm thông tin, hình ảnh, tư liệu
+ Microsoft word: tạo lập văn bản
+ Microsoft Power Point: tạo lập các bản trình bày
+ Microfoft Publisher: tạo lập các video, album
- Tài liệu
+ Trang web giới thiệu du học Nhật Bản
+ Bài viết về đời sống du học sang Việt Nam tại Nhật Bản (tham khảo các
bài viết từ cuộc thi "Người Việt xa xứ" trên báo mạng)
+ Phóng sự về đời sống du học sinh Việt Nam tại Nhật Bản (VTV 1)
+ SGK Địa lí 11, Lịch sử 11, Ngữ văn 10 + 11; Tiếng Anh 10 + 12; TL giáo
Chuyên gia thời trang
3
Nguyễn Hà Phương
11A2
Nhà xã hội học
4
Nguyễn Thu Thủy
11A2
Nhà xã hội học
5
Hồ Thị Bảo Vy
11E2
Chuyên gia ẩm thực
6
Vũ Phạm Tuyết Nhung
Thúy
9
Nguyễn Mai Phương
11A2
Họa sĩ truyện tranh
10
Vũ Hương Ly
11A2
Họa sĩ truyện tranh
Nhóm trưởng
* Chuyên gia thời trang: Tìm hiểu về trang phục dân tộc của Nhật Bản –
kimono, đồng phục của học sinh Nhật Bản.
* Chuyên gia ẩm thực: Giới thiệu văn hóa ẩm thực và món ăn truyền thống của
Nhật bản.
* Nhà xã hội học: Nghiên cứu và giới thiệu văn hóa ứng xử của người Nhật
* Nhà nghiên cứu văn học: Giới thiệu thể thơ truyền thống của Nhật - thơ hai-cư
và sáng tác thơ hai-cư.
* Họa sĩ truyện tranh: Sáng tác truyện tranh Manga
Nhóm tư vấn
STT
Nguyễn Thanh Hằng
11E2
5
Ngô Thanh Hoa
11A2
Nhân viên PR
6
Vũ Bảo Yến
11A2
Nhân viên PR
Ghi chú
Nhóm trưởng
* Phóng viên: Thu thập thông tin về cuộc sống của du học sinh Việt Nam tại
Nhật qua các hình thức: Phỏng vấn trực tiếp, tìm hiểu tại các trung tâm tư vấn du học
Nhật Bản từ Nam Định, các nguồn trên mạng, website... để làm bài nghiên cứu và
thuyết trình
* Nhân viên PR: Tìm hiểu các trường Đại học nổi tiếng, tính toán chi phí, thiết
kế porter quảng cáo du học Nhật Bản.
19
phòng - Lập thời gian biểu
thành viên tham gia
học lớp 11 - Phân công nhiệm vụ cho các nhóm.
Anh 2
nhóm, hướng dẫn cách lập kế - Các nhóm hình
hoạch làm việc nhóm, cung cấp dung công việc triển
mẫu biên bản làm việc nhóm.
khai trong thực tế, dự
kiến về sản phẩm.
Tuần 2 tại Họp nhóm lần 1.
phòng học
Ghi
- Thông qua kế hoạch
- Thẩm định kế hoạch làm việc làm việc của nhóm.
20
Lớp 11 A2
của các nhóm.
phỏng
vấn,
thuyết trình, cách sử dụng các chỉnh sửa các lỗi kiến
phương tiện công nghệ thông thức, góp ý về hình
tin…
thức trình trình bày
- Ấn định thời gian nộp sản các bài thuyết trình,
phẩm sơ bộ.
các video giới thiệu
về thời trang, ẩm
thực, văn hóa ứng xử,
văn học Nhật Bản…
Tuần 6 tại
phòng
Họp nhóm lần 3.
- Các nhóm nộp có
học - Thẩm định sản phẩm sơ bộ sản phẩm sơ bộ.
lớp 11 Anh của các nhóm, yêu cầu điều - Các kế hoạch làm
2
báo cáo sản phẩm của dự án.
Nhật Bản (ẩm thực,
thời trang, văn học,
ứng xử); tờ rơi quảng
bá du học Nhật Bản,
bài thuyết trình về cơ
hội và thách thức khi
du học Nhật Bản
được hoàn thiện.
- Thống nhất tổ chức
báo cáo sản phẩm
dưới hình thức triển
lãm, hội thảo; nhóm
truyền thông chuẩn bị
thêm
một
số
sản
phẩm thực tế:
trà
đạo, điệu múa Nhật
Bản có sử dụng trang
phục kimono, mộtsố
hóa f thời tổgiới thiệu
những thông tin cần
thiết về du học Nhật
Bản và những nét đặc
sắc về văn hóa Nhật
Bản.
Họp nhóm lần 5
Tuần 9
(sau
lãm
phòng
- GV nhận xét về ý
triển - Đánh giá kết quả công việc thức thái độ, năng lực
tại của các nhóm.
và hiệu quả công việc
học - Rút kinh nghiệm.
của các thành viên
lớp 11 Anh
trong các nhóm.
2)
Thông qua buổi triển lãm, học sinh được tham gia trực tiếp vào quy trình tổ
chức sự kiện, được rèn luyện thực tế về kĩ năng trình bày vấn đề, kĩ năng giao tiếp và
thấy được sự kết nối, khả năng ứng dụng các bài học trong chương trình THPT vào
các tình huống thực tiễn của cuộc sống. Đó là những trải nghiệm mới mẻ đem lại
hứng thú và kích thích khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân.
24
Chương 4
HIỆU QUẢ SÁNG KIẾN
4.1 Hiệu quả kinh tế (Giá trị làm lợi tính thành tiền – nếu có)
4.2 Hiệu quả về mặt xã hội (Giá trị làm lợi không tính thành tiền)
4.2.1.Về kiến thức
- Về độ sâu và rộng của kiến thức. Phương pháp dạy học cũ mới chỉ giải quyết nội
dung bài tập mà bài học yêu cầu. Phương pháp dạy học, với những phần mở rộng, so
sánh giúp học sinh có cái nhìn đối sánh, mở rộng phạm vi kiến thức.
- Về tính hệ thống của kiến thức. Phương pháp dạy học cũ chưa chú ý đến tính hệ
thống vấn đề. Phương pháp dạy học mới không chỉ chú ý tới hệ thống kiến thức môn
học để xử lí tình huống thực tiễn mà còn tập trung nâng cao hệ thống kĩ năng của
người học.
- Về tính khái quát của kiến thức. Phương pháp dạy học cũ chưa chú ý tới. Các khai
thác mới đã giúp học sinh khái quát kiến thức. Học sinh tự nghiên cứu vào có những
khái quát đánh giá về nền kinh tế, văn hóa, lịch sử của Nhật Bản. Chính những khái
quát này sẽ giúp học sinh tự trả lời những thắc mắc của bản thân như: Tại sao ở một
đất nước nghèo tài nguyên, dân số ít, lắm thiên tai lại có nền kinh tế lớn mạnh? Tại
sao người Nhật lại có tính kỉ luật cao và lòng nhân ái trong công việc và cuộc sống?
Tại sao nền kinh tế nhật có tốc độ phát triển thần kỳ sau chiến tranh thế giới hai?
Thậm chí, cả những câu đơn giản như: Lí do vì đâu mà đồng phục váy học sinh của