BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
DÙNG BÀI TẬP ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
SỬ DỤNG NGÔN NGỮ HÓA HỌC
CHO HỌC SINH LỚP 10 THPT CHUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
DÙNG BÀI TẬP ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
SỬ DỤNG NGÔN NGỮ HÓA HỌC
CHO HỌC SINH LỚP 10 THPT CHUYÊN
Chuyên ngành
: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Hoá học
Mã số
: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. TRỊNH VĂN BIỀU
:
bài tập hóa học
BDHSGHH
:
bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học
ĐG
:
đánh giá
ĐC
:
đối chứng
GV
:
giáo viên
HH
:
năng lực học tập
NL SDNNHH :
năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học
NNHH
:
ngôn ngữ hóa học
NXB
:
nhà xuất bản
PPDH
:
phương pháp dạy học
PTN
:
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xu thế chung của việc đổi mới phương pháp dạy học là hướng tới hoạt động học
tập chủ động, tích cực, chống lại thói quen học tập thụ động, góp phần hình thành các
năng lực cần thiết cho học sinh. Do đó, đòi hỏi giáo dục phổ thông nước ta phải
chuyển từ giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực người học, nghĩa là từ chỗ
quan tâm học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh làm được cái gì từ việc
học. Để đảm bảo được điều đó, chúng ta nên chuyển từ phương pháp học theo lối
“truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ
năng, hình thành năng lực và phẩm chất của người học.
Nắm được tầm quan trọng của việc đổi mới giáo dục, tại hội nghị Trung ương 8
khóa XI đã xác định “Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng yêu
cầu CNH – HDH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập
quốc tế”, đồng thời “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức
sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học” [9].
Như vậy, đổi mới giáo dục là nhiệm vụ hàng đầu và cấp thiết đặt ra cho ngành
giáo dục nhằm phát triển người học toàn diện về mọi mặt, không những trang bị kiến
thức mà còn trang bị phương pháp học tập, làm việc để người học có thể học tập suốt
đời, gắn kiến thức với thực tiễn cuộc sống và sản xuất.
Trong những năm gần đây nước ta đã được nhiều thành tựu trong việc đào tạo và
phát triển nguồn nhân lực cung ứng cho thị trường trong và ngoài nước. Tuy nhiên,
thực tế là người lao động Việt Nam nắm vững kiến thức chuyên môn nhưng khả năng
vận dụng còn yếu, vẫn còn khá thụ động trong công việc cũng như chậm thích ứng với
những biến đổi trong lao động và cuộc sống.
Từ các thực tế đó, sau năm 2015 giáo dục nước ta sẽ tiến hành đổi mới toàn diện
theo định hướng năng lực trên toàn bộ các môn văn hóa trong đó có bộ môn Hóa học.
Như chúng ta đã biết, Hóa học là một bộ môn khoa học thực nghiệm, cung cấp những
kiến thức cơ bản về các chất cũng như các định luật, các thuyết liên quan đến sự biến
đổi của chất, của các phân tử,....Tuy nhiên, đối tượng nhận thức của bộ môn Hóa học
tương đối trừu tượng và vi mô. Để hình tượng hóa các đối tượng này người ta thường
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy học hoá học ở trường THPT chuyên.
- Đối tượng nghiên cứu: việc sử dụng BTHH để phát triển NL SDNNHH cho học
sinh lớp 10 THPT chuyên.
5. Phạm vi nghiên cứu
10
- Nội dung nghiên cứu về Hóa học: phần kiến thức cơ sở Hóa học chung lớp 10
THPT chuyên.
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 09/2014 – tháng 9/2015.
- Địa bàn nghiên cứu: một số trường THPT chuyên ở TP. Hồ Chí Minh, Đồng
Nai, Bình Phước và Long An, …
6. Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng bài tập một cách khoa học, đa dạng, phong phú, đồng thời kết hợp
linh hoạt, sáng tạo các phương pháp dạy học sẽ giúp HS phát triển năng lực sử dụng
ngôn ngữ hóa học, nâng cao hiệu quả dạy học.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1.
Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các văn bản của Đảng và Nhà nước, của Bộ Giáo dục và Đào tạo có
liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước liên quan
đến đề tài.
- Nghiên cứu các khái niệm, biểu hiện, mức độ phát triển, thang đánh giá NL
SDNNHH đối với HS phổ thông.
- Nghiên cứu một số PPDH tích cực, cách thiết kế giáo án theo hướng tích cực,
7.2.
+ Đề xuất quy trình sử dụng bài tập hóa học để phát triển NL SDNNHH cho
HS lớp 10 THPT chuyên.
• Đánh giá sự phát triển NL SDNNHH của học sinh lớp 10 chuyên, cụ thể như sau:
+ Xây dựng tiêu chí đánh giá sự phát triển NL SDNNHH của học sinh lớp 10
THPT chuyên.
+ Thiết kế thang đánh giá sự phát triển NL SDNNHHcủa HS lớp 10 THPT
chuyên.
Tóm lại, theo chúng tôi kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là tiền đề giúp giáo
viên phát triển các năng lực học tập cho học sinh vì NL SDNNHH là một trong những
năng lực chuyên biệt đặc trưng cho bộ môn Hóa học, là nền tảng vững chắc giúp học
sinh phát triển các năng lực tư duy khác, đồng thời kích thích học sinh hứng thú, say
mê học tập.
12
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1.
Một số công trình nghiên cứu về phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ cho
học sinh
Ngôn ngữ và tư duy là thống nhất. Khi chưa có ngôn ngữ thì con người chưa thể
phân biệt được hai khái niệm khác nhau (nghĩa là chưa có tư duy). Khi ấy, tư duy cũng
như âm thanh chỉ là một thể hiện liên tục, không định hình. Trên quá trình phát triển
lao động, ngôn ngữ xuất hiện giữa hai cái thực thể không định hình này và chia cắt cả
hai thành những đơn vị phân lập như ta cắt hai mặt của một tờ giấy. Như thể ngôn ngữ
và tư duy cùng xuất hiện cùng một lúc. Trong hệ tư tưởng Đức, Mác khẳng định:
“Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy” và “Ý tưởng không thể tồn tại ngoài ngôn
ngữ được”. Kể cả khi suy nghĩ thầm lặng, có nghĩa là tự mình nói với mình thì quan hệ
đó vẫn khắng khít với nhau. Như thể ngôn ngữ và tư duy là thể thống nhất và có tác
b. Trong nước
- Trần Bá Hoành (2010), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách
giáo khoa, Nxb Đại học Sư phạm.Tác giả cho rằng “Phát triển năng lực của học sinh
đồng nghĩa với việc GV gắn học tập với cuộc sống hằng ngày, thường xuyên sử dụng
dạy học tình huống nhằm giúp học sinh tập dượt vào các tình huống thực tế. Bên cạnh
đó, phải giáo dục cho học sinh không vội vã bằng lòng với giải pháp đầu tiên được đề
xuất, không suy nghĩ cứng nhắc theo những quy tắc lí thuyết đã học trước đó, không
máy móc vận dụng những mô hình hành động đã gặp trong sách vở để ứng xử trước
tình huống mới".
- Trần Thị Thu Huệ (2011), Phát triển một số năng lực của học sinh trung học
phổ thông thông qua phương pháp và sử dụng thiết bị trong dạy học hóa học vô cơ,
Luận án Tiến sĩ giáo dục học, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam. Tác giả đã đề ra
một số biện pháp để phát triển một số năng lực cho học sinh phổ thông như sau (1) Sử
dụng PPDH theo góc và sử dụng thiết bị dạy học hiện đại; (2) Sử dụng PPDH theo hợp
đồng và sử dụng thiết bị dạy học; (3) Sử dụng PPDH theo dự án và sử dụng thiết bị
dạy học.
- Nguyễn Thu Hằng – Cao Thị Thặng (2012), Dạy học và kiểm tra, đánh giá theo
chuẩn kiến thức kỹ năng hướng tới phát triển một số năng lực cho sinh viên sư phạm ,
Tạp chí khoa học giáo dục số 79 (trang 36 – 38).
- Nguyễn Thị Thu Hằng – Cao Thị Thặng (2012), Bước đầu nghiên cứu áp dụng
phương pháp Bàn tay nặn bột ở bộ môn Hóa học theo hướng phát triển một số năng
lực cho học sinh phổ thông, Tạp chí giáo dục số 283 (trang 51 – 52).
14
- Phạm Thị Bích Đào - Cao Thị Thặng (2014), Bước đầu phát triển phương pháp
Bàn tay nặn bột theo hướng phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh trung học phổ
thông trong dạy học Hóa học, Tạp chí Khoa học Giáo dục số 108 (trang 11 – 13).
1.1.3.
15
thời chưa có công trình nào nghiên cứu về phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa
học cho học sinh.
1.2. Năng lực và năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học
1.2.1.
Khái niệm năng lực và năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học
1.2.1.1.
Năng lực
Khái niệm về năng lực có nguồn gốc tiếng latinh là “competentia. Năng lực được
hiểu là sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân đối với một công việc.
Theo Nguyễn Lân: “Năng lực là khả năng đảm nhận công việc và thực hiện tốt
công việc đó nhờ có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn” [20].
Năng lực là sự kết hợp linh hoạt và độc đáo của nhiều đặc điểm tâm lý của một
người, tạo thành những điều kiện chủ quan thuận lợi giúp cho người đó tiếp thu dễ
dàng, tập dượt nhanh chóng và hoạt động đạt hiệu quả cao trong một lĩnh vực nào đó.
[28].
Năng lực bao gồm các kiến thức, kỹ năng cũng như quan điểm và thái độ của
một cá nhân có để hành động thành công trong tình huống mới.
Năng lực là khả năng giải quyết và mang nội dung khả năng và sự sẵn sàng để
giải quyết các tình huống.
Theo John Erpenbeck: “Năng lực được tri thức làm cơ sở, được sử dụng như khả
năng, được quy định bởi giá trị, được tăng cường qua kinh nghiệm và được thực hiện
hóa qua ý chí”.
Weinert (2001) định nghĩa: “Năng lực là những khả năng và kĩ xảo học được
hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn
sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có
trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt”.
•
Năng lực sáng tạo
- Đặt câu hỏi có giá trị để làm rõ các tình huống và những ý tưởng trừu tượng,
phân tích các nguồn thông tin.
- Xem xét sự vật dưới những góc nhìn khác nhau, hình thành và kết nối các ý
tưởng, nghiên cứu thay đổi giải pháp trước sự thay đổi của bối cảnh.
- Lập luận về quá trình suy nghĩ, nhận ra các yếu tố sang tạo trong các quan điểm
trái chiều. Say mê, nêu được nhiều ý tưởng mới trong học tập và cuộc sống.
•
Năng lực tự quản lý
- Đánh giá được ảnh hưởng của các yếu tố đến hành động, việc làm của mình,
trong học tập, trong cuộc sống.
- Bước đầu làm việc độc lập theo thời gian biểu, nhận ra được các tình huống an
toàn hay nguy hiểm trong học tập và trong cuộc sống hằng ngày.
- Nhận ra và điều chỉnh hạn chế của bản thân, chăm sóc tốt cho sức khỏe, nhận ra
những điều không tốt cho sức khỏe.
•
Năng lực giao tiếp
- Xác định được mục đích giao tiếp phù hợp với đối tượng, bối cảnh giao tiếp, dự
đoán được thuận lợi và khó khăn khi giao tiếp để đạt được mục đích giao tiếp.
17
- Chủ động trong giao tiếp, tôn trọng, lắng nghe, lựa chọn ngôn ngữ phù hợp khi
giao tiếp.
• Năng lực hợp tác
- Chủ động đề xuất mục đích hợp tác để giải quyết một vấn đề do bản thân và
hình trong hình học, sử dụng thống kê toán để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong bối
cảnh thực, hình dung và vẽ được hình dạng các đối tượng trong môi trường xung
quanh.
- Mô hình hóa toán học một số vấn đề thường gặp, vận dụng được các bài toán
tối ưu trong học tập và trong cuộc sống.
- Sử dụng được máy tính cầm tay với chức năng tính toán tương đối phức tạp, sử
dụng được một số phần mềm tính toán và thống kê trong học tập và trong cuộc sống.
19
b. Năng lực chuyên biệt
Bảng 1.1. Bảng mô tả những năng lực chuyên biệt của môn Hóa học
Năng lực chuyên biệt
Mô tả các năng lực
Các mức độ thể hiện
1. Năng lực sử dụng ngôn - Năng lực sử dụng biểu - Nghe và hiểu được nội
ngữ hóa học
tượng hóa học.
dung các thuật ngữ hóa học,
danh pháp, biểu tượng hóa
học (kí hiệu, hình vẽ, mô
- Năng lực sử dụng thuật hình,…).
- Viết và biểu diễn đúng
ngữ hóa học.
CTHH của các hợp chất hữu
cơ và vô vơ, các dạng công
thức (CTPT, CTCT, CT lập
- Năng lực sử dụng danh thể…) của hợp chất hữu cơ.
- Hiểu và rút ra được các
20
tượng TN và rút ra kết các hiện tượng TN.
- Mô tả chính xác các hiện
luận; xử lý thông tin.
tượng TN.
- Giải thích một cách khoa
học các hiện tượng hóa học
đã xảy ra, viết được PTHH
và rút ra kết luận cần thiết.
2. Năng lực tính toán
Tính toán theo khối Vận dụng được thành thạo
lượng chất tham gia và phương pháp bảo toàn (bảo
tạo thành sau phản ứng. toàn khối lượng, bảo toàn
điện tích, bảo toàn electron,..
trong việc tính toán giải các
bài toán hóa học.
Tính toán theo mol chất Xác định được mối tương
tham gia và tạo thành quan giữa các chất hóa học
sau phản ứng.
tham gia vào phản ứng với
các thuật toán để giải các bài
toán đơn giản.
Tìm ra các mối quan hệ Sử dụng được thành thạo
và thiết lập được mối phương pháp đại số trong
quan hệ giữa kiến thức toán học và mối liên hệ với
hóa học và các phép các kiến thức hóa học để giải
toán.
các bài toán hóa học.
Vận dụng các thuật toán Sử dụng hiệu quả các thuật
kiến thức vào cuộc sống. hóa kiến thức.
Năng lực phân tích tổng
hợp kiến thức.
Năng lực phát hiện kiến
thức hóa học trong các
vấn đề, lĩnh vực khác
nhau.
Năng lực phát hiện và
giải thích các vấn đề hóa
học trong thực tiễn.
1.2.1.3.
duy với phán đoán.
- Thực hiện kế hoạch độc
lập, sáng tạo hoặc kết hợp
trong nhóm.
Thực hiện và đánh giá giải
pháp giải quyết vấn đề; suy
ngẫm về cách thức tiến hành
giải quyết vấn đề để điều
chỉnh và và vận dụng trong
tình huống mới.
Có năng lực hệ thống hóa
kiến thức, phân loại kiến
thức hóa học, hiểu rõ nội
dung, đặc điểm của nội dung
kiến thức đó. Lựa chọn kiến
quen với môn Hóa học [9].
1.2.1.4.
Mối quan hệ giữa năng lực, kiến thức, kỹ năng
Một năng lực là tổ hợp đo lường được các kiến thức, kĩ năng và thái độ mà một
người cần vận dụng để thực hiện một nhiệm vụ trong một bối cảnh thực và có nhiều
biến động. Để thực hiện một nhiệm vụ, một công việc có thể đòi hỏi nhiều năng lực
khác nhau. Vì năng lực được thể hiện thông qua việc thực hiện nhiệm vụ nên người
học cần chuyển hóa những kiến thức, kĩ năng, thái độ có được vào giải quyết những
tình huống mới và xảy ra trong môi trường mới.
Như vậy, có thể nói kiến thức là cơ sở để hình thành năng lực, là nguồn lực để
người học tìm được các giải pháp tối ưu để thực hiện nhiệm vụ hoặc có cách ứng xử
phù hợp trong bối cảnh phức tạp. Khả năng đáp ứng phù hợp với bối cảnh là đặc trưng
quan trọng của năng lực. Tuy nhiên, khả năng đó có được lại dựa trên sự đồng hóa và
sử dụng có cân nhắc những kiến thức, kĩ năng cần thiết trong từng hoàn cảnh cụ thể.
Những kiến thức là cơ sở để hình thành và rèn luyện năng lực là những kiến thức
mà người học phải năng động, tự kiến tạo, huy động được. Việc hình thành và rèn
luyện năng lực được diễn ra theo hình xoắn ốc, trong đó các năng lực có trước được sử
dụng để kiến tạo kiến thức mới, và đến lượt mình, kiến thức mới lại đặt cơ sở để hình
thành những năng lực mới.
Còn kĩ năng theo nghĩa hẹp là những thao tác, những cách thức thực hành, vận
dụng kiến thức, kinh nghiệm đã có để thực hiện một hoạt động nào đó trong môi
trường quen thuộc. Kĩ năng theo nghĩa rộng, bao hàm những kiến thức, những hiểu
biết và trải nghiệm,… giúp cá nhân có thể thích ứng khi hoàn cảnh thay đổi.
Như vậy, kiến thức, kĩ năng là cơ sở cần thiết để hình thành năng lực trong một
lĩnh vực hoạt động nào đó. Không thể có năng lực về việc giải bài toán hóa học nếu
không có kiến thức được thực hành và luyện tập trong những dạng bài toán khác nhau.
Tuy nhiên, nếu chỉ có kiến thức, kĩ năng trong một lĩnh vực nào đó thì chưa chắc đã
được coi là có năng lực, mà còn cần đến việc sử dụng hiệu quả các nguồn kiến thức, kĩ
năng cùng thái độ, giá trị, trách nhiệm bản thân để thực hiện thành công nhiệm vụ và
giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn khi điều kiện và bối cảnh thay đổi [5].
huống định lượng, định tính xuất phát từ việc quan sát, giải thích những hiện tượng, thí
nghiệm hóa học.
- NL thực hành NNHH: là khả năng sử dụng NNHH để biểu diễn, trình bày một
cách rõ ràng, logic các biểu tượng, thuật ngữ và danh pháp dựa trên việc hiểu các khái
niệm, định luật và quy tắc của bộ môn Hóa học.
- NL sáng tạo khi sử dụng NNHH: là khả năng phát hiện và thiết lập các quá
trình hóa học mới nhằm giải quyết các nhiệm vụ hay tình huống đã cho.
1.2.3.
Các biểu hiện của năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học
24
Dựa trên cơ sở của việc xác định cấu trúc NL SDNNHH, đặc điểm tâm sinh lý
của HSG trường THPT chuyên, chương trình hóa học lớp 10 THPT chuyên, kết hợp
với phương pháp chuyên gia, tác giả Trịnh Lê Hồng Phương và Đoàn Cảnh Giang đã
xác định các biểu hiện của NL SDNNHH theo hướng tiếp cận năng lực HS lớp 10
chuyên hóa học như sau [10]:
Bảng 1.2. Các biểu hiện của NL SDNNHH
Năng lực thành phần
Các biểu hiện của NL SDNNHH
1. Nhận ra các thông tin liên quan các yêu cầu của nhiệm
vụ, tình huống học tập hóa học mới.
2. Giải thích các kết quả, số liệu từ các nhiệm vụ, tình
NL tiếp nhận NNHH
huống học tập hóa học mới.
3. Tiếp thu NNHH từ việc giải thích các kết quả, số liệu
của các nhiệm vụ, tình huống học tập hóa học.
4. Biểu diễn các vấn đề hóa học bằng ngôn ngữ của bộ
Như vậy, bài tập hóa học là bài ra cho học sinh được giải quyết nhờ những suy
luận logic, những phép toán và những thí nghiệm trên cơ sở các khái niệm, định luật,
học thuyết và phương pháp hóa học.
1.3.2.
Tác dụng bài tập hóa học
Việc dạy học không thể thiếu bài tập, trong đó sử dụng BTHH để luyện tập là
một biện pháp hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học. BTHH có những ý
nghĩa, tác dụng to lớn về nhiều mặt [4], [32]:
• Ý nghĩa trí dục
- Làm chính xác hoá khái niệm, củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức một cách
sinh động, phong phú, hấp dẫn.
- Ôn tập, hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực nhất. Thực tế cho thấy học
sinh rất buồn chán nếu như chỉ nhắc lại kiến thức mà không được giải bài tập.
- Rèn các kỹ năng hoá học như cân bằng phương trình, tính toán, thực hành thí
nghiệm.
- Rèn khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống và bảo vệ môi trường.
- Rèn kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hoá học và các thao tác tư duy.