Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng lợn thịt huyện chương mỹ, thành phố hà nội - Pdf 35

1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1

Tính cấp thiết của đề tài
Thịt lợn là một thực phẩm bổ dưỡng, phổ biến nhất trong các bữa ăn

của con người. Chăn nuôi lợn từ lâu đã là một ngành kinh tế quan trọng đóng
góp giá trị lớn trong giá trị sản xuất nông nghiệp và đặc biệt có ý nghĩa lớn
trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn. Huyện
Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây nay thuộc thành phố Hà Nội là huyện có ngành
chăn nuôi phát triển rất sớm. Từ những năm đầu thế kỷ 20 người dân nơi đây
đã biết chăn nuôi lợn nhằm phát triển kinh tế gia đình, đến nay cùng với sự
phát triển của kỹ thuật, công nghệ chăn nuôi và nhu cầu tiêu dùng của xã hội
thì ngành chăn nuôi đã không ngừng phát triển. Chăn nuôi ngày càng được
chuyên môn hoá, mô hình trang trại chăn nuôi qui mô lớn, trang thiết bị hiện
đại, đảm bảo vệ sinh môi trường đang là xu hướng phát triển chủ đạo. Sản
phẩm của ngành chăn nuôi tỉnh Hà Tây cũ nói chung và huyện Chương Mỹ
nói riêng có mặt ở khắp nơi và đặc biệt chiếm thị phần lớn trong thị trường
Hà Nội. Trong chiến lược phát triển kinh tế huyện giai đoạn 2005 -2010 thì
ngành chăn nuôi chiếm một vị trí quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu
kinh tế nông nghiệp, phát triển kinh tế hộ và kinh tế trang trại.
Đến hết năm 2008, qui mô đàn lợn trên địa bàn huyện là hơn một trăm
nghìn con, Sản lượng thịt lợn thương phẩm đạt gần 20 nghìn tấn một năm, là
nguồn thực phẩm chất lượng cung cấp cho nhu cầu trong huyện và thị trường Hà
Nội. Định hướng phát triển chăn nuôi trên địa bàn huyện là mở rộng sản xuất với
việc quy hoạch khu chăn nuôi tập trung, cách xa khu dân cư và khuyến khích
phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm hướng tới mục tiêu phát triển mạnh
mẽ kinh tế nông nghiệp, giải quyết công ăn việc làm và tạo thu nhập ổn định cho
người dân trong huyện. Có thể nói ngành chăn nuôi lợn đang có một cơ hội phát

1

2


hiện nay mà ngành hàng thịt lợn đang phải đối mặt.
Để có sự nhìn nhận một cách hệ thống trên cơ sở phân tích mối quan hệ
nhiều chiều giữa các tác nhân trong ngành hàng thịt lợn và đề xuất các giải
pháp khắc phục khó khăn trong quá trình phát triển chuỗi, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng lợn thịt huyện
Chương Mỹ, thành phố Hà Nội”.
1.2

Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích chi tiết thực trạng các tác nhân tham gia trong
chuỗi giá trị lợn thịt ở huyện Chương Mỹ, phát hiện điểm thuận lợi và những
khó khăn trong quá trình hoạt động của chuỗi, từ đó đề xuất các giải pháp khả
thi nhằm phát huy thuận lợi, khắc phục khó khằm nâng cao hiệu quả hoạt
động của chuỗi mang lại lợi ích cao hơn cho tất cả các tác nhân tham gia
chuỗi.
1.2.2 Mục tiêu cụ thê
- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về phân tích chuỗi giá trị nói chung
và chuỗi giá trị thịt lợn nói riêng.
- Phân tích thực trạng hoạt động và mối quan hệ giữa các tác nhân tham
gia chuỗi giá trị thịt lợn Chương Mỹ những năm qua.
- Lập bản đồ chuỗi giá trị, nghĩa là xây dựng một sơ đồ có thể quan sát
bằng mắt thường về hệ thống chuỗi giá trị. Các bản đồ này có nhiệm vụ định
dạng các hoạt động kinh doanh , các nhà vận hành chuỗi và những mối liện
kết của họ, cũng như các nhà hỗ trợ chuỗi nằm trong chuỗi giá trị này. Các
bản đồ chuỗi là cốt lõi của phân tích chuỗi giá trị, là yếu tố không thể thiếu.

1.4

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về
Chuỗi giá trị lợn thịt.
Sản phẩm của ngành hàng là thịt lợn, gồm thịt lợn siêu nạc và lợn lai ¾
máu ngoại, là hai giống lợn được nuôi phổ biến trên địa bàn huyện Chương
Mỹ.

4


1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
1.4.2.1 Về không gian
Đề tài nghiên cứu trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
Đối tượng là các hộ kinh doanh thu gom, giết mổ, buôn bán thịt lợn trên địa
bàn huyện và các hộ chăn nuôi trên địa bàn một số xã trên địa bàn huyện
Chương Mỹ.
1.4.2.2 Về thời gian
Các dữ liệu, thông tin được sử dụng để đánh giá thực trạng sản xuất thịt
lợn ở địa phương, hộ chăn nuôi lợn được thu thập trong 3 năm 2006 – 2008,
trong đó tập trung tìm hiểu tình hình sản xuất, tiêu thụ lợn thịt năm 2008. Các
giải pháp, đề xuất tháo gỡ khó khăn từ khâu sản xuất đến tiêu thụ để phát triển
chuỗi giá trị đến năm 2015.
1.4.2.3 Về nội dung
Tập trung phân tích chuỗi giá trị ngành hàng lợn thịt theo các mục tiêu
cụ thể để đạt được mục tiêu chung đã đề ra ở trên.
Nghiên cứu tập trung các lĩnh vực sản xuất, thu gom, giết mổ, buôn

Mô hình kinh doanh này cho phép các khách hàng cụ thể được sử dụng một
công nghệ cụ thể và là một cách điều phối đặc biệt giữa hoạt động sản xuất và
Marketing giữa nhiều doanh nghiệp. [1]
Trong cuốn “Phân tích chuỗi giá trị - Lý thuyết và kinh nghiệm từ
nghiên cứu ngành chè Việt Nam” do Quỹ MISPA tài trợ, các nhà nghiên cứu
đã đưa ra khái niệm chuỗi giá trị giản đơn và chuỗi giá trị mở rộng. theo đó:
- Chuỗi giá trị giản đơn là chuỗi hoạt động trong các khâu cơ bản từ
điểm khởi đầu đến điểm kết thúc của sản phẩm, ví dụ thiết kế -> sản xuất ->
phân phối -> tiêu dùng.

6


- Chuỗi giá trị mở rộng chi tiết hoá các hoạt động và các khâu của
chuỗi giá trị giản đơn để thấy rõ nhiều bên tham gia (stakeholder) và liên
quan đến nhiều chuỗi giá trị khác nhau
b) Ngành hàng
Vào những năm 1960 phương pháp phân tích ngành hàng (Filiere) sử
dụng nhằm xây dựng các giải pháp thúc đẩy các hệ thống sản xuất nông
nghiệp. Các vấn đề được quan tâm nhiều nhất đó là làm thế nào để các hệ
thống sản xuất tại địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thương
mại, xuất khẩu và tiêu dùng nông sản. Bước sang những năm 1980, phân tích
ngành hàng được sử dụng và nhấn mạnh vào giải quyết các vấn đề chính sách
của ngành nông nghiệp, sau đó phương pháp này được phát triển và bổ sung
thêm sự tham gia của các vấn đề thể chế trong ngành hàng.
Đến những năm 1990, có một khái niệm được cho là phù hợp hơn trong
nghiên cứu ngành hàng nông sản do J.P Boutonnet đưa ra đó là: "Ngành hàng
là một hệ thống được xây dựng bởi các tác nhân và các hoạt động tham gia
vào sản xuất, chế biến, phân phối một sản phẩm và bởi các mối quan hệ giữa
các yếu tố trên cũng như với bên ngoài" (J.P Boutonnet, INRA.France).

vùng, mọi tầng lớp của nhân dân trong nước và đó là cơ sở không thể thiếu
được để sản phẩm trở thành hàng hoá. Điều kiện cần thiết của chuyển dịch về
mặt không gian là sự hoàn thiện của cơ sở hạ tầng, công nghệ chế biến và
chính sách mở rộng giao lưu kinh tế của Chính phủ.
- Sự dịch chuyển về mặt tính chất (hình thái của sản phẩm)
Hình dạng và tính chất của sản phẩm bị biến dạng qua mỗi lần tác động
của công nghệ chế biến. Chuyển dịch về mặt tính chất làm cho chủng loại sản
phẩm ngày càng phong phú và nó được phát triển theo sở thích của người tiêu
dùng và trình độ chế biến. Hình dạng và tính chất của sản phẩm bị biến dạng
càng nhiều thì càng có nhiều sản phẩm mới được tạo ra.
Trong thực tế, sự chuyển dịch của các luồng vật chất này diễn ra rất

8


phức tạp và phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố về tự nhiên, công nghệ và
chính sách. Hơn nữa, theo Fabre thì “ngành hàng là sự hình thức hoá dưới
dạng mô hình đơn giản làm hiểu rõ tổ chức của các luồng (vật chất hay tài
chính) và của các tác nhân hoạt động tập trung vào những quan hệ phụ thuộc
lẫn nhau và các phương thức điều tiết”.
c) Tác nhân
Tác nhân là một tế bào sơ cấp với các hoạt động kinh tế, độc lập và tự
quyết định hành vi của mình. Có thể hiểu rằng, tác nhân là những hộ, những
doanh nghiệp, những cá nhân tham gia trong ngành hàng thông qua hoạt động
kinh tế của họ. Tác nhân được phân ra làm hai loại:
- Tác nhân có thể là người thực (hộ nông dân, hộ kinh doanh,...)
- Tác nhân là đơn vị kinh tế (các doanh nghiệp, công ty, nhà máy...)
Theo nghĩa rộng người ta phân tác nhân thành từng nhóm để chỉ tập
hợp các chủ thể có cùng một hoạt động. Ví dụ tác nhân “nông dân” để chỉ tập
hợp tất cả các hộ nông dân; tác nhân “thương nhân” để chỉ tập hợp tất cả các

tiên đến tác nhân cuối cùng sẽ tạo nên các luồng hàng trong một ngành hàng.
Luồng hàng thể hiện sự lưu chuyển các luồng vật chất do kết quả hoạt
động kinh tế của hệ thống tác nhân khác nhau ở từng công đoạn sản xuất, chế
biến và lưu thông đến từng chủng loại sản phẩm cuối cùng. Chủng loại sản
phẩm cuối cùng càng phong phú thì luồng hàng trong một ngành hàng càng
nhiều. Điều đó có ý nghĩa lớn trong quá trình tổ chức và phát triển sản xuất vì
sự luân chuyển của luồng vật chất qua từng tác nhân trong các luồng hàng đã
làm cho mọi tác nhân trong ngành hàng trở thành người sản xuất sản phẩm
hàng hoá.
Mặt khác, việc bố trí lại lao động giữa các khâu trong quá trình phát
triển của chuỗi hàng tạo nên sự chuyển dịch lao động từ khâu sản xuất đến
khâu chế biến và lưu thông để nối dài chuỗi hàng, từ đó sẽ tạo điều kiện cho

10


sự phân công lao động xã hội phát triển và kích thích quá trình sản xuất hàng
hoá, tạo ra nhiều loại sản phẩm phong phú hơn, thoả mãn đầy đủ hơn thị hiếu
tiêu dùng của xã hội. Mọi luồng hàng đều bắt đầu từ một tác nhân ở khâu sản
xuất đầu tiên và kết thúc ở một địa chỉ tiêu thụ cuối cùng.
f) Sản phẩm
Là một nhóm sản phẩm có chung các đặc tính vật lý hữu hình cũng như
các dịch vụ có chung đặc tính được bán cho khách hàng. Chuỗi giá trị được
xác định bởi một sản phẩm hay một nhóm sản phẩm. ví dụ như chuỗi giá trị
rau tươi, chuỗi giá trị cà chua, chuỗi giá trị thịt lợn…
g) Chuỗi cung và quản lý chuỗi cung
Khái niệm chuỗi cung cũng tương tự như chuỗi giá trị. Sự khác biệt là ở
chỗ chuỗi cung nói đến một loạt các chức năng sản xuất (đầu chuỗi) và
marketing (cuỗi chuỗi) của các doanh nghiêp tư nhân, chủ yếu là các công ty
đầu mối. Do đó quản lý chuỗi cung là một công cụ quản lý kinh doanh hơn là

Trong ngành hàng, mỗi tác nhân đều tạo ra sản phẩm riêng của mình.
Trừ những sản phẩm bán lẻ cuối cùng, sản phẩm của mọi chức năng khác
chưa phải là sản phẩm cuối cùng của ngành hàng mà chỉ là kết quả của hoạt
động kinh tế, là “đầu ra” của quá trình sản xuất kinh doanh của từng tác nhân.
Sản phẩm của tác nhân trước là chi phí trung gian của các tác nhân kề sau nó.
Chỉ có sản phẩm của tác nhân cuối cùng trước khi đến tay người tiêu dùng
mới là sản phẩm cuối cùng của ngành hàng. Chủng loại sản phẩm khá đa
dạng, nên trong phân tích ngành hàng thường chỉ phân tích sự vận hành của
các sản phẩm chính.
2.1.1.2 Nội dung chính trong Phân tích chuỗi giá trị
Theo định nghĩa về Chuỗi giá trị là một hệ thống kinh tế được tổ chức
xoay quanh một hàng hoá thương mại cụ thể. Sự phối hợp các hoạt động kinh
doanh trong chuỗi giá trị là rất cần thiết để cung cấp đúng chất lượng và số
lượng của sản phẩm cho các khách hàng cuối cùng. Các doanh nghiệp phải

12


phối hợp với nhau để đi đến thành công. Do đó, Chuỗi giá trị:
- kết nối các hoạt động kinh doanh (sản xuất, chế biến, marketing,vv)
cần thiết để phục vụ khách hàng, và
- Liên kết và điều phối các doanh nghiệp (nhà sản xuất sơ cấp, công
nghiệp chế biến, các thương gia, vv) thực hiện các hoạt động kinh
doanh này.
Trong quá trình phát triển kinh tế, sự tuỳ thuộc và tương tác lẫn nhau
giữa các hoạt động kinh doanh và các doanh nghiệp khác nhau đã ngày càng
trở nên quan trọng. Một mặt toàn cầu hoá làm tăng áp lực cạnh tranh và áp
lực về giá. Mặt khác, khách hàng đang có nhu cầu ngày càng tăng về các sản
phẩm có chất lượng cao, tươi mới và thời trang. Cả hai xu hướng đều làm
tăng mức độ hoà nhập và tuỳ thuộc lẫn nhau. ở một chuỗi phát triển ở trình độ

hợp đồng liên kết được ký trước. Loại hình liên kết tuỳ thuộc vào chất lượng
và tính phức tạp của sản phẩm cuối cùng. Nhìn chung các giao dịch phi điều
phối (“các thị trường chợ đen”) thường tỏ ra rất hiệu quả trên thị trường địa
phương hay đối với các sản phẩm có chất lượng kém. Nếu người tiêu dùng
cuối cùng đòi hỏi sản phẩm có chất lượng cao và ổn định thì việc kiểm soát
các nguồn cung trở thành một yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh. Như vậy
các liên kết giữa những nhà cung cấp và người mua cần phải ổn định và chắc
chắn hơn, đồng thời, có xu hướng được chính thức hoá trong các hợp đồng. vì
vậy đã có sự phân biệt giữa giao dịch phi điều phối trên thị trường tự do với
các mối quan hệ hợp đồng bền vững và ở một thái cực khác là mối liên kết
theo chiều dọc giữa người mua và các nhà cung cấp.
- Lập bản đồ các nhà hỗ trợ chuỗi.
* Lượng hoá và mô tả chi tiết chuỗi giá trị bao gồm các con số kèm
theo bản đồ chuỗi cơ sở:
- Về số lượng chủ thể
- Số lượng việc làm và người lao động của mỗi nhóm nhà vận hành

14


- Số lượng nhà vận hành là người nghèo
- Tỷ trọng các dòng sản phẩm của các tiểu chuỗi/ các kênh phân phối
khác nhau
- Lượng sản xuất hay thị phần của các phân đoạn cụ thể trong chuỗi.
- Thị phần của chuỗi giá trị tích kinh tế.
* Phân tích kinh tế
+ Phân tích kinh tế bao gồm đánh giá toàn bộ giá trị gia tăng được tạo
ra boỉư chuỗi giá trị và tỷ trọng của các giai đoạn khác nhau; chi phí
marketing và chi phí sản xuất tại mỗi giai đoạn trong chuỗi, cấu trúc cảu chi
phí trong các giai đoạn của chuỗi; năng lực của các nhà vận hành (năng lực

Công thức tính: VA = TR – IC. Giá trị gia tăng VA có thể bằng 0,
dương hoặc âm.
Giá trị gia tăng là phần không tính trùng giữa các tác nhân. Vì vậy, trong
nền kinh tế quốc dân, tập hợp toàn bộ giá trị gia tăng của mọi tác nhân sẽ tạo nên
tổng sản phẩm quốc dân của đất nước (GNP = ∑VA). Như vậy, nếu một tác
nhân nào đó có VA > 0 thì nghĩa là tác nhân đó đã góp phần tạo nên GNP cho
nền kinh tế.
Giá trị gia tăng VA cũng sẽ được tính khác nhau trong phân tích tài
chính và phân tích kinh tế.
- Thu nhập hỗn hợp (MI)
Là phần thu nhập hộ nhận được sau khi lấy phần giá trị gia tăng (VA)
trừ đi phần khấu hao tài sản cố định (A) và thuế (T).
Công thức tính: MI = VA – (A + T)
- Khấu hao tài sản cố định (A)
Có 3 phương pháp tính khấu hao, đó là: khấu hao đường thẳng, khấu
hao theo số dư giảm dần, khấu hao theo số lượng sản phẩm dựa trên tổng số
đơn vị sản phẩm ước tính tài sản có thể tạo ra.
Theo qui định của VAS (03) thì tài sản cố định là chuồng trại chăn nuôi

16


(có chu kỳ khai thác từ 6 –20 năm) được tính khấu hao theo phương pháp
khấu hao đường thẳng. Mức khấu hao trung bình hàng năm của chuồng trại
được tính = (Nguyên giá tài sản cố định/số năm khai thác).
Để tính nguyên giá TSCĐ là chuồng trại chăn nuôi phải tập hợp tất cả
các chi phí xây dựng vào tài khoản 241 sau đó mới hình thành tài sản cố định.
Thời điểm ghi nhận TSCĐ là thời điểm kết thúc giai đoạn xây mới, đưa
chuồng trại vào khai thác. Các chi phí sửa chữa nhỏ trong giai đoạn sử dụng
tính vào chi phí hoạt động trong kỳ.

2.2

Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lợn thịt trên thế giới và Việt Nam
2.2.1.1 Tình hình chung về sản xuất và tiêu thụ thịt lợn trên thế giới
Theo thống kê của FAO (2008) tổng đàn lợn toàn thế giới năm 2000 là
895.733,4 nghìn con, đến năm 2007 là 918.278,5 nghìn con. Trong đó phân
bố không đều giữa các châu lục.
Châu Á luôn luôn là châu lục có số lượng đàn lợn cao nhất thế giới.
Theo thống kê năm 2007 Châu Á có 535.076,8 nghìn con, châu Âu đứng ở vị
trí thứ hai với khoảng 198.039,7 nghìn con, ít nhất là châu Đại Dương với
5.510,97 nghìn con. Nước có đầu lợn cao nhất thế giới là Trung Quốc: Năm
2000 có 438.785,2 nghìn con, chiếm 48,99% số lượng lợn toàn thế giới, năm
Việt Nam đứng thứ năm với 26.561 nghìn con năm 2007.
Trong vòng 10 năm (1998-2008) mức tăng trưởng hàng năm đàn lợn
toàn thế giới là 2.52%, chứng tỏ tăng không nhiều. Tùy theo nhu cầu của từng
nước mà có mức tăng giảm khác nhau. Riêng nhu cầu về các loại thịt thì đều
tăng ở hầu hết các nước trên thế giới.
Trung Quốc: Là nước có qui mô chăn nuôi lợn lớn nhất thế giới. số lượng
đầu lợn chiếm gần 50% đàn lợn toàn thế giới. Với dân số 1,2 tỉ người nhu cầu
tiêu dùng trong nước cũng là vô cùng lớn. Người Trung Quốc cũng nổi tiếng
với tính sáng tạo năng suất lao động cao nên luôn đi đầu trong việc giảm giá

18


thành sản xuất. Với qui mô đàn lợn quá lớn như vậy nên ngành thịt lợn Trung
Quốc có sức mạnh chi phối lớn với ngành thịt lợn toàn thế giới. Trong những
nước đi tiên phong về công nghệ xử lý môi trường chăn nuôi thì Trung Quốc

Năm 2008 có 17.635 trong đó Đồng Bằng Sông Hồng có 8.103 trang trại,
nhiều nhất cả nước.
Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng
Năm

ĐVT

Số lượng lợn 1000con
Sản lượng
Tấn

2000

2004

2005

2006

20194 26144 27435 26855
1.428,1 1.012,0 2.288,3 2.505,0

2007

Sơ bộ
2008

26561
2662,7 2.771,0


vẫn còn hạn chế.
Chưa có công trình nào nghiên cứu về nâng cao hiệu quả hoạt động
của chuỗi giá trị ngành hàng lợn thịt trong mối liên hệ giữa các tác nhân
trong một chuỗi. Thực tế trong một thị trường phát triển để sản phẩm thực
phẩm đến được thị trường đòi hỏi trang trại sản xuất ra sản phẩm phải được
cấp giấy chứng nhận sản phẩm đó và mỗi tác nhân đều chịu trách nhiệm về
chất lượng sản phẩm của mình đến người tiêu dung cuối cùng. Do vậy
nghiên cứu phát triển chuỗi giá trị là cần thiết trong điều kiện hội nhập kinh
tế quốc tế hiện nay.
2.2.4 Các nhân tố ảnh hương đến chuỗi giá trị lợn thịt
Quá trình nghiên cứu tổng quan ngành hàng lợn thịt trên thế giới và
Việt Nam, chúng tôi rút ra một số nhân tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị lợn thịt
như sau:
- Nhu cầu tiêu dùng thịt lợn chất lượng cao trên thị trường thế giới và
trong nước ngày càng tăng.
- Hiệu quả kinh tế của việc chăn nuôi lợn, cùng với tính thích nghi rộng
của con lợn làm cho diện tích chăn nuôi lợn trên thế giới liên tục tăng
qua các năm.
- Yêu cầu của người tiêu dùng về sản phẩm có thương hiệu, nhãn mác,

21


xuất xứ rõ ràng và được sản xuất theo qui trình sạch bệnh, an toàn ngày
càng trở nên phổ biến và dần trở thành những yêu cầu bắt buộc khi đưa
sản phẩm ra thị trường. Thông tin xung quanh vấn đề vệ sinh an toàn
thực phẩm cũng có nhiều tác động tới thị trường thịt lợn. Bên cạnh đó
các cơ quan quản lý nhà nước cũng đang xây dựng các qui định nhằm
quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm tốt hơn.
- Ảnh hưởng của dịch bệnh làm giảm khả năng cung ứng thịt lợn của các

Sơn Tây, có đường quốc lộ 6, 21A, tỉnh lộ 80 chạy qua nối liền huyện với các tỉnh
Tây Bắc, thủ đô Hà Nội và các huyện khác trong tỉnh. Có 3 con song chảy qua địa
bàn huyện là sông Đáy, sông Bùi và song Tích tạo cho huyện tiềm năng tự nhiên
thật đa dạng: vừa có núi, vừa có sông, vừa có đồng bằng phù sa tươi tốt. Huyện lại
nằm trong tam giác du lịch nổi tiếng: Hà Nội – Bà Vì – Chùa Hương.
Với vị trí địa lý như vậy, Chương Mỹ có nhiều lợi thế để phát triển đa
dạng nền nông nghiệp hàng hóa:
- Có thị trường tiêu thụ nông lâm sản rộng lớn: Hà Nội, Hà Đông, Hòa
Bình và các vùng phụ cận.
- Mạng lưới giao thông thuận tiện tạo điều kiện tốt để mở rộng giao lưu
hàng hóa, tăng khả năng cạnh tranh cho các sản phẩm của địa phương như các

23


mặt hàng tươi sống, hàng chế biến nông, lâm, thủy sản, hàng tiêu dùng, thủ
công mỹ nghệ…
- Có điều kiện để phát triển nhiều loại hình du lịch trong tuyên du lịch Hà
Nội – Ba Vì – Chùa Hương, vì vậy nền nông nghiệp có điều kiện đa dạng hóa
sản phẩm phục vụ cho khách du lịch.
- Chương Mỹ nằm trong vùng quy hoạch hành lang phát triển của thủ đô
Hà Nội về phía tây nên sẽ thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước xây
dựng các cơ sở công nghiệp (đặc biệt là công nghiệp chế biến), cơ sở nghiên
cứu và chuyển giao khoa học công nghệ. Điều này, một mặt tạo công ăn việc
làm tại chỗ cho nhân dân, tăng thu nhập, mặt khác giúp cho nhân dân tiếp xúc
và vận dụng những tiến bộ khoa học, công nghệ và kỹ thuật mới trong đời
sống sinh hoạt và sản xuất.
3.1.1.2 Điều kiện khí hậu thời tiết
Chương Mỹ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa của vùng Đồng
bằng Bắc bộ, là vùng có khí hậu chuyển tiếp giữa vùng núi Tây Bắc với vùng

+ Đất nông nghiệp: 14.978,68 ha. Trong đó diện tích sản xuất lúa, màu là
11.496,17 ha, chiếm 76,75% tổng diện tích đất nông nghiệp.
+ Đất lâm nghiệp: 324,67 ha.
+ Đất ở: 1.441,46 ha.
+ Đất chưa sử dụng: 1.127,47 ha.
Do cấu tạo tự nhiên, địa hình của Chương Mỹ được chia thành ba vùng:
+ Vùng đồi gò gồm 17 xã, diện tích đất tự nhiên của vùng là 14.911,42 ha
chiếm 64,2% tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện. Địa hình của vùng có độ
dốc đặc trưng từ Tây sang Đông. Đặc điểm của vùng là địa hình bị chia cắt
bởi đồi gò và đồng ruộng. Các đồi gò chủ yếu là đồi, gò thấp, có độ dốc trong
khoảng từ 50 - 20 0. Diện tích đồi núi có độ dốc cao không nhiều (11,31%) so
với tổng diện tích đất tự nhiên của vùng. Đây là vùng có tiềm năng phát triển

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status