ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÔ THỊ MAI
Tên đề tài:
PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ NGÀNH HÀNG MIẾN DONG
BÌNH LIÊU TẠI XÃ ĐỒNG TÂM HUYỆN BÌNH LIÊU
TỈNH QUẢNG NINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
:
Chính quy
Chuyên ngành
:
Phát triển nông thôn
Khoa
:
Kinh tế & PTNT
Khóa học
:
2011 - 2015
:
ThS. Vũ Thị Hiền
Thái Nguyên - 2015
i
LỜI CẢM ƠN
Thực hiện phương châm “học đi đôi với hành, lý thuyết gắn với thực
tiễn” của các trường chuyên nghiệp nói chung và trường Đại học Nông lâm
Thái Nguyên nói riêng. Thực tập tốt nghiệp là bước quan trọng của sinh viên
cuối khóa. Đây là giai đoạn rất quan trọng nhằm củng cố kiến thức đã học
trên ghế nhà trường đồng thời nâng cao kỹ năng thực hành.
Được sự nhất trí của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, ban chủ
nhiệm khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài
"Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng miến dong Bình Liêu tại xã Đồng Tâm
huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh".
Trong thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô
giáo trong khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn và đặc biệt là sự giúp đỡ nhiệt tình
của giảng viên Th.s Vũ Thị Hiền, cùng sự giúp đỡ tận tình của các các bộ tại Ủy
ban Nhân dân xã Đồng Tâm. Tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới
các thầy cô giáo cùng toàn thể các cán bộ UBND xã Đồng Tâm.
Với khả năng và thời gian có hạn, do đó bản đề tài của tôi không thể
tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến
của các thầy cô để bản đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2015
iii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1: Sơ đồ ngành hàng miến dong Bình Liêu tại xã Đồng Tâm 37
Hình 4.2 Quy trình chế biến miến dong thủ công 40
Hình 4.3 Quy trình chế biến miến dong tại công ty chế biến miến dong 42
Hình 4.4 Chuỗi giá trị gia tăng của các tác nhân theo kênh phân phối 51
Xúc tiến thương mại v
MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Các quan điểm và khái niệm về ngành hàng 4
2.1.2 Chuỗi 7
2.1.3 Cấu trúc của ngành hàng 7
2.1.4 Nội dung và các bước trong phân tích ngành hàng 10
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 13
4.3.2. Vùng cung ứng nguyên liệu đầu vào 55
4.3.3. Công nghệ chế biến 56
4.3.4. Lao động 57
4.3.5. Các chính sách kinh tế của Nhà nước 58
4.3.6 Phân tích SWOT 58
4.4 Giải pháp chủ yếu phát triển ngành hàng miến dong Bình Liêu 64
4.4.1 Định hướng chung 64
4.4.2 Các giải pháp chính 65
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 71
5.1 Kết luận 71
5.2 Kiến nghị 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75 1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Là một xã thuộc huyện miền núi còn nhiều khó khăn, những năm qua
Đảng bộ, chính quyền các cấp xã Đồng Tâm đã tập trung chỉ đạo phát triển
những lĩnh vực mà xã có tiềm năng, phát huy tối đa mọi nguồn lực sẵn có của
địa phương, tăng cường mở rộng hợp tác phát triển kinh tế, thu hút các nguồn
lực từ bên ngoài nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội tại địa phương.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, bên cạnh việc phát huy lợi thế đất rừng để
phát triển lâm nghiệp, lợi thế về điều kiện tự nhiên để phát triển các loại cây
cao sản có giá trị kinh tế cao trong đó đặc biệt xã chú trọng tới khôi phục và
phát triển nghề trồng và chế biến miến dong. Dong riềng là một trong những
cây trồng có độ che phủ khá lớn, do cây được trồng vào mùa xuân, thu hoạch
giữa mùa khô sẽ có tác dụng hạn chế dòng chảy, chống xói mòn đất. Ngoài ra,
trạng ngành hàng miến dong của xã, huyện để tìm ra những điểm mạnh điểm
yếu, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất miến dong, đưa ra những giải pháp
hợp lý để phát triển ngành hàng miến dong trong thời gian tới. Từ những vấn
đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng
miến dong Bình Liêu tại xã Đồng Tâm huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh" .
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu phân tích thực trạng ngành hàng miến dong, hoạt động của
các tác nhân trong ngành hàng, các yếu tố ảnh hưởng đến ngành hàng, từ đó
đề xuất định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển ngành hàng miến
dong Bình Liêu góp phần tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho các hộ nông
dân ở xã Đồng Tâm, huyện Bình Liêu 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Xác định các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị ngành hàng miến dong
Bình Liêu trên địa bàn xã Đồng Tâm, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh
Phân tích thực trạng ngành hàng miến dong Bình Liêu: Lập sơ đồ ngành
hàng, phân tích kinh tế và xác định lợi ích các tác nhân tham gia ngành hàng
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ngành hàng: xác định những lợi thế
và cơ hội, những cản trở và nguy cơ thách thức của các tác nhân trong ngành
hàng
Đề xuất các giải pháp hành động để thực hiện chiến lược phát triển
ngành hàng miến dong Bình Liêu trong thời gian tới.
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học
Củng cố kiến thức từ cơ sở đến chuyên ngành đã học trong trường, ứng
dụng kiến thức đó trong thực tiễn.
Rèn luyện kỹ năng thu thập thông tin và xử lý số liệu, viết báo cáo.
vào sản xuất, chế biến, phân phối một sản phẩm và bởi các mối quan hệ giữa
các yếu tố trên cũng như với bên ngoài". ( J.P Boutonnet, INRA France)
Theo Fabre: “Ngành hàng được coi là tập hợp các tác nhân kinh tế (hay
các phần hợp thành các tác nhân) quy tụ trực tiếp vào việc tạo ra các sản phẩm
cuối cùng”. Như vậy, ngành hàng đã vạch ra sự kế tiếp của các hành động
xuất phát từ điểm ban đầu tới điểm cuối cùng của một nguồn lực hay một sản
phẩm trung gian, trải qua nhiều giai đoạn của quá trình gia công, chế biến để
tạo ra một hay nhiều sản phẩm hoàn tất ở mức độ của người tiêu thụ.[7] Có
thể hiểu ngành hàng là “Tập hợp những tác nhân (hay những phần hợp thành
tác nhân) kinh tế đóng góp trực tiếp vào sản xuất tiếp đó là gia công, chế biến
và tiêu thụ ở một thị trường hoàn hảo của sản phẩm nông nghiệp”.[1]
5
Như vậy, nói đến ngành hàng là ta hình dung đó là một chuỗi, một quá
trình khép kín, có điểm đầu và điểm kết thúc, bao gồm nhiều yếu tố động, có
quan hệ móc xích với nhau. Sự tăng lên hay giảm đi của yếu tố này có thể
ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới các yếu tố khác. Trong quá trình vận
hành của một ngành hàng đã tạo ra sự dịch chuyển các luồng vật chất trong
ngành hàng đó.
Sự dịch chuyển được xem xét theo 3 dạng như sau: [1]
- Sự dịch chuyển về mặt thời gian
Sản phẩm được tạo ra ở thời gian này lại được tiêu thụ ở thời gian
khác. Sự dịch chuyển này giúp ta điều chỉnh mức cung ứng thực phẩm theo
mùa vụ. Để thực hiện tốt sự dịch chuyển này cần phải làm tốt công tác bảo
quản và dự trữ thực phẩm.
- Sự dịch chuyển về mặt không gian
Trong thực tế, sản phẩm được tạo ra ở nơi này nhưng lại được dùng ở nơi
khác. Ở đây đòi hỏi phải nhận biết được các kênh phân phối của sản phẩm. Sự
dịch chuyển này giúp ta thoả mãn tiêu dùng thực phẩm cho mọi vùng, mọi
tầng lớp của nhân dân trong nước và đó là cơ sở không thể thiếu được để sản
chính là chức năng của nó trong chuỗi hàng. Tên chức năng thường trùng với
tên tác nhân. Ví dụ, hộ sản xuất có chức năng sản xuất, hộ chế biến có chức
năng chế biến, hộ bán buôn có chức năng bán buôn Một tác nhân có thể có
một hay nhiều chức năng. Các chức năng kế tiếp nhau tạo nên sự chuyển dịch
về mặt tính chất của luồng vật chất trong ngành hàng.
Trên thực tế có một số tác nhân chỉ tham gia vào một ngành hàng nhất
định và có nhiều tác nhân có mặt trong nhiều ngành hàng của nền kinh tế
quốc dân. Có thể phân loại các tác nhân thành nhóm tùy theo bản chất hoạt
động chủ yếu trong ngành hàng như sản xuất, chế biến, tiêu thụ và dịch vụ.
2.1.1.3 Mạch hàng
Là khoảng cách giữa hai tác nhân, mạch hàng mang nhiều mối quan hệ
kinh tế giữa hai tác nhân và những hoạt động chuyển dịch sản phẩm. Qua mỗi
7
tác nhân giá trị của sản phẩm tăng lên, do sự sáng tạo và chất lượng cùng với
tác dụng cũng tăng lên.
Mỗi tác nhân có thể tham gia vào nhiều mạch hàng, tức là sẽ có nhiều
mối quan hệ với các tác nhân chuỗi càng chặt chẽ, vậy chuỗi hàng từ đó càng
bền vững
2.1.1.4 Luồng hàng
Là nhiều mạch hàng được sắp xếp theo thứ tự từ tác nhân đầu tiên đến
tác nhân cuối cùng sẽ tạo nên các luồng hàng trong một ngành hàng.
Luồng hàng tạo nên một hệ thống tác nhân khác nhau từ công đoạn sản
xuất => chế biến => lưu thông sản phẩm cuối cùng. Sản phẩm cuối cùng càng đa
dạng, phong phú thì luồng hàng trong ngành hàng càng nhiều. Mỗi luồng hàng
cũng đều bắt đầu từ tác nhân ở khâu đầu tiên và tới nơi tiêu thụ cuối cùng.
2.1.2 Chuỗi
Chuỗi giá trị là chuỗi của các hoạt động. Sản phẩm đi qua tất cả các hoạt
động của các chuỗi theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản phẩm thu được một
số giá trị nào đó. Chuỗi các hoạt động cung cấp cho các sản phẩm nhiều giá
phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng. Nói cách khác, kênh tiêu thụ là hệ thống
các quan hệ của một nhóm các tổ chức và cá nhân tham gia vào quá trình phân
phối hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng.
Kênh tiêu thụ là tập hợp những cá nhân hay cơ sở sản xuất kinh doanh
độc lập và phụ thuộc lẫn nhau, tham gia vào quá trình tạo ra dòng vận chuyển
hàng hóa, dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Có thể nói đây là
một nhóm tổ chức và cá nhân thực hiện các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu
của người mua và tiêu dùng hàng hóa của người sản xuất. Tất cả những người
tham gia vào kênh phân phối được coi là thành viên của kênh, các thành viên
9
nằm giữa người sản xuất và người tiêu dùng là trung gian thương mại, các
thành viên này tham gia nhiều kênh phân phối và thực hiện các chức năng
khác nhau.
- Nhà bán buôn: là những trung gian hàng hóa, dịch vụ cho các trung
gian khác như các nhà bán lẻ hoặc nhà sử dụng công nghiệp.
- Nhà bán lẻ: là những trung gian bán hàng hóa và dịch vụ trực tiếp cho
người tiêu dung cuối cùng.
- Đại lý và môi giới: là những trung gian có quyền hợp pháp thay mặt
cho nhà sản xuất cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho các trung gian khác. Trung
gian này có thể đại diện cho nhà sản xuất nhưng không sở hữu sản phẩm mà
họ có nhiệm vụ đưa người mua và người bán đến với nhau.
- Nhà phân phối: là chỉ trung những người trung gian thực hiện chức
năng phân phối trên thị trường.
2.1.3.3 Các kênh tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm được coi là giai đoạn cuối cùng của quá trính sản
xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp cũng như người sản xuất. Quá trình tiêu thụ sản phẩm được thể hiện
qua các kênh tiêu thụ như sau:
- Kênh trực tiếp: Nhà sản xuất bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng
ra các luồng chuyển dịch vật chất và cuối cùng đã cho ra nhiều loại sản phẩm
khác nhau. Để tạo ra các luồng hàng đó cần phải có các tác nhân tham gia
trong mạch hàng với từng chức năng riêng biệt. Các tác nhân đó đã tạo ra các
loại sản phẩm khác nhau nhằm đáp ứng các yêu cầu chuyển dịch và tổng hợp
các luồng hàng đó sẽ tạo nên một ngành hàng nhất định. Để có thể đáp ứng
được yêu cầu phân tích ở bước sau cần giải quyết một số nội dung cụ thể sau:
- Đặt tên cho ngành hàng: đây là việc đầu tiên của phân tích ngành
hàng. Tên ngành hàng là tên sản phẩm chính của các tác nhân trong ngành
11
hàng. Ví dụ ngành hàng miến dong được đặt tên từ sản phẩm miến dong
của các tác nhân người sản xuất và chế biến miến dong
- Xác định hệ thống các tác nhân trong ngành hàng: Đây là một việc khá
quan trọng bởi vì phân tích ngành hàng chính là phân tích kết quả và hiệu quả
hoạt động của các tác nhân trong ngành hàng. Do đó, chúng ta phải xác định
được đúng, đầy đủ và sắp xếp các tác nhân theo một trật tự hợp lý trong từng
mạch hàng, luồng hàng. Mỗi ngành hàng khác nhau trong mỗi phạm vi nghiên
cứu khác nhau mà bao gồm các loại tác nhân khác nhau. Ví dụ: trong ngành
hàng miến dong Bình Liêu hệ thống tác nhân được xác định bao gồm: tác
nhân người sản xuất miến, tác nhân người bán buôn, người bán lẻ, tác nhân
người tiêu dùng cuối cùng.
- Mô tả quan hệ giữa các tác nhân trong ngành hàng: Việc mô tả các tác
nhân trong ngành hàng được dựa trên cơ sở chức năng hoạt động của từng tác
nhân, sản phẩm mà mỗi tác nhân tạo ra cũng như mối quan hệ của chúng
trong ngành hàng. Nêu được số lượng của các tác nhân, mô tả được chức
năng, sản phẩm, còn phải chỉ rõ các mối quan hệ mật thiết giữa các tác nhân
thông qua luồng vật chất lưu chuyển và phương thức thanh toán. Thông
thường ta chỉ mô tả mối quan hệ giữa các tác nhân đứng kề trước và kế tiếp
tác nhân đang được mô tả. Công việc này rất quan trọng vì đó mới có cơ sở
sắp xếp vị trí của từng tác nhân trong mạch hàng, luồng hàng của một ngành
Việc phân tích kết quả hoạt động của các tác nhân được thực hiện thông
qua hệ thống chỉ tiêu kết quả và hiệu quả kinh tế với hai nội dung là phân tích
tài chính và phân tích kinh tế.
- Phân tích tài chính
Phân tích tài chính trong phân tích ngành hàng chủ yếu xem xét phần tài
chính tương ứng và luồng vật chất được lượng hoá đối với từng tác nhân tham
gia trong các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất kinh doanh. Khi phân
13
tích tài chính có thể phân tích theo một đơn vị khối lượng sản phẩm của từng
tác nhân đầu tiên trong ngành hàng, sau đó suy rộng cho ngành hàng. Phân
tích tài chính của ngành hàng được tiến hành từ những tài khoản riêng biệt
của các tác nhân hợp vào tài khoản hợp nhất của toàn bộ ngành hàng. Phân
tích tài chính xuất phát từ những tài khoản trên được thiết lập cho từng tác
nhân và sau đó rút ra kết luận sơ bộ chung về ngành hàng trên giác độ tài
chính. Mặt khác các chỉ tiêu tổng hợp như TR, IC, VA, MI có thể thấy được
vị trí của từng tác nhân trong ngành hàng và sự đóng góp vào việc tạo nên giá
trị gia tăng (VA) của ngành hàng và phân chia lợi ích kinh tế cho từng tác
nhân đó. Trong phân tích tài chính giá cả sử dụng là giá thực tế mà từng tác
nhân đã sử dụng trong quá trình sản xuất, kinh doanh (giá thị trường).
Khi phân tích tài chính, chúng tôi phân tích một đơn vị khối lượng sản
phẩm chính (1 kg miến dong) sau đó chúng tôi suy rộng ra cả ngành hàng.
- Phân tích kinh tế
Phân tích kinh tế trong ngành hàng là phân tích đầy đủ tất cả các hoạt
động kinh tế của các tác nhân diễn ra trong một thời kỳ nhất định và hiệu
quả của sản xuất kinh doanh phải được coi trọng.
Trong phân tích kinh tế, giá cả sử dụng trong tính toán các chỉ tiêu là giá
cả qui đổi hay mức giá chung được quy định trên cả nước.
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc
2.2.1 Vài nét về lịch sử nguồn gốc, phân bố cây dong riềng và sản phẩm
1961 đến 1965 một số nghiên cứu về nông học với cây dong riềng đã được
thực hiện tại Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp (INSA) nhằm mục đích mở
rộng diện tích dong riềng, tuy nhiên vấn đề trồng dong riềng vẫn không được
quan tâm vì thiếu công nghệ chế biến và tiêu thụ thấp. Từ năm 1986 do nhu
cầu sản xuất miến từ bột dong riềng ngày càng tăng đã đi kèm với việc mở
rộng diện tích tự phát trồng loại cây này. Những địa phương trồng dong riềng
với diện tích lớn là Hoà Bình, ngoại thành Hà Nội, Sơn La, Lai Châu, Thanh
15
Hoá, Hưng Yên, Tuyên Quang và Đồng Nai. Vào những năm 60 của thế kỷ
XX, dong riềng được trồng chủ yếu nhằm đảm bảo an ninh lương thực và có
năm đã đạt trên 21 ngàn ha. Hiện nay loại cây này không được đưa vào danh
mục thống kê quốc gia, tuy vậy một số nhà nghiên cứu cũng đưa ra con số
ước đoán về diện tích dong riềng nước ta những năm gần đây vào khoảng 30
nghìn ha với các giống dong riềng lấy củ và dong riềng cảnh vẫn được trồng
phổ biến khắp cả nước, từ vùng đồng bằng, trung du đến các vùng núi cao
như Sa Pa, tỉnh Lào Cai, Bắc Hà, tỉnh Hà Giang, Phó Bảng, tỉnh Tuyên
Quang (Mai Thạch Hoành, 2003)
Một số nước nghiên cứu về dong riềng cho thấy cây dong riềng là loài cây
triển vọng cho hệ thống nông lâm kết hợp vì nó có những đặc điểm quí như
chịu bóng râm, trồng được những nơi khó khăn như thiếu nước, thời tiết lạnh.
Củ dong riềng tại một số nước được chế biến với nhiều hình thức khác nhau
trở thành thực phẩm hàng ngày của người dân như luộc để người ăn, làm bột,
nấu rượu. Bột dong riềng dễ tiêu hoá vì thế là nguồn thức ăn rất tốt cho trẻ
nhỏ và người ốm. Ngoài ra bột dong riềng còn dùng làm hạt trân châu, làm
bánh, bánh mì, bánh bao, mì sợi, kẹo và thức ăn chăn nuôi. Đối với miền núi,
những nơi khó khăn ở Trung Quốc, Indonesia, Nam Mỹ dong riềng cũng là
cây góp phần đảm bảo an ninh lương thực. Trong thân cây dong riềng có sợi
màu trắng, có thể được sử dụng để chế biến thành sợi dệt thành các loại bao bì
nhỏ. Củ dong riềng dùng làm thức ăn chăn nuôi. Cả củ, thân lá đều dùng được
Trong phát triển nông nghiệp không lấy lương thực làm trọng tâm mà tập
trung đến chiến lược phát triển có tính chất hàng hóa quy mô lớn các cây công
nghiệp có lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế và hướng vào xuất khẩu
cao su, cọ dầu, cô ca.
Đối với việc chế biến nông sản, chính phủ tập trung vào xây dựng các
17
nhà máy lớn với thiết bị công nghệ hiện đại vào sản xuất các mặt hàng nông
nghiệp xuất khẩu chiến lược cao nhằm tiêu thụ hết các sản phẩm nông sản
đảm bảo chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Với các
sản phẩm nội địa thì kết hợp cả hiện đại và thủ công với các máy móc công
suất nhỏ, cơ động tập trung vào các ngành xay xát gạo, bột ngô, chế biến sắn,
thức ăn gia súc
Trong phát triển các ngành công nghiệp ở nông thôn, chính phủ
Malaysia tiếp tục thực hiện các chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài ở
vùng nông thôn, giảm thuế xuất khẩu, hỗ trợ nghiên cứu giống. Nhà nước chủ
trương tiếp tục duy trì các đồn điền lớn của nước ngoài để phát triển hàng hóa
nông sản thu hút lao động duy trì mối liên hệ thương mại với nước
ngoài.(Hermann và CS, 2007)
2.2.2.2 Thái Lan
Thái Lan có tổng diện tích đất tự nhiên là 513.115 km trong đó diện tích
đất canh tác nông nghiệp chiếm 41% đất có rừng che phủ chiếm 28%. Ngay
từ những năm 60 Thái Lan đã có kế hoạch trở thành một nền kinh tế công
nghiệp, dịch vụ hiện đại là trung tâm kinh tế vùng Đông Dương – Nam Trung
Quốc – Mianma. Vì vậy, trong lĩnh vực phát triển Thái Lan coi trọng hai vấn
đề cơ bản đó là ưu tiên phát triển nông thôn với việc chính phủ lập quỹ phát
triển nông thôn nhằm mở rộng thị trường trong nước. Xuất khẩu nông phẩm
và khuyến khích phát triển phát triển các ngành công nghiệp chế biến và sản
xuất sản phẩm từ nông sản. Quá trình phát triển của nền kinh tế Thái Lan có
tính chất lựa chọn và phát triển công nghiệp tập trung được coi hướng chính,