giải quyết việc làm cho thanh niên ở huyện nghi lộc tỉnh nghệ an hiện nay thực trạng và giải pháp Khoá luận tốt nghiệp đại học - Pdf 35


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Bảng tổng hợp lao được tư vấn, dạy nghề, tạo việc làm....25
Bảng 2: Số lượng thanh niên làm việc trong các trang trại, gia trại
2008 - 2012.......................................................................27
Bảng 3: Số TN được tập huấn chuyển giao KHKT trong 5 năm
(2008 – 2012)....................................................................28
Bảng 4: Các làng nghề và lao động thanh niên làng nghề..............29
Bảng 5: Số doanh nghiệp và thanh niên làm việc trong các khu công
nghiệp ...............................................................................31


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

Việc làm và giải quyết việc làm hiện nay không chỉ là vấn đề kinh tế
mà còn là vấn đề xã hội mang tính chất toàn cầu, là mối quan tâm hàng đầu
của các quốc gia trên thế giới nói chung. Có thể nói, hiệu quả của việc giải
quyết việc làm gắn liền với sự tồn tại bền vững của mỗi quốc gia. Đối với
Việt Nam, vấn đề giải quyết việc làm cũng không nằm ngoài sự vận động
chung đó. Văn kiện Đại hội IX của Đảng đã nhấn mạnh: “ giải quyết việc làm
là nhân tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển
kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu
bức xúc của nhân dân”.
Con người là yếu tố quan trọng đối với sự phát triển của của một đất
nước. Vì vậy, Đảng ta luôn lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cho
sự phát triển nhanh và bề vững, trong đó thanh niên là đối tượng chính. Nghị
quyết TW 4 khóa VII Đảng ta đã khẳng định : “ vấn đề thanh niên phải đặt ở vị
trí trung tâm trong chiến lược phát huy nhân tố và nguồn lực con nguời”.
Hiện nay, giải quyết việc làm cho người lao động đang vấn đề lớn của

Mặt khác, việc nghiên cứu còn nhằm vận dụng những kiến thức lý luận
vào thực tiến giải quyết việc làm cho Thanh niên hiện nay.
3. Đối tượng nghiên cứu
Với đề tài giải quyết việc làm cho Thanh niên ở huyện Nghi Lộc hiện
nay thì đối tượng nghiên cứu là:
+ Vấn tạo đề việc làm và tạo việc làm cho Thanh niên ở huyện Nghi Lộc
+ Những quan điểm, giải pháp để nâng cao chất lượng công tác tạo việc
làm cho thanh niên nói chung và tạo việc làm cho thanh niên ở huyện Nghi
Lộc nói riêng.
4. Phạm vi nghiên cứu
Với phạm vi một bài khóa luận và tầm hiểu biết, e chỉ tập trung nghiên
cứu việc giải quyết việc làm cho Thanh niên ở huyện Nghi Lộc trong giai
đoạn hiện nay.
5. Tình hình nghiên cứu
4


Việc làm hay vấn đề giải quyết việc làm trong bối cảnh xã hội hiện nay
không còn là vấn đề mới. Trong những năm gần đây, đã có những công trình
nghiên cứu vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên dưới nhiều góc độ khác
nhau, được công bố dưới dạng sách, đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn tốt
nghiệp và các bài viết trên tạp chí. Cụ thể:
- GS.TS Phạm Đức Thành: Vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam, tạp
chí Kinh tế và Phát Triển, số 64.
- Trần Việt Tiến: Chính sách việc làm ở Việt Nam – Thực trạng và định
hướng hoàn thiện, tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 181, 7/2012.
- TS Nguyễn Thị Thơm (chủ biên): Thị trường lao động Việt Nam –
Thực trạng và giải pháp, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006.
- ThS Triệu Thị Trinh: Vấn đề lao động – việc làm của thanh niên nông
thôn hiện nay – Thực trạng và giải pháp, Website Bộ Lao động – Thương binh

phương trong giải quyết việc làm cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay.
8. Kết cấu
Đề tài ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của đề tài gồm 3
chương, cụ thể:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề “ Giải quyết việc làm cho thanh
niên ở huyện Nghi Lộc hiện nay – Thực trạng và giải pháp”
Chương 2: Thực trạng vấn đề giải quyết việc làm cho thanh niên ở
Huyện Nghi Lộc hiện nay
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao công tác giải quyết
việc làm cho thanh niên ở huyện Nghi Lộc.

6


PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ “GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CHO THANH NIÊN Ở HUYỆN NGHI LỘC HIỆN NAY –
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP”
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm Thanh niên
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “ một năm bắt đầu từ mùa xuân –
một đời bắt đầu từ tuổi trẻ - tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Thanh niên là
thế hệ trẻ, là mùa xuân, là tương lai của đất nước. Đây là lực lượng lao động
chủ yếu trong sự nghiệp CNH – HĐH Đất nước, là lực lượng chủ chốt cho
công cuộc đổi mới đi đến thắng lợi. Hiện nay, việc định nghĩa khái niệm “
Thanh niên” được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau:
Từ góc độ pháp luật, theo điều 1, Luật Thanh niên 2005 quy định “ Thanh
niên là công dân Việt Nam từ mười sáu đến ba mươi tuổi”. Từ góc độ này, khái
niện Thanh niên được nhìn dưới góc độ tuổi tác, thể chất và sự nhận thức.

Việc làm là một trong những vấn đề quan trong gắn liền với vấn đề lao
động, tạo việc làm cho nguồn lao động và là một trong những nhiệm vụ trọng
tâm của công tác quản lý nguồn nhân lực.
Một Đất nước muốn phát triển toàn diện cần có sự hỗ trợ của nhiều
yếu tố trong đó yếu tố con người là rất quan trọng. Nước ta là nước có dân số
đông, trong đó tỷ lệ người trong độ tuổi lao động chiếm trên 50% (cơ cấu dân
số vàng). Đây là lợi thế nhưng cũng là thách thức đối với Nhà nước trong việc
tạo đủ việc làm cho nguồn lao đông này.
Việc làm là một khái niệm không mới, được nhìn nhận dưới nhiều góc
độ, nhiều khía cạnh khác nhau và cũng có nhiều cách hiểu khác nhau.
Theo quan điểm của Mác: “ Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù
hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất,
công nghệ…) để sử dụng sức lao động đó”.

8


Sức lao động do người lao động sở hữu. Những điều kiện cần thiết như
vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ, ….có thể do người lao động sở hữu, sử dụng
hay quản lý hoặc không. Như vậy theo quan điểm của Mác thì bất cứ sự tác
động nào xảy ra gây mất cân bằng giữa sức lao động và điều kiện cần thiết để
sử dụng sức lao động đó đều có thể gây ra tình trạng thiếu việc làm hay mất
việc làm.
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư mở: “ Việc làm hay công việc là một
hoạt động được thường xuyên thực hiện để đổi lấy việc thanh toán, thường là
nghề nghiệp của một người. Thời hạn cho một công việc có thể nằm trong
khoảng từ một giờ (trong trường hợp các công việc lặt vặt) hoặc cả đời (trong
trường hợp của các thẩm phán). Nếu một người được đào tạo cho một loại
công việc nhất định, họ có thể có một nghề nghiệp. Tập hợp hàng loạt các
công việc của một người trong cả cuộc đời là sự nghiệp của họ. Một công

tiến hành công việc đó;
+ Ba là, làm công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù
lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó. Bao gồm sản xuất
nông nghiệp, hoạt động sản xuất phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành
việ khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lý.
Hiện nay, đi liền với khái niệm việc làm thường xuất hiện thêm khái
niệm tạo việ làm. Tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng và chất lượng tư
liệu sản xuất, số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội cần thiết khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động.
Như vậy, muốn tạo việc làm cần 3 yếu tố cơ bản: tư liệu sản xuất, sức
lao động và các điều kiện kinh tế - xã hội khác để kết hợp tư liệu sản xuất và
sức lao động. Ba yếu tố này lại chịu tác động của nhiều yếu tố khác.
1.1.3. Khái niệm Người có việc làm
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), người có việc làm là những
người làm việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng
hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo
việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc
hiện vật.
10


Như vậy, theo quan niệm của ILO thì người có việc làm là người lao
động được tham gia vào các hoạt động tạo ra của cải vật chất trực tiếp hoặc
gián tiếp và được trả tiền công, lợi nhuận, được thanh toán bằng hiện vật hoặc
những hoạt động manng tính chất tự tạo việc làm hay vì lợi ích của gia đình.
Theo cách hiểu thông thường nhất, người có việc làm là người làm
việc trong các lĩnh vực, ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không bị pháp
luật cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời góp
một phần cho xã hội.
1.1.4. Khái niệm Thất nghiệp
Hiện nay, tình trạng thất nghiệp đang là vấn đề xã hội được tất cả các

vùng, các công việc. Người ta gọi loại này là thất nghiệp tự nhiên với ý nghĩa
và thời gian tìm việc ngắn hạn và không ảnh hưởng cân bằng trên thị trường
lao động.
Theo con số thống kê mới nhất của Tổng cục Thống kê, Điều tra Lao
động và Việc làm Việt Nam năm 2011 thì: Cả nước có hơn 1 triệu người thất
nghiệp, trong đó khu vực thành thị chiếm 49,8% và số nữ chiếm 57,7% tổng
số thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp của nước ta năm 2011 là 2,2%, năm 2012 là
1,99%, năm 2013 là 2,28%. Như vậy có thể thấy, tình trạng thất nghiệp của
nước ta có xu hướng tăng lên.
Số người trẻ tuổi thất nghiệp từ 15-29 tuổi chiếm tới 59,2%, trong khi
đó nhóm dân số từ 15-29 tuổi chỉ chiếm 32,8% tổng dân số từ 15 tuổi trở lên
của cả nước. Số lao động thất nghiệp ở cả khu vực thành thị và nông thôn đều
tập trung chủ yếu vào nhóm thanh niên dưới 30 tuổi.
Như vậy, vấn đề thất nghiệp được đặt ra với lao động trẻ tuổi, một
trong những nhóm lao động dễ bị ảnh hưởng nhất bởi các biến động trên thị
trường lao động.
Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị luôn cao hơn khu vực nông thôn và
ngược lại tình trạng thiếu việc làm ở khu vực nông thôn thường cao hơn khu
nước ta trong nhiều năm gần đây.
Nước ta đang trong tiến trình thực hiện CNH – HĐH đất nước, phát
triển kinh tế theo hướng kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa vì
12


vậy cần hạn chế tình trạng thất nghiệp cho người lao động, đặc biệt là lao
động thanh niên.
1.2. Cơ sở lý luận cho việc giải quyết việc làm cho Thanh niên
Việc làm là một trong những nhu cầu cơ bản của con người để đảm
bảo cuộc sống. Đảm bảo việc làm cho người lao động được khẳng định trong
Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và được cụ thể hóa

dịch vụ kết nối cung-cầu về lao động, tăng cường cơ hội để người lao động
tiếp cận thông tin về việc làm, lựa chọn công việc. Việc hoàn chỉnh khung
định 196/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 11 năm 2013 quy định về thành lập và
hoạt động của các Trung tâm dịch vụ việc làm đã thay thế cho các Nghị định
số 19/2005/NĐ-CP ngày 28/5/2005 và Nghị định số 71/2008/NĐ-CP của
Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2005/NĐ-CP
đã tạo môi trường pháp lý thuận lợi hơn cho việc kết nối cung cầu lao động.
Về hỗ trợ lao động di chuyển: Chính phủ đã thực hiện các chương trình
hỗ trợ di cư đến các vùng kinh tế mới; hỗ trợ di dân thực hiện định canh định
cư đối với đồng bào dân tộc thiểu số (Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg);
Chương trình di dân gắn với xóa đói giảm nghèo (thuộc nội dung của Chương
trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012 - 2015). Các
chương trình di dân đã đáp ứng một phần về tái phân bổ nguồn lao động, đáp
ứng nhu cầu phát triển kinh tế vùng, góp phần ổn định đời sống cho đồng bào
dân tộc thiểu số và bảo vệ an ninh quốc phòng.
Các quy định về cư trú, đăng ký hộ khẩu tại các khu đô thị, các thành
phố lớn ngày càng thông thoáng. Luật Cư trú (năm 2007) đã mở rộng quyền
cư trú của công dân, giúp cho việc di chuyển lao động dễ dàng hơn. Các chính
sách phát triển đô thị, các khu công nghiệp, khu chế xuất, các vùng kinh tế
trọng điểm... cũng có tác động kích thích di chuyển lao động, nhất là di
chuyển nông thôn - đô thị, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao
điều kiện về việc làm và thu nhập cho lao động nông thôn.
Về tín dụng ưu đã cho sản xuất kinh doanh: Thông qua việc ban hành
gần 20 chính sách tín dụng ưu đãi, sử dụng cơ chế cho vay tín dụng thông qua
các chương trình, tổ chức, hội đoàn thể để hỗ trợ người lao động.

14


- Đối với các cá nhân, tổ chức kinh doanh: Chương trình Việc làm quốc


Nguồn nhân lực ở nước ta chủ yếu là thanh niên, vai trò của thanh niên
cũng đối với sự nghiệp xây dựng đất nước cũng được Đảng ta khẳng định.
Đảng và các cấp ủy Đảng luôn đặt vấn đề thanh niên lên hàng đầu, đặc biệt
trong vấn đề tạo việc làm cho thanh niên. Đảng nhân định rõ “ nâng cao chất
lượng lao động trẻ, giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống
cho thanh niên”. Trong vấn đề tạo việc làm cho thanh niên, vai trò của Đảng
được thể hiện:
- Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách lớn định hướng sự phát
triển nguồn nhân lực nói chung và đối với thanh niên nói riêng trong từng giai
đoạn cụ thể;
- Đảng, cấp ủy Đảng vạch ra phương hướng và nguyên tắc cơ bản làm
cơ sở cho việc đào tạo, phát triển thị trường lao động,…cho thanh niên;
- Đảng, cấp ủy Đảng căn cứ vào từng giai đoạn cụ thể đề ra quan điểm,
chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên;
- Thông qua công tác kiểm tra việc chấp hành và tổ chức thực hiện đường
lối, chính sách, nghị quyết của Đảng, cấp ủy Đảng trong vấn đề giải quyết việc
làm cho thanh niên, phát hiện, uốn nắn kịp thời những lệch lạc, sai trái.
1.3.2. Chính phủ và UBND các cấp
Chính phủ, UBND các cấp là cơ quan trực tiếp quản lý, giải quyết các
vấn đề liên quan đến lao động, việc làm, trong đó có vấn đề việc làm của
thanh niên. Để thực hiện mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng Xã hội Chủ nghĩa, nước ta cần tiến hay đổi mới toàn diện nền kinh tế,
đổi mới tư duy,…đặc biệt là xây dựng nguồn lao động đáp ứng được yêu cầu
của kinh tế thị trường.
Phát triển kinh tế theo hướng kinh tế thị trường sẽ tạo cơ hội cho nền
kinh tế nước ta phát triển nhưng những hệ lụy của nó cũng đang là vấn đề đặt
ra với các cơ quan quản lý. Hiện nay, tình trạng thất nghiệp đang diễn ra ngày
càng nhiều, chủ yếu người lao động là thanh niên, đặc biệt là thanh niên nông
thôn. Để giải quyết tình trạng này, vai trò của Chính phủ, các cơ quan Nhà

nông thôn, vùng gặp nhiều khó khăn.

17


1.3.3. Đoàn thanh niên và các tổ chức chính trị-xã hội khác
Việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động là vấn đề hết sức
quan trọng với mỗi quốc gia. Tuy nhiên, đây hông phải là việc của riêng một
cơ quan Nhà nước nào mà đó là nhiệm vụ cần sự phối hợp của tất cả các cấp,
các ngành và các đoàn thể trong xã hội.
Vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò hết sức quan trọng
đối với vấn đề giải quyết việc làm. Trong vấn đền giải nguồn nhân lực và giải
quyết việc làm, các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò:
+ Giáo dục, tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật cho người
lao động; đặc biệt là lao động là thanh niên;
+ Tham dự các hội nghị và tổ chức các phong trào thi đua lao động sản
xuất nhằm phát triển kinh tế tại địa phương;
+ Tham gia đóng góp ý kiến, phản biện xã hội cho các cơ quan Nhà
nước trong việc hoạch định các chính sách, ban hành các văn bản pháp luật có
liên quan đến giải quyết việc làm;
+ Tham gia vào quá trình kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định
của pháp luật;
+ Đàm phán, bảo vệ quyền lợi cho người lao động khi tham gia ký kết
hợp đồng lao động, hay trong giải quyết các tranh chấp lao động;
+ Đào tạo đào tạo lại nghiệp, nâng cao chất lượng cho lao động thanh niên;
+ Phối hợp với các doanh nghiệp, trao đổi thông tin về sản xuất – kinh
doanh để tạo thêm nhiều việc làm cho thanh niên.
Đối với vấn đề việc làm cho thanh niên, sự phơi hợp của tất cả các tổ chức,
cơ quan là rất quan trọng trong đó vai rò của Đoàn Thanh niên, các Hiệp hội nghề
nghiệp và đặc biệt vai trò của gia đình cần đặc biệt được chú trọng.

Vì thế mục tiêu tạo việc làm đầy đủ như một ưu tiên cơ bản trong chính sách
kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Giải quyết tốt việc làm cho thanh niên có ý nghĩa rất lớn về mặt xã hội.
Thanh niên có việc làm sẽ hạn chế được các tệ nạn xã hội. Hiện nay, các tệ
nạn xã hội như: ma túy, mại dâm, cờ bạc,…đang diễn ra ngày một nhiều và
khó kiểm soát. Đối tượng thường là thanh niên đang trong độ tuổi lao động.
có nhiều nguyên nhân dẫn đến thanh niên sa vào các tệ nạn xã hội, một trong
19


những nguyên nhân là thanh niên không có công ăn việc làm ổn định. Bên
cạnh đó, thanh niên không có việc làm, kinh tế khó khăn sẽ xảy ra tình trạng
trộm cắp, cướp giật,… Vì vậy, tạo việc làm cho thanh niên sẽ làm giảm tình
trạng vi phạm pháp luật, sự xuống cấp của đạo đức đang diễn ra ngày càng
nhiều trong xã hội hiện nay.
Đồng thời với việc làm giảm các vấn đề xã hội thì việc thanh niên tham
gia lao động trong các ngành nghề sẽ làm thay đổi cơ cấu các thành phần kinh
tế trong nền kinh tế quốc dân, đảm bảo cho sự phát triển đúng định hướng Kinh
tế Thị trường Xã hội Chủ nghĩa mà Đảng và Nhà nước đang thực hiện.
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn khẳng định phát triển kinh tế là
trọng tâm nhưng đồng thời phải bảo vệ sự phát triển đồng bộ văn hóa - xã hội –
giảo dục – quốc phòng – an ninh. Hiện nay tỷ lệ thanh niên nông thôn, miền
núi ở các Tỉnh thất nghiệp khá cao. Giải quyết việc làm cho nguồn lao động
này là bài toán đặt ra cho các cấp ủy Đảng, Nhà nước, các tổ chức, đoàn thể xã
hội nhằm đảm bảo đúng quan điểm của Đảng trong chính sách Công nghiệp
hóa Nông nghiệp Nông thôn và chính sách Đoàn kết, bình đẳng dân tộc.

20




đập lớn được xây dựng nên đây cũng là vùng cung cấp lương thực cho huyện,
với diện tích đất tự nhiên khoảng 18.083 ha, chiếm 52% so với tổng diện tích
của cả huyện. Gồm các xã Nghi Lâm, Nghi Công Bắc, Nghi Công Nam, Nghi
Mỹ, Nghi Văn, Nghi Kiều, Nghi Phương, Nghi Hưng, Nghi Đồng. Vùng này
chiếm diện tích khá lớn nhưng tập trung ít dân cư khoảng 57.842 người chiếm
31,4% tổng dân số của cả huyện.
+ Vùng đồng bằng: Khu vực trung tâm và phía Đông, Đông Nam của
huyện địa hình tương đối bằng phẳng, chỉ có ít đồi núi thấp xen kẽ độc lập, độ
cao chênh lệch từ 0,6- 5,0 m, với diện tích tự nhiên khoảng 16.686 ha, chiếm
48% so với diện tích của cả huyện. Do đặc điểm địa hình và thổ nhưỡng có
thể phân thành 2 vùng:
+ Vùng thấp hoặc trũng: Chủ yếu là đất phù sa của hệ thống sông Cả, có
độ cao từ 0,6- 3,5 m, địa hình thấp, nguồn nước khá dồi dào, đây là vùng trọng
điểm lúa của huyện, gồm các xã Nghi Vạn, Nghi Diên, Nghi Hoa, Nghi Thuận
và một phần của Nghi Long, Nghi Tiến, Nghi Yên, Nghi Xá, Nghi Trung.
+ Vùng cao: Chủ yếu là đất cát biển, có độ cao từ 1,5- 5,0 m, là vùng
đất màu của huyện, gồm các xã Nghi Trường, Nghi Thịnh, Nghi Thạch, Nghi
Long, Nghi Xá, Nghi Khánh, Nghi Yên, Nghi Tiến, Nghi Thiết, Nghi Thái,
Phúc Thọ, Nghi Xuân, Nghi Phương, Nghi Trung, Nghi Quang.
Về tài nguyên thiên nhiên: Nghi Lộc có nguồn tài nguyên về đất, về
nước, về rừng và tài nguyên biển. Do địa hình được chia cắt thành 2 vùng rõ
rệt nên huyện có nhiều nhiều loại: đất phù sa thích hợp cho trồng cây lúa
nước, đất feralit vàng đỏ vùng đồi thích hợp cho cây công nghiệp, đất mặn,
đất cát vũ ven biển, đất cồn cát,…
Nghi Lộc là huyện khá được ưu đãi về mặt địa hình: vừa có núi, có
đồng bằng lại vừa có biển nên được hưởng lợi về mặt tự nhiên. Đất lâm
nghiệp của huyện có 9.265,52 ha. Chiếm 26,6% diện tích đất tự nhiên (trong
đó rừng sản xuất 3.400,98 ha, rừng phòng hộ 5.864,54 ha). Rừng tập trung
chủ yếu ở các xã vùng bán sơn địa được trồng các loại cây thông, keo, phi lao,

triệu /ha, trong đó có 3.710 ha cho thu nhập từ 50 triệu đồng/ha/năm trở lên,
chiếm 35,6 % diện tích canh tác

23


Chăn nuôi phát triển theo hướng tăng cả tổng đàn và chất lượng, hình
thức chăn nuôi gia trại, trang trại được mở rộng. Toàn huyện phát triển thêm
các trang trại chăn nuôi tập trung, khuyến khích mở rộng chăn nuôi quy mô
lớn theo hình thức trang trại, công nghiệp và các loại vật nuôi có giá trị cao.
Nghề đánh bắt nuôi trồng thủy hải sản phát triển đa dạng góp phần tăng thu
nhập cho ngư dân. Phát triển kinh tế thủy hải sản theo hướng gắn kết giữa
khai thác, nuôi trồng, chế biến và dịch vụ, giữa khai thác và bảo vệ nguồn lợi
thủy hải sản. Mở rộng diện tích nuôi trồng thủy hải sản theo hướng công
nghiệp. Tăng cường đầu tư phương tiện, trang bị kĩ thuật hiện đại, đồng bộ để
nâng cao hiệu quả đánh bắt xa bờ.
Công nghiệp – xây dựng và tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh góp
phần tích cực trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và đẩy
nhanh tốc độ đô thị hóa nông thôn. Giá trị sản xuất của ngành công nghiệp
xây dựng toàn huyện tăng bình quân 21,29 % / năm.
Bên cạnh đó, huyện còn tập trung phát triển Tiểu thủ công nghiệp và
làng nghề truyền thống. Toàn huyện đã có 20 làng nghề được huyện công
nhận, hình thành một số Doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm các làng nghề.
Thực hiện đa dạng hóa các loại hình dịch vụ trên các lĩnh vực, phấn
đấu tỷ trọng dịch vụ đạt 37,5% - 38% trong cơ cấu kinh tế. Tập trung phát
triển kinh tế du lịch ven biển để đẩy mạnh tốc độ phát triển và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế xã hội các vùng ven biển từ kinh tế thuần nông sang chủ yếu là
dịch vụ.
Bên cạnh tập trung phát triển kinh tế cũng tập trung đẩy mạnh các hoạt
động văn hóa, y tế, giáo dục, khoa học trong toàn huyện.

yếu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Bên cạnh vai trò tích
cực thì lao động thanh niên cũng đang đặt ra những thách thức đối với các
cấp, các ngành trong quá trình giải quyết việc làm cho họ.
Trình độ học vấn của lực lượng lao động thanh niên ở huyện Nghi Lộc
đã được nâng lên, trong đó, số người tốt nghiệp Trung học phổ thông chiếm
49,89%, số người tốt nghiệp Trung học cơ sở chiếm 26,19%, số người tốt
nghiệp tiểu học chiếm 3,92% (số liệu năm 2011).
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status