BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
1
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THANH HƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ
HÀ NỘI – 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN THANH HƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Y tế công cộng
Mã số đào tạo: 60.72.76
Người hướng dẫn khoa học
HÀ NỘI – 2011
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh dại là một bệnh viêm não-màng não cấp tính do vi rút dại, thuộc nhóm
Lyssavi rút, họ Rhabdoviridae gây ra. Bệnh từ động vật lây truyền sang người
qua chất tiết và hầu hết là nước bọt của động vật có vi rút dại thông qua các vết
cắn, cào, liếm [33].
Bệnh dại được biết đến như là một trong những bệnh truyền nhiễm lâu đời nhất
của loài người [47]. Từ những năm 2300 trước công nguyên những người dân
thành cổ Babilon đã mô tả được bệnh dại với những triệu chứng nặng nề và cái
chết thương tâm gây ra bởi những con chó có những triệu chứng điên cuồng cắn
người [62]. Cho đến nay, bệnh vẫn là vấn đề y tế công cộng toàn cầu. Theo thống
kê của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG), bệnh dại xảy ra ở hầu hết các nước với
các mức độ khác nhau [49], [59]. Hơn một nửa dân số thế giới sống trong vùng
có bệnh dại lưu hành. Mỗi năm có hàng chục triệu người bị súc vật dại hoặc nghi
dại cắn phải đi tiêm phòng bằng VX dại, có khoảng 55.000 người chết do bệnh
dại. Phần lớn các ca tử vong do dại tập trung ở các châu lục như Châu Phi, Châu
Á, Châu Mỹ. Theo TCYTTG, tỷ lệ chết dại ở các nước này chiếm 90% số tử
vong trên toàn thế giới, 30-60% số người tử vong là trẻ em dưới 15 tuổi với phí
tổn hàng năm lên tới hàng tỷ đô la [10], [45], [59].
Bệnh dại lưu hành và lây lan ở Việt Nam nhiều năm nay, số người đi tiêm VX
phòng dại lên đến gần nửa triệu người với tỷ lệ tiêm phòng xấp xỉ 500/100.000
dân, cao nhất trên thế giới tốn phí hơn 300 tỷ đồng tiền VX hàng năm. Tỷ lệ tử
vong ở Việt Nam cũng khá cao với tỷ lệ chết do dại đứng thứ 14 trên thế giới
[60]. Bệnh xuất hiện đỉnh điểm năm 1995 với 505 trường hợp tử vong. Ngay sau
đó,
Thủ
tướng
ở
30
tỉnh/thành
phố
trên
cả
nước
[6]
6
. Mặt khác Việt Nam hiện đã và đang là nước chịu ảnh
hưởng lớn từ sự biến đổi khí hậu toàn cầu được dự báo là kéo theo sự gia tăng
của các bệnh dịch truyền nhiễm nói chung trong đó có bệnh dại [6]. Tập tục nuôi
chó từ lâu đời nay vời nhiều mục đích khác nhau như giữ nhà, chó cảnh, làm thực
phẩm v.v... nhưng ý thức của người dân còn chưa tốt, tình trạng nuôi chó thả
rông, chó không tiêm phòng, chó ra đường không có rọ mõm ngày càng phổ biến
ở cả nông thôn và thành thị, dẫn tới số người bị chó cắn rất nhiều, một số không
đi tiêm phòng dẫn đến tử vong. Ngoài ra còn phải nhắc đến việc quản lý, giám
sát bệnh dại liệu có tác động như thế nào đến công tác PCBD hiện nay? Vì vậy,
nghiên cứu về dịch tễ học bệnh dại ở Việt Nam là yêu cầu cấp thiết để đánh giá
Bệnh dại (rabies) xuất phát từ chữ Latin rabere có nghĩa là “cuồng bạo hoặc điên
khùng”, rabere cũng có thể xuất hiện sớm hơn trong nguồn gốc của cuốn sách
Sanskrit là rabhas có nghĩa là “bạo lực”. Những người Hy Lạp cổ đã mô tả trong
sách của họ bằng từ lyssa nghĩa là “chứng điên khùng, dồ dại”. Điều này cũng
được viết trong từ điển Oxford là lyssophobia cũng có nghĩa là “hội chứng sợ
nước, các triệu chứng mô phỏng từ thực tế”. Cũng không có gì ngạc nhiên rằng
các nhà phẫu thuật, nhà viết kịch hay những nhà triết học của những thế kỷ trước
đã mô tả hình ảnh của những con chó bị điên dại là những nỗi ám ảnh, sợ hãi cho
loài người [5], [25].
Hình 1.1: Hình ảnh mô tả con chó dại cắn người bị tiêu diệt ở những thế kỷ trước
Vào thế kỷ 23 trước công nguyên ở vùng Lưỡng Hà trong đạo lu ật của Babilon
cổ đại đã ấn định những hình phạt nghiêm khắc đối với những người chủ để chó
bị dại cắn chết người, hình phạt tương đương với một sự phản ánh đến mức ớn
lạnh trên các giá trị tương đối của cuộc sống trong xã hội Lưỡng Hà lúc đó. 3000
năm sau đó đạo luật thời trung cổ ghi nhận nhiều tranh cãi liên quan đến những
vấn đề pháp luật và vết cắn bởi con chó. Từ năm 500 đến năm 322 trước công
nguyên, hai nhà triết học Hy Lạp cổ đại Đêmôcrít và Arixtốt đã viết rằng “bệnh
dại truyền từ những loài động vật bị điên dại và bất kể loài động vật nào cũng có
thể bị bệnh này nếu bị chó điên tấn công, loại trừ loài người”. Những lý luận của
ông gây ra sự khó hiểu và khiến cho một số nhà bình luận ở thế kỷ 19 hoài nghi
về sự thay đổi hội chứng bệnh dại qua nhiều thế kỷ qua. 200 năm sau công
nguyên Galien đã đề ra phương pháp phẫu thuật cắt bỏ phần cơ thể bị vết cắn để
ngăn ngừa sự phát bệnh dại [5], [25].
Hình 1.2: Bác học Louis Pasteur và Bác sĩ Grancher tiêm VX điều trị dự phòng
bệnh dại cho BN đầu tiên (Joseph Meister)
bệnh dại nhanh chóng lan rộng ở loài này. Ở Châu Mỹ La tinh có ổ chứa vi rút ở
loài dơi hút máu và dơi ăn hoa quả [36].
Các nghiên cứu trước đây của TCYTTG cho thấy ở các nước Đông Nam Châu Á
nguồn truyền bệnh dại gặp ở nhiều động vật là vật nuôi trong đó chó nhà chiếm
từ 93-96%. Số còn lại là các động vật khác như mèo, gia súc, khỉ, cầy man gút…
[30], [57].
Ở Việt Nam, chó là ổ chứa vi rút chủ yếu chiếm 96-97%, sau đó là mèo với tỷ lệ
3-4%, chưa phát hiện được các động vật khác bị bệnh dại [12], [18], [19], [20].
1.2.2 Phương thức lan truyền
Bệnh dại được lây truyền từ động vật sang người chủ yếu là qua nước bọt của
súc vật mắc bệnh và theo vết cắn, vết cào (kể cả trường hợp có thể qua vết xước
da hoặc qua niêm màng niêm mạc còn nguyên vẹn) vào cơ thể, từ đó theo dây
thần kinh đến các hạch và thần kinh trung ương. Khi đến thần kinh trung ương,
vi rút sinh sản rất nhanh rồi lại theo dây thần kinh ra tuyến nước bọt. Tại thời
điểm này thần kinh chưa bị tổn thương đáng kể vì thế nhìn bề ngoài con vật vẫn
bình thường nhưng đã có khả năng truyền bệnh qua nước bọt. Sau đó vi rút Dại
xâm nhập vào các tế bào thần kinh làm xuất hiện các biểu hiện lâm sàng điển
hình của bệnh dại. Trong nước dãi của chó bị dại, vi rút có mặt tối đa 13 ngày
trước khi chó có triệu chứng đầu tiên của bệnh. Chính vì vậy có chỉ định theo dõi
chó sau khi cắn người trong vòng 14 ngày [5]. Sự lây truyền bệnh qua đường
không khí đã được chứng minh trong quần thể loài dơi sống ở hang động và ở môi
trường phòng thí nghiệm. Tuy vậy trường hợp này cũng rất hiếm khi xảy ra.
Sự lây truyền bệnh dại từ người sang người có thể xảy ra do tiếp xúc với nước dãi
của người bị bệnh dại, nhưng trên thực tế rất hiếm khi xảy ra. Chỉ có một trường
hợp được công bố bệnh dại lây từ người sang người là do cấy ghép giác mạc lấy từ
người bị chết vì bệnh dại mà đã không được chẩn đoán từ trước [13].
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ lây truyền bệnh dại từ động vật sang người
Động vật hoang dại ăn côn
Ngườ
i
Bệnh dại được lây truyền qua nước bọt của động vật mắc bệnh bài tiết ra ngoài
và theo vết cắn, vết liếm, vết xước trên da bị rách (hoặc qua màng niêm mạc
còn nguyên vẹn) vào cơ thể, từ đó theo dây thần kinh đến các hạch và thần kinh
trung ương, phá hủy thần kinh trung ương gây ra các triệu chứng của bệnh.
Sự lây truyền bệnh dại qua đường không khí được chứng minh trong quần thể
loài dơi sống ở hang động và ở môi trường trong phòng thí nghiệm tuy vậy rất
hiếm xảy ra.
1.2.3 Khối cảm thụ bệnh dại
Bệnh dại trước tiên là một bệnh súc vật, người chỉ mắc một cách ngẫu nhiên và
hoàn toàn không có vai trò dịch tễ nào.
Bệnh dại được lây truyền qua nước bọt của động vật mắc bệnh bài tiết ra ngoài
theo vết cắn, vết liếm, vết xước trên da bị rách vào cơ thể. Vi rút sẽ theo dây thần
kinh hướng tâm tới hệ thần kinh trung ương và sinh sản ở đó.
Thời kỳ ủ bệnh tương ứng với sự di chuyển và sự nhân lên của vi rút dài hay
ngắn tuỳ thuộc vào vị trí vết thương gần hay xa thần kinh trung ương và cũng tuỳ
theo sự phân bố nhiều hay ít dây thần kinh ở vùng bị cắn. Nếu bị cắn ở chân thì
thời kỳ ủ bệnh dài hơn bị cắn ở đầu và mặt. Ngoài ra còn phụ thuộc vào chiều
rộng, chiều sâu và số lượng vết cắn [3], [19], [58].
Sau sự nhân lên nhanh hay chậm trong các trung tâm thần kinh, vi rút sẽ theo
các dây thần kinh hướng tâm tới hệ thần kinh trung ương, sinh sản ở đó làm tổn
thương các tế bào tuỷ sống và não tuy nhiên tại thời điểm này thần kinh chưa bị
tổn thương đáng kể nên chưa xuất hiện biểu hiện của triệu chứng viêm não. Từ
thần kinh trung ương, vi rút theo các dây thần kinh ly tâm tới tuyến nước bọt để
được giải phóng ra ngoài theo sự bong ra của các tế bào thần kinh của các hạch
giao cảm. Do đó ở chó và mèo thường từ 3-7 ngày trước khi có triệu chứng lâm
mặt, lo âu cực độ, trạng thái kích thích và tăng cảm giác biểu hiện là sợ nước,
sợ gió, ánh sáng, mùi lạ. Ngoài ra còn có các biểu hiện của rối loạn thần kinh
thực vật như sốt cao, giãn đồng tử, tăng tiết nước bọt, nước mắt, vã mồ hôi,
hạ huyết áp… BN thường tử vong trong vòng 2-4 ngày sau khi lên cơn dại.
Đối với trẻ em thường bị cắn ở mặt nên thời kỳ ủ bệnh ngắn và diễn biến
nhanh chóng, tử vong sau 2-3 ngày, thường có những dấu hiệu hành tuỷ và rối
loạn ý thức, không có triệu chứng kích thích tâm thần vận động.
Chẩn đoán bệnh dựa vào các biểu hiện lâm sàng, đặc biệt là các chứng sợ nước,
sợ gió, sợ ánh sáng với các yếu tố dịch tễ học có liên quan. Chẩn đoán xác
định bằng xét nghiệm kháng thể miễn dịch huỳnh quang trực tiếp từ mô não
hoặc phân lập trên chuột hay trên hệ thống nuôi cấy tế bào. Có thể dựa vào kết
quả xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang các mảnh cắt da đã làm đông lạnh lấy từ
dìa tóc ở gáy bệnh nhân hoặc chẩn đoán huyết thanh bằng phản quang ứng trung
hòa trên chuột hay trên nuôi cấy tế bào. Ngày nay với kỹ thuật mới có thể phát
hiện được ARN của vi rút dại bằng phản ứng PCR hoặc phản ứng RT-PCR. Do
tính tối nguy hiểm của bệnh dại nên khi bị súc vật nghi dại cắn, người bệnh phải
được điều trị dự phòng khẩn cấp mà không chờ chẩn đoán xác định bệnh dại ở
súc vật cũng như ở người [12], [16].
1.3
Phòng và điều trị dự phòng bệnh dại
Bệnh dại khi đã lên cơn chắc chắn dẫn đến tử vong không cứu được. Chỉ có
một biện pháp duy nhất là tiêm VX phòng dại càng sớm càng tốt sau khi phơi
nhiễm. Tiêm phòng vừa là biện pháp dự phòng vừa là biện pháp điều trị duy nhất
để có thể cứu sống BN khi bị súc vật dại cắn [5].
1.3.1 Các biện pháp điều trị dự phòng sau phơi nhiễm
Tất cả các động vật máu nóng đều là tác nhân có tiềm năng lây truyền bệnh dại
Độ I
Độ II
Dạng tiếp xúc với động vật nghi ngờ bị dại hoặc
Khuyến nghị điều
động vật hoang dã hoặc động vật không thể theo dõi trị
Tiếp xúc hoặc cho động vật ăn.
Không điều trị, nếu
Liếm trên da bị trầy xước.
tiền sử chắc chắn
Da bị gặm rỉa hoặc bị hở.
Dùng VX
Vết xước nhỏ hoặc các vết trầy không có máu. Liếm
trên da đã bị rách.
Độ III
Một hoặc nhiều vết cắn hoặc vết xước. Niêm mạc,
Dùng VX và huyết
Phác đồ tiêm và liều tiêm: 1-1-1-1-1. Người lớn và trẻ con như nhau. Liều
tiêm 0,5 ml/mũi tiêm. Tiêm 05 mũi vào các ngày 0, 3, 7, 14, 28/30 kể từ ngày
tiêm mũi thứ nhất.
Phác đồ tiêm giảm liều: 2-1-1. Người lớn và trẻ con như nhau, liều tiêm
0,5ml/mũi tiêm. Tiêm 4 mũi như sau: ngày 0 tiêm 02 mũi, ngày 7 tiêm 1 mũi,
ngày 21/28 tiêm 1 mũi kể từ ngày tiêm mũi thứ nhất.
Phác đồ tiêm trong da 2-2-2-1-1
Phác đồ tiêm trong da chỉ áp dụng đối với BN sau khi bị súc vật cắn không
áp dụng phác đồ tiêm dự phòng.
Kỹ thuật tiêm: tiêm trong da tại vùng cơ delta.
Liều lượng: Người lớn và trẻ em như nhau. Liều tiêm 0,1ml/mũi. Tiêm
08 mũi, ngày 0,3,7 mỗi ngày tiêm 2 mũi vào 2 tay. Ngày 28 và ngày 90 mỗi
ngày tiêm 1 mũi .
Huyết thanh kháng dại
Mục đích: Dùng HTKD để trung hoà vi rút. Trong trường hợp thời gian ủ bệnh
ngắn thì HTKD có tác dụng kéo dài thời gian ủ bệnh.
Phân loại: có 2 loại
Loại chế từ huyết thanh người: dùng 20 IU/kg cân nặng. Loại này ít sử
dụng vì giá thành rất cao.
Loại HTKD được tinh chế từ huyết thanh ngựa (SAR): liều dùng 40
IU/kg cân nặng.
Chỉ định: Tất cả các trường hợp có nhiều vết cắn, vết cắn sâu gần thần kinh
trung ương (đầu, mặt, cổ). Tiêm kháng HTKD càng sớm càng có hiệu quả cao.
Nếu quá 72 giờ sau khi bị cắn thì không nên tiêm và nên ủ ấm huyết thanh trước
khi tiêm.
0
Bảo quản huyết thanh dại: luôn bảo quản ở nhiệt độ 4-8 C.
1.3.2 Các biện pháp chung PCBD
mỗi năm có tới trên 5 triệu người bị chó cắn phải tiêm phòng VX [49], [55]. Con
số này ở Ấn Độ là 1,1 triệu người, Băng la đét là trên 60.000 người. Trong khi
đó tại các nước Châu Âu, số lượng người đi tiêm phòng dại hàng năm chỉ
trên 71.500 người [48], [50]. Chủ yếu các trường hợp điều trị dự phòng sau
phơi nhiễm chỉ tiêm VX (Châu Á 99%, Châu Âu: 94%, Châu Phi: 91%) [30].
Ước tính chi phí cho bệnh dại mỗi năm lên tới 1 tỷ đô la Mỹ chủ yếu là chi phí
tiêm phòng VX [10], [45], [46], [59].
Bản đồ 1.1: Bản đồ phân bố bệnh dại trên thế giới – TCYTTG 2008
Chú thích: Màu đậm: vùng có bệnh dại lưu hành
Màu nhạt: vùng không có bệnh dại
Theo báo cáo của TCYTTG bệnh dại phổ biến trên toàn thế giới từ Châu
Âu, Châu Á đến Châu Phi và Châu Mỹ [29], [31], [34], [37]. Chó là nguồn
gây bệnh dại chủ yếu cho con người, chiếm tỷ lệ 99% [28], [53]. Có khoảng
hơn 150 nước lưu hành bệnh dại trên động vật với 3,3 tỷ người sống trong vùng
nguy cơ mắc bệnh dại mà chủ yếu là các nước Châu Á và Châu Phi – nơi mà
bệnh dại hiện đang là một vấn đề y tế công cộng đặc biệt nghiêm trọng [43].
Bệnh dại là một trong mười bệnh có tỷ lệ tử vong cao nhất thế giới. Mỗi năm
có khoảng 70.000 người trên thế giới bị chết do bệnh dại, phần lớn các trường hợp
này được báo cáo từ những nước thuộc vùng nhiệt đới, nơi có tới 3/4 dân số thế
giới sinh sống. Theo con số thống kê chưa đầy đủ có tới 55.000 BN tử vong do
dại là ở các nước Châu Phi và Châu Á (90% CI: 24.500 – 90.800 BN) trong
đó 44% số BN ở Châu Phi tương ứng với 24.000 trường hợp tử vong (tỷ lệ tử
vong là 4/100.000 dân) và 56% số ca tử vong là ở Châu Á [22], [51]. Trong đó
chỉ tính riêng Ấn Độ ước lượng có tới 20.000 ca tử vong mỗi năm, chiếm tỷ lệ là
2/100.000 dân và hàng năm có khoảng 1 đến 1,5 triệu người phải tiêm VX dại
Tuy nhiên không chỉ riêng ở các nước đang phát triển, chi phí cho bệnh dại cũng
là một vấn đề đáng quan tâm kể cả ở các nước phát triển và có tỷ lệ mắc bệnh
thấp. Mỗi năm, nước Mỹ đã phải tiêu tốn hơn 300 triệu USD cho việc phòng
ngừa bệnh dại, trong khi đó tại Châu Mỹ La Tinh (không bao gồm Brazil), ngân
sách cho chương trình PCBD năm 2000 là gần 10,1 triệu USD và hơn 22,2 triệu
USD trong năm 2001 [41], [42]. Tại Châu Âu, 80% các ca bệnh dại có nguồn lây
từ động vật hoang dã [26], [39]. Ở Pháp, chi phí cho việc PCBD ở cáo bao
gồm cả việc cho uống VX trong giai đoạn 1986-1995 ước tính khoảng 261 triệu
USD [51].
Trung tâm bệnh động vật toàn châu Mỹ ở Ác hen ti na đánh giá rằng hàng năm ở
khu vực Châu Mỹ bệnh dại đã gây thiệt hại cho ngành chăn nuôi gia súc tới 28
triệu USD [21]. Tại Châu Âu, bệnh dại chủ yếu xảy ra ở Đức, Áo, Thụy Sỹ,
Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Lan, Tiệp Khắc và Hung ga ry [39]. Ở Anh mới đây thấy
bệnh lan truyền từ chó sói đồng sang súc vật nuôi trong nhà, thường gặp nhất ở
mèo. Ở Mỹ và Canada, thú hoang dã bị bệnh thường xảy ra ở gấu trúc, chồn,
cáo, chó sói đồng và dơi. Bệnh đã tiến triển thành dịch súc vật ở gấu trúc với
hơn 10 trường hợp. Mặc dù các quốc gia này đã thường xuyên thực hiện việc
tiêm VX cho động vật hoang dã và súc vật nuôi nhưng hàng năm vẫn có tới
hàng chục nghìn người bị súc vật nghi dại cắn phải khám bệnh và sử dụng tới
1,2 triệu liều VX [16], [27].
Bệnh dại gặp ở cả hai giới tuy nhiên tỷ lệ tử vong do dại ở nam cao hơn ở nữ [7],
[57]. Sự chênh lệch này được giải thích là do tính chất công việc của nam giới
phải hoạt động nặng và nhiều hơn nữ giới dẫn đến nguy cơ phơi nhiễm cao
hơn ở nữ [44].
Bệnh dại gặp ở mọi lứa tuổi. Tuy nhiên, trẻ em có nguy cơ mắc dại cao hơn
người lớn. 40-60% người phải tiêm phòng sau phơi nhiễm là trẻ em dưới 15 tuổi.
Đây là lứa tuổi nhỏ hiếu động nên dễ bị súc vật cắn và các vết thương thường bị
nặng và nhiều [7], [35].
trong 6 năm từ 1996-2000, Việt Nam cũng dẫn đầu trong cả nước về tỷ lệ tử vong
do bệnh dại. Trong giai đoạn này, tỷ lệ tử vong do dại trung bình trên 100.000
dân tại miền Bắc khoảng 0,12; miền Nam là 0,053; miền Trung là 0,093[7],
[20]. Điều kiện khí hậu ở Việt Nam với nét đặc trưng của khí hậu nhiệt đới
nóng ẩm đã tạo điều kiện cho sự lan truyền của bệnh dại dễ dàng hơn các miền
khác.
Bệnh dại có thể xảy ra quanh năm. Tuy nhiên vào các tháng mùa hè thì số lượng
BN có tăng hơn các mùa khác.
(45,8%) do lứa tuổi này nhỏ nên vết cắn thường nặng, gần vùng thần kinh
trung ương và các cháu chưa biết nói với gia đình khi bị súc vật cắn để được đi
tiêm phòng kịp thời. Thời gian ủ bệnh tỷ lệ nghịch với mức độ vết thương, nếu
vết thương càng nặng, càng nhiều, càng gần thần kinh trung ương bao nhiêu
thì thời gian ủ bệnh dại càng ngắn bấy nhiêu [19].
Có nhiều lí do để không đi tiêm VX sau khi bị súc vật cắn là không có tiền
11,2%, không thích tiêm 4,1%, đi chữa thầy lang 3,1%, không có phương tiện đi
lại 1%, nhà xa 1%…. [17]; chủ quan nghĩ không có chó dại, chó con hoặc chó nhà
nuôi thì không bị dại 49,3%, 23,3% trẻ em còn nhỏ sợ không dám nói với bố mẹ,
2,2% BN là thiếu tiền nên không đi tiêm phòng dẫn đến tử vong [19].
1.5.2 Giám sát người đến tiêm phòng dại và huyết thanh kháng dại
Tại các cơ sở y tế như hệ thống các trung tâm YTDP phần lớn đều có các điểm
tiêm phòng dại trên toàn quốc. BN đến tiêm được tư vấn đầy đủ và ghi đầy đủ
các thông tin vào sổ theo dõi người tiêm VX phòng dại và HTKD. Mỗi BN được
phát 01 phiếu tiêm chủng cá nhân để thuận tiện cho việc theo dõi lịch tiêm
phòng. Các điểm tiêm phải chịu trách nhiệm thực hiện rất nhiều nội dung như:
trực tiếp khám cho BN, xử lý vết cắn và tiêm cho BN. Tại các điểm tiêm phòng
dại sẽ phát hiện được địa điểm có súc vật bị dại qua khai thác từ BN đến
nhiên 50,1% người dân lại cho rằng bệnh dại có khả năng chữa được. Chỉ có
74,2% số người cho rằng sau khi bị cắn phải đi tiêm VX phòng dại, 55,7% biết là
phải rửa vết thương sau khi bị súc vật cắn, 2,1% số người vẫn tin tưởng ở thầy
lang và 1,3% số người không quan tâm gì đến bệnh dại. Theo nguồn số liệu từ
dự án PCBD cho thấy 90% số BN đến tiêm VX phòng dại sớm trong 3 ngày
đầu mặc dù vẫn còn 10% đến muộn 3 ngày sau khi bị cắn, đây cũng là một
điều hết sức nguy hiểm vì khi phơi nhiễm với vi rút dại thì cần phải được tiêm
phòng ngay càng sớm càng tốt. Những người đi tiêm phòng chủ yếu là do bị chó
cắn (89%) ngoài ra còn có một số các loại khác như mèo, chuột, khỉ…khoảng
60% số người đến tiêm khi con vật cắn lúc bình thường, 6% con vật cắn người
lúc đó đang lên cơn dại.
1.5.3 Hệ thống giám sát bệnh dại ở Việt Nam
Hệ thống PCBD cho người đã có từ nhiều năm nay. Hệ thống này nằm trong hệ
YTDP, do các trung tâm YTDP của các tỉnh/thành phố quản lý. Nội dung hoạt
động chính là tổ chức điểm tiêm phòng dại cho người. Nhiệm vụ chính của điểm
tiêm phòng dại là trực tiếp khám, tiêm cho người bị súc vật cắn hoặc tiếp xúc
với súc vật nghi dại. Chính nhờ hệ thống tiêm phòng dại này đã cứu được nhiều
BN thoát được cái chết do bệnh dại gây ra [2].
Cuối năm 2007, Bộ Y tế quyết định ngừng sử dụng VX dại Fuenzalida (sau khi
một số trường hợp phản ứng nặng gây viêm não, viêm tuỷ) chuyển sang sử
dụng VX dại tế bào an toàn và hiệu quả bảo vệ cao. Đây cũng là bước quyết định
quan trọng trong chiến lược bảo vệ sức khoẻ cho cộng đồng. Trong giai
đoạn chuyển tiếp tuy có một số khó khăn, trong đó khó khăn lớn nhất là giá
thành VX dại cao hơn nhiều so với giá thành VX dại Fuenzalida. Một số điểm
tiêm không có đủ kinh phí mua VX luân chuyển và một số điểm tiêm có ít BN
đến tiêm nên đã không tiếp tục hoạt động. Cho đến năm 2009 cả nước có
khoảng 700 điểm tiêm phòng dại. Các điểm tiêm phòng dại và người dân đã
thích nghi với việc sử dụng VX dại tế bào, hiệu quả đạt được đã tốt hơn.
+
Nồi sấy để sấy dụng cụ.
Sổ sách theo dõi chuyên môn.
+
Một bản tóm tắt thường quy PCBD
+
Sổ theo dõi bệnh nhân: Tất cả bệnh nhân bị súc vật cắn đến khám phải
ghi lại. Những bệnh nhân được chỉ định tiêm VX ghi riêng vào sổ tiêm VX theo