đặc điểm dịch tễ học bệnh dại ở người tại việt nam 2001-2010 - Pdf 19


MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Virus dại 3
1.1.1. Hình thái và cấu trúc 3
1.1.2. Khả năng đề kháng 4
1.1.3. Cấu tạo kháng nguyên 4
1.1.4. Tính chất miễn dịch học 5
1.1.5. Phân loại virus 5
1.2 Sinh lý bệnh 6
1.3 Tổn thương mô bệnh học 6
1.3.1. Tổn thương không đặc hiệu 6
1.3.2. Tổn thương đặc hiệu 7
1.4 Đặc điểm lâm sàng bệnh dại ở người 7
1.5 Chẩn đoán bệnh dại 8
1.6 Đặc điểm dịch tễ học 8
1.6.1. Nguồn truyền bệnh dại 8
1.6.2. Phương thức lan truyền 9
1.6.3. Bệnh dại ở người 10
1.7 Điều trị và dự phòng 13
1.7.1. Các biện pháp chung: 13
1.7.2. Các biện pháp dự phòng sau phơi nhiễm 14
1.7.3. Một số điều kiện cần ở các đơn vị tiêm phòng dại 18
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

ệnh dại theo giới 39
3.2.5. Phân bố tử vong do dại theo tuổi 40
3.2.6. Súc vật truyền bệnh dại 40
3.2.7. Phân bố tử vong do dại theo vị trí vết cắn 42
3.2.8. Số lượng vết cắn 43
3.2.9. Tình trạng tiêm phòng của bệnh nhân tử vong 43

3.2.10. Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân tử vong do dại 44
3.2.11. Một số yếu tô liên quan tới thời gian ủ bệnh của bệnh nhân 45
3.2.12. Kiến thức của bệnh nhân về bệnh dại 46
Chương IV: BÀN LUẬN 47
4.1. Đặc điểm dịch tễ học bệnh nhân phơi nhiễm với vi rút dại 48
4.3.1. Số lượng người tiêm phòng sau phơi nhiễm với vi rút dại 48
4.3.2. Đặc điểm bệnh nhân d
ự phòng sau phơi nhiễm theo tuổi, giới 48
4.3.3. Đặc điểm về súc vật gây ra vết thương 49
4.3.4. Đặc điểm của vết thương và thời điểm tiêm dự phòng. 50
4.2. Đặc điểm dịch tễ học bệnh nhân tử vong do dại. 50
4.2.1. Tỷ lệ bệnh nhân tử vong do bệnh dại giai đoạn 2000-2009 tại các tỉnh
miền Bắc. 50
4.2.2. Phân bố bệnh nhân tử vong theo thời gian trong n
ăm 51
4.2.3. Phân bố bệnh nhân tử vong do bệnh dại theo địa dư 52
4.2.4. Phân bố bệnh nhân tử vong do dại theo tuổi và giới. 53
4.2.5. Đặc điểm về nguồn truyền bệnh dại 53
4.2.6. Số lượng và vị trí vết thương 55
4.2.7. Triệu chứng lâm sàng 55

Bản đồ 3.3: Phân bố ca tử vong do dại tại tỉnh Phú Thọ từ 2000-2009 36
Bản đồ 3.4: Phân bố ca tử vong do dại tại Tuyên Quang từ 2000-2009 37
Bản đồ 3.5: Phân bố ca tử vong do dại tại Yên Bái từ 2000-2009 38
Bản đồ 3.6: Phân bố ca t
ử vong do dại tại Hà Nội từ 2000-2009 39 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ và số lượng người điều trị dự phòng sau phơi nhiễm với bệnh
dại tính trên 100.000 dân từ 2000-2009 (n =729.274) 27
Biểu đồ 3.2: Số lượng người điều trị dự phòng sau phơi nhiễm theo tháng trong
năm (n = 729.274) 28
Biểu đồ 3.3: Phân bố bệnh nhân tiêm phòng sau phơi nhiễm theo giới (n =
729.274). 28
Biểu đồ 3.4: Phân bố bệnh nhân tiêm phòng sau phơi nhiễm theo tuổi (n =
729.274). 29
Bi
ểu đồ 3.5 : Phân loại bệnh nhân theo thời gian tiêm tính từ khi bị cắn (n =
729.274) 29
Biểu đồ 3.6: Phân bố bệnh nhân điều trị sau phơi nhiễm theo loại súc vật cắn
người (n =729.274) 30

Biểu đồ 3.7: Phân bố bệnh nhân điều trị sau phơi nhiễm theo tình trạng súc vật
khi cắn người (n=729. 274) 30
Biểu đồ 3.8: Phân bố bệnh nhân điều trị sau phơi nhiễm theo vị trí vết cắn
(n=729.274) 31 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh dại là một bệnh viêm não-màng não cấp tính do virus dại, thuộc nhóm
Lyssavirus, họ Rhabdoviridae gây ra, lây từ động vật sang người bởi chất tiết,
thông thường là nước bọt bị nhiễm virus dại [27].
Bệnh dại hiện nay vẫn còn thấy ở nhiều nước trên thế giới. Theo báo cáo của
Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG), hiện nay có khoảng 3,3 tỷ người sống trong
vùng có bệnh dại lưu hành [33][35], mỗi năm có trên 10 triệ
u người bị súc vật
dại hoặc nghi dại cắn phải đi tiêm phòng bằng vaccine dại, có khoảng 55.000
người chết do bệnh dại phần lớn tập trung ở các châu lục như Châu Phi, Châu
Á, Châu Mỹ và 30-60 % số người tử vong là trẻ em dưới 15 tuổi [6] [33] [35]
[38][39]. Nguồn truyền bệnh dại là các động vật máu nóng hoang dã như chó
sói, cáo, dơi…hoặc các động vật nuôi như chó, mèo, trâu, bò [22] [33][35].
Khu vực Châu Âu bệnh dại xảy ra ở các nước nh
ư CHLB Đức, Áo, Thuỵ
Sỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungary …tuy nhiên chủ yếu là bệnh dại
ở động vật, bệnh dại ở người rất hiếm xảy ra. [28] [35] [44].
Khu vực Châu Á vẫn còn rất nhiều nước lưu hành bệnh dại như Ấn Độ,
Nepan, Bangladet, Indonesia, Trung Quốc, Phi-lip-pin và Việt Nam. Theo
TCYTTG tỷ lệ chết vì bệnh dại ở các nước này chiếm khoảng 90% trên toàn
cầu. Số chi phí hàng năm cho b
ệnh dại ở các nước này lên tới 583 triệu đô la
Mỹ [33] [35].

3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Từ hàng nghìn năm trước công nguyên, những thầy thuốc cổ phương đông
đã viết về một căn bệnh tương tự bệnh dại-bệnh sợ nước, sợ gió mà người và
chó mắc phải. Vào thế kỷ 23 trước công nguyên ở vùng Lưỡng Hà trong đạo
luật của Babilon cổ đại đã ấn định những hình phạt đối với những người chủ để
chó bị d
ại cắn chết người. Từ năm 500 đến năm 322 trước công nguyên, hai nhà
triết học Hy lạp cổ đại Đêmôcrít và Arixtốt đã mô tả căn bệnh dại như một căn
bệnh khủng khiếp do chó truyền sang người qua vết cắn. 200 năm sau công
nguyên Galien đã đề ra phương pháp phẫu thuật cắt bỏ phần cơ thể bị vết cắn để
ngăn ngừa sự
phát bệnh dại.
Thành công lớn nhất trong lịch sử phát hiện virus dại gắn liền với tên tuổi
nhà bác học L. Pasteur, vào cuối thế kỷ 19, đã mở ra một kỷ nguyên thực sự
mới đối với bệnh dại. Khi ông tiêm truyền virus dại vào não thỏ qua khoảng
hơn 100 lần ông đã tạo ra được một virus biến đổi có ái tính thần kinh, bất hoạt
một phần, có thời gian ủ bệnh thu ngắ
n xuống còn từ 6-7 ngày và ông gọi đó là

trong 3 phút.
Virus dại bền vững ở môi trường có glycerol, phenol 0,5% . pH tối ưu của
môi trường để bảo quản virus là 7,4-9,0. Với nhiệt độ -40
0
C trong các mẫu não
virus tồn tại vài tháng và ở -70
0
C có thể tồn tại hàng năm mà vẫn không mất
tính chất gây bệnh [7] [8] [9][32].
1.1.3. Cấu tạo kháng nguyên
Mặc dù tất cả các protein của virus dại đều có tính kháng nguyên nhưng
chúng không có vai trò như nhau trong bảo vệ. Protein G là kháng nguyên đặc
hiệu dại duy nhất là nơi tiếp xúc đầu tiên với tế bào chủ và tiếp xúc cơ thể sinh
ra kháng thể trung hoà virus một cách ổn định.
Ngoài kháng nguyên G còn có protein N nằm ở phần lõi virus cũng rất
quan trọng do nó có khả năng kích thích hình thành t
ế bào T helper trong đáp
ứng miễn dịch qua trung gian tế bào khi tiêm vaccine dại và vì nó cũng ít bị
biến đổi hơn so với các kháng nguyên khác [6][30][31]. 5

1.1.4. Tính chất miễn dịch học
Khi bị nhiễm virus dại hoặc sử dụng vaccine kháng nguyên sẽ kích thích cơ
thể sinh đáp ứng miễn dịch đặc hiệu bao gồm đáp ứng miễn dịch dịch thể và
đáp ứng miễn dịch tế bào
Đáp ứng miễn dịch dịch thể liên quan chủ yếu đến kháng thể trung hoà
virus thông qua cơ chế bảo vệ bằng phản ứ
ng trung hoà virus ngoại bào, phản

Bệnh dại được lây truyền qua nước bọt của động vật mắc bệnh bài tiết ra
ngoài theo vết cắn, vết liếm, vết xước trên da bị rách vào cơ thể. Virus sẽ theo
dây thần kinh hướng tâm tới hệ thần kinh trung ương và sinh sản ở đó.
Thời kỳ ủ bệnh tương ứng với sự di chuyể
n và sự nhân lên của virus dài
hay ngắn tuỳ thuộc vào vị trí vết thương gần hay xa thần kinh trung ương và
cũng tuỳ theo sự phân bố nhiều hay ít dây thần kinh ở vùng bị cắn. Nếu bị cắn ở
chân thì thời kỳ ủ bệnh dài hơn bị cắn ở đầu và mặt. Ngoài ra còn phụ thuộc vào
chiều rộng, chiều sâu và số lượng vết cắn [7][30].
Sau sự nhân lên nhanh hay chậm trong các trung tâm thần kinh, virus sẽ
theo các dây th
ần kinh hướng tâm tới hệ thần kinh trung ương, sinh sản ở đó
làm tổn thương các tế bào tuỷ sống và não tuy nhiên tại thời điểm này thần kinh
chưa bị tổn thương đáng kể nên chưa xuất hiện biểu hiện của triệu chứng viêm
não. Từ thần kinh trung ương, virus theo các dây thần kinh ly tâm tới tuyến
nước bọt để được giải phóng ra ngoài theo sự bong ra của các tế bào thần kinh
c
ủa các hạch giao cảm. Do đó ở chó và mèo thường từ 3-7 ngày trước khi có
triệu chứng lâm sàng đã có virus trong nước bọt và có mặt tối đa là 13 ngày
trước khi con vật có các triệu chứng bị bệnh. (TCYTTG).
Thời kỳ phát bệnh của bệnh dại thường kéo dài từ 1-10 ngày và hậu quả
chắc chắn là dẫn đến tử vong
1.3 Tổn thương mô bệnh học
1.3.1. Tổn thương không đặc hiệu
Đ
ó là những tổn thương viêm não hay viêm màng não-não, cấu tạo bởi một
thâm nhiễm màng não với tăng sinh quanh mạch và một thâm nhiễm nhu mô
với hiện tượng thực bào Nơron và sự có mặt của những nốt viêm não, tổn
Thời kỳ tiền triệu: khoảng 1-4 ngày, triệu chứng kín đáo và thất thường: sốt,
đau đầu, mất ngủ, cảm giác khó chịu toàn thân, cảm giác ngứa, kiến bò chỗ vết
cắn, lo âu, căng thẳng là những dấu hiệu tốt để hướng tới chẩn đoán bệnh dại. 8

Thời kỳ toàn phát xuất hiện nhanh chóng biểu hiện các triệu chứng viêm
não, màng não với những dấu hiệu đầu tiên là nhức đầu nhiều, buồn nôn, chóng
mặt, lo âu cực độ, trạng thái kích thích và tăng cảm giác biểu hiện là sợ nước,
sợ gió, ánh sáng, mùi lạ. Ngoài ra còn có các biểu hiện của rối loạn thần kinh
thực vật như sốt cao, giãn đồng tử, tăng tiết nước bọt, nước mắt, vã mồ
hôi, hạ
huyết áp… Bệnh nhân thường tử vong trong vòng 2-4 ngày sau khi lên cơn dại.
Đối với trẻ em thường bị cắn ở mặt nên thời kỳ ủ bệnh ngắn và diễn biến
nhanh chóng, tử vong sau 2-3 ngày, thường có những dấu hiệu hành tuỷ và rối
loạn ý thức, không có triệu chứng kích thích tâm thần vận động.
1.5 Chẩn đoán bệnh dại
Về mặt lâm sàng, chẩn đoán bệnh dại thườ
ng dựa vào những dấu hiệu đặc
trưng của bệnh, tiền sử phơi nhiễm với súc vật bị dại. Đối với những trường hợp
có thời kỳ ủ bệnh rất dài, không rõ phơi nhiễm thì chẩn đoán rất khó. Tuy nhiên
bệnh dại chắc chắn dẫn đến tử vong và các chẩn đoán phòng xét nghiệm chỉ có
giá trị cho nghiên cứu.
1.6 Đặc điểm d
ịch tễ học
1.6.1. Nguồn truyền bệnh dại
Ổ chứa virus dại trong thiên nhiên là động vật có vú máu nóng, nhất là ở các
động vật như chó sói đồng, chó sói, chó rừng. Ngoài ra ổ chứa virus dại còn ở
mèo, chồn, cầy và những động vật có vú khác.

vậy có chỉ định theo dõi chó sau khi cắn người trong vòng 14 ngày
Bệnh dại được lây truyền qua nước bọt của động vật mắc bệnh bài tiết ra
ngoài và theo vết cắn, vết liếm, vết xước trên da bị rách (hoặc qua màng niêm
mạc còn nguyên vẹn) vào cơ thể, từ đó theo dây thần kinh đến các hạch và thần
kinh trung ương, phá hủy thần kinh trung ương gây ra các triệu chứng của bệnh.
S
ự lây truyền bệnh dại qua đường không khí được chứng minh trong quần
thể loài dơi sống ở hang động và ở môi trường trong phòng thí nghiệm tuy vậy
rất hiếm xảy ra. 10

1.6.3. Bệnh dại ở người
Bệnh dại trước tiên là một bệnh súc vật, người chỉ mắc một cách ngẫu nhiên
và hoàn toàn không có vai trò dịch tễ nào.
Trên thế giới:

Bệnh dại có một sự phân bố theo địa lý toàn cầu. Đa số các trường hợp lây
bệnh bởi vết cắn của một con vật dại. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới
có khoảng 3.3 tỷ người trên thế giới sống trong vùng nguy cơ bị dại ở trên 100
quốc gia . Mỗi năm có trên 10 triệu người bị súc vật nghi dại cắn phải đi tiêm
phòng tập trung chủ
yếu ở châu Á đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ. Chỉ riêng
Trung Quốc mỗi năm có tới trên 5 triệu người bị chó cắn phải tiêm phòng vắc
xin. Con số này ở Ấn Độ là 1,1 triệu người, Băng-la đét là trên 60.000 người.
Trong khi đó tại các nước Châu Âu, số lượng người đi tiêm phòng dại hàng
năm chỉ trên 71.500 người. Chủ yếu các trường hợp điều trị dự phòng sau phơi
nhiễ
m chỉ tiêm vắc xin (Châu Á 99%, Châu Âu: 94%, Châu Phi: 91%) [47].

xuống rất mạnh từ năm 1992 và hiện nay hầu như rất th
ấp. Theo báo cáo của tổ
chức Y tế thế giới năm 1998, các trường hợp tử vong do dại tại các nước Châu
Âu chỉ chiếm 0,1% tỷ lệ tử vong do bệnh này trên toàn thế giới và 40% trong số
đó là do lây truyền ngoại lai [46][47].
Bệnh dại gặp ở cả hai giới tuy nhiên tỷ lệ tử vong do dại ở nam cao hơn ở nữ
[50]. Sự chênh lệch này được giải thích là do tính chất công việc của nam giới
ph
ải hoạt động nặng và nhiều hơn nữ giới dẫn đến nguy cơ phơi nhiễm cao hơn
ở nữ.
Bệnh dại gặp ở mọi lứa tuổi. Tuy nhiên, trẻ em có nguy cơ mắc dại cao hơn
người lớn. 40-60% người phải tiêm phòng sau phơi nhiễm là trẻ em dưới 15
tuổi. Đây là lứa tuổi nhỏ hiếu động nên dễ bị súc vật cắn và các vết thương
thường bị nặng và nhiều [26][38].
Ở Việt Nam
, bệnh dại lưu hành và phát triển ở hầu hết các tỉnh, thành phố.
Trong 10 năm (1996-2005) cả nước có 5.776.370 người bị súc vật cắn đã được
tiêm phòng dại tại các điểm tiêm phòng trên toàn quốc. Tỷ lệ tiêm vắc xin tính
trên 100.000 dân thấp nhất là năm 1996 (652,5), cao nhất là năm 2002 (796,1),
trung bình trong 10 năm là 672. Cũng trong giai đoạn này cả nước có 1038 ca 12

tử vong do bệnh dại (0,12/100.000 dân) giảm 2467 ca so với 10 năm từ 1986-
1995 [2].
Kết quả nghiên cứu về tình hình bệnh dại trong 5 năm (1984-1988) ở miền
Bắc có 402.052 người được tiêm vắc xin dại; 1234 người tử vong do bệnh dại
tập trung tại các tỉnh Hà Bắc, Hà Tuyên, Bắc Thái, Hà Nội…[18]. Trong giai
đoạn tiếp theo từ 1988-1991, miền Bắc có 595 393 người bị chó mèo cắn phải

tăng lên tập trung tại các tỉnh miền Bắc như Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái,
Hà Tây. Nguyên nhân chính là do số ca tủ vong xảy ra rải rác tại các xã nên
việc phát hiện của cán bộ y tế chưa nhanh nhạy và kịp thời [2].
Cũng theo tác giả Đinh Kim Xuyến, tử vong do bệnh dại ở tr
ẻ em dưới 15
tuổi chiếm tỷ lệ cao (45,8%) do lứa tuổi này nhỏ nên vết cắn thường nặng, gần
vùng thần kinh trung ương và các cháu chưa biết nói với gia đình khi bị súc vật
cắn để được đi tiêm phòng kịp thời [13].
Bệnh dại có thể xảy ra quanh năm. Tuy nhiên vào các tháng mùa hè thì số
lượng bệnh nhân có tăng hơn các mùa khác [13].
1.7 Điều trị và dự phòng
Bệnh dại khi đã lên cơn chắ
c chắn dẫn đến tử vong không cứu được. Chỉ có
một biện pháp duy nhất là tiêm vắc xin phòng dại càng sớm càng tốt sau khi
phơi nhiễm. Tiêm phòng vừa là biện pháp dự phòng vừa là biện pháp điều trị
duy nhất để có thể cứu sống bệnh nhân khi bị súc vật dại cắn.
1.7.1. Các biện pháp chung
Tuyên truyền giáo dục sức khoẻ: Trong công tác tuyên truyền giáo dục sức
khoẻ thường kỳ cần cung c
ấp những thông tin cần thiết về bệnh dại, cách xử lý
sau khi bị súc vật cắn để nhân dân biết cách phòng bệnh cho mình và cho cộng
đồng. Thực hiện tốt nội dung nghị định 05/2007/NĐ-CP về phòng chống bệnh
dại ở động vật.
Giáo dục nhân dân hạn chế nuôi chó. Chó nuôi phải xích nhốt, chó ra đường
phải rọ mõm. Diệt chó chạy rông, chó vô chủ.
Thực hiện đăng ký cấp giấy phép cho chủ nuôi chó mèo. Tiêm vắc xin cho
chó, mèo bằng vắc xin có hiệu lực. 14


15

− Trong trường hợp cần thiết phải cắt lọc nhưng không khâu ngay. Chỉ
khâu trong trường hợp vết cắn đã quá 5 ngày.
Trong trường hợp bắt buộc phải băng bó hoặc khâu vết thương phải đợi ít
nhất 2 giờ sau khi tiêm kháng huyết thanh để kháng huyết thanh có thể theo
tuần hoàn đến vị trí vết thương.
Bảng 1.1: Bảng tóm tắt điều trị dự phòng cho người bị súc vật cắn
Tình trạng súc vật
Tình trạng vết
thương
Lúc cắn Trong 15 ngày
Cách xử lý
Da bị xước Bình thường Ốm, có triệu
chứng dại
Tiêm vắc xin ngay
khi súc vật có triệu
chứng dại
Vết cắn nhẹ Có triệu chứng
dại hoặc mất
tích
Tiêm vắc xin ngay
Tiếp xúc gián tiếp
qua đồ vật có dính
nước dãi
Có triệu chứng
dại/nghi dại
Tiêm vắc xin ngay
Da bị xước gần

b. Vắc xin Verorab
Từ năm 1992, nước ta được Bộ y tế cho phép nhập và sử dụng vắc xin
phòng dại Verorab theo phác đồ tiêm bắp của TCYTTG. Verorab là một loại
vắc xin cấy trên tế bào thường trực vero. Ưu điểm của vắc xin này là an toàn,
đáp ứng miễn dịch cao sau khi được tiêm đủ liều, thời gian bảo vệ là một năm
nếu tiêm đúng phác đồ. Hầu hết các nước tiên tiến đã sử dụng vắc xin này từ
năm 1985 đến nay tuy nhiên do giá thành cao nên người sử dụng còn hạn chế.
a. Phác đồ tiêm bắp theo TCYTTG
Đối với tiêm ngừa dự phòng:

Chỉ định tiêm: Cho tất cả những người có tiếp xúc với nguồn bệnh dại như
nhân viên thú y, nhân viên phòng thí nghiệm bệnh dại, nhân viên kiểm lâm
Kỹ thuật tiêm và liều lượng: Tiêm bắp vào cơ delta, liều 0,5 ml/mũi. Tiêm
03 mũi vào các ngày 0,7,21/28 kể từ khi tiêm mũi thứ nhất.
Đối với bệnh nhân sau khi bị súc vật cắn hoặc tiếp xúc

Chỉ định tiêm: tất cả những người bị súc vật cắn hay tiếp xúc. 17

Kỹ thuật tiêm và liều lượng: Tiêm bắp vào cơ delta. Đối với trẻ quá nhỏ thì
tiêm vào phía trước ngoài của đùi. Không tiêm vào mông vì không đánh giá
được mức độ hấp thụ của vắc xin.
Phác đồ tiêm và liều tiêm: 1-1-1-1-1. Người lớn và trẻ con như nhau. Liều
tiêm 0,5 ml/mũi tiêm. Tiêm 05 mũi vào các ngày 0, 3, 7, 14, 28/30 kể từ ngày
tiêm mũi thứ nhất.
Phác đồ tiêm giảm liều: 2-1-1. Người lớn và trẻ con như nhau, liều tiêm
0,5ml/mũi tiêm. Tiêm 4 mũi như
sau: ngày 0 tiêm 02 mũi, ngày 7 tiêm 1 mũi,

phút nếu nơi tiêm sưng đỏ với đường kính> 1 cm thì phản ứng dương
tính.
− Trường hợp phản ứng âm tính thì tiêm một nửa liều vào bắp thịt, nửa
liều còn lại tiêm vào xung quanh v
ết thương sau khi đã rửa sạch.
− Trường hợp phản ứng dương tính: dùng phương pháp giải mẫn cảm
Besredka như sau: tiêm 3 lần dung dịch 1% huyết thanh kháng dại với
liều lượng 0,5 ml, 2ml và 5 ml mỗi lần cách nhau 15 phút. Nếu thấy
không phản ứng thì tiêm 0,1 ml dung dịch nguyên chất, sau 15 phút
không thấy phản ứng thì tiêm nốt chỗ còn lại chia thành 2-3 lần mỗi lần
nghỉ 15 phút. Trong trường hợp cần thiết có thể dùng thêm thuốc kháng
histamine [43][45].
− Bảo quản huyết thanh dại: luôn bảo quản ở nhiệt độ 4-8
0
C.
1.7.3. Một số điều kiện cần ở các đơn vị tiêm phòng dại
Mục đích: cần mở thêm các đơn vị phòng dại ở tuyến cơ sở nhằm:
− Giảm bớt khó khăn về đi lại cho người dân, tiêm kịp thời sau khi bị súc
vật cắn để giảm tỷ lệ tử vong.
− Giúp cho việc quản lý bệnh dại ở tuy
ến cơ sở đầy đủ, chính xác, kịp
thời.
Yêu cầu
− Cán bộ chuyên môn: có 1 bác sỹ/y sỹ, 1 y tá đã được huấn luyện chuyên
môn sâu về phòng chống bệnh dại 19

− Cơ sở vật chất: Phòng rộng 10-15 m


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status