1
1. Đặt vấn đề
Bệnh lý mạch máu nói chung, đặc biệt là bệnh lý về mạch não và mạch
vành là những bệnh hay gặp và rất nguy hiểm đối tính mạng nguời bệnh.
Theo số liệu của châu Âu, có tới 600 ngàn người tử vong mỗi năm do bệnh
động mạch vành, và bệnh này là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây
tử vong. Đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam bệnh động
mạch vành đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng và đang dẫn đến nhiều
thay đổi trong mô hình bệnh tim mạch [7]. Nghiên cứu của Kulkarni và
Varma về động mạch não trước cho thấy có tới 30.3% là có biến đổi đa giác
mạch. Số liệu của Chí Cường về can thiệp mạch não cho thấy có tới 80%
xuất huyết khoang dưới nhện mà không do chấn thương là do vỡ tỳi phỡnh
mạch não, mà chủ yếu là tại vòng động mạch não hay những đoạn mạch não
nằm gần vòng động mạch não. Mặc dù là những mạch máu đã được nghiên
cứu và mô tả nhiều về giải phẫu, nhưng do tính chất đặc biệt quan trọng về
mặt bệnh lý, chúng vẫn vẫn tiếp tục được quan tâm nghiên cứu dựa trên
những phương tiện hiện hình ngày càng hiện đại.
Mạch máu nói chung, động mạch vành và động mạch não nói riêng,
thường có nhiều biến đối. Nắm vững các biến đổi giải phẫu của các động
mạch vành và các động mạch não là cơ sở quan trọng cho bác sĩ lâm sàng
phiên giải (đọc) các films chụp mạch hay thực hiện các thủ thuật can thiệp
mạch máu một cách đúng đắn và chính xác nhằm nâng cao hiệu quả điều trị.
Có nhiều kỹ thuật bộc lộ động mạch vành và động mạch não, như làm
khuôn đúc động mạch hay phẫu tích. Đây là hai kỹ thuật kinh điển được nhiều
tác giả sử dụng để nghiên cứu và kết quả của những nghiên cứu đú đó được
thể hiện qua những mô tả trong các sách giáo khoa giải phẫu kinh điển. Tuy
nhiên, các kỹ thuật nghiên cứu này cũng có những hạn chế: Các khuôn đúc
2
mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu tổng quát:
Nghiên cứu biến đổi giải phẫu các động mạch vành và các động
mạch nóo trờn hình ảnh chụp MSCT 64 có đối chiếu với hình ảnh trên
DSA.
Mục tiêu cụ thể:
1. Xếp loại các biến đổi giải phẫu của ĐM vành và Đm não dựa trên
2.
hình ảnh MSCT 64 và DSA
Đánh giá khả năng hiện ảnh 29 đoạn và nhánh ĐMV và vòng động
3.
mạch nóo trên hình ảnh MSCT 64 so với hình ảnh trên DSA.
Xác định đường kính các đoạn và vòng nối ĐM nóo và ĐM vành trên
MSCT 64 và trên DSA.
2. Tổng quan tài liệu
2.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu mạch:
4
Dựa vào sự tiến bộ của ngành vật lý học ta có thể phân chia lịch sử phát
triển của nghiên cứu giải phẫu mạch mỏu thành các giai đoạn như sau.
2.1.1 Giai đoạn thứ nhất (thế kỷ thứ V trước và sau công nguyên):
Bệnh lý của mạch máu nói chung cũng như bệnh lý mạch vành hay
mạch nóo đó được biết đến từ trước công nguyên và đã được nhiều tác giả
Pchadus – orts 1975 đưa ra mô tả về động mạch nóo trước.. Kamath 1981 và
Van overbreek 1991 mô tả về động mạch nóo giữa, Paul và Mishra 2004
nghiên cứu mô tả động mạch nóo trước thành các đoạn và các nhánh. Nghiên
cứu của các tác giả đã thực sự có ý nghĩa trong việc mmô tả các nhánh, qua đó
góp phần phõn tích và điều trị mạch nóo. Tuy nhiên lại chưa có sự thống nhất và
hệ thống hoá các nhánh của toàn hệ động mạch nóo.
+ Uerner Forssman (1929) là người đầu tiên thực hiện thông tim phải
trên người sống. Ông thực hiện thông tim trên chớnh bản thõn ông [8]. Đõy là
một ý tưởng vĩ đại, mang tớnh cách mạng cho việc đi sõu nghiên cứu và can
thiệp các bênhhj lý về mạch mỏu. Nhưng tại thời điểm đó phương pháp của ông
không được hưởng ứng.
+ Mason Sones (1959) lần đầu tiên tiến hành chụp ĐMV chọn lọc tại
bệnh viên Cleveland đưa ra hình ảnh ĐMV trên phim chụp ĐMV [4]. . Kỹ
thuật này nhanh chóng được phổ biến ra toàn thế giới. Nótực sự mở ra một kỷ
nguyên mới cho nghiên cứu hình thái, bệnh lý và can thiệp mạch. Cho tới nay
hình ảnh thu được trên phim chụp mạch bằng phương pháp chụp mạch qua
ống thông vẫn được coi là “ tiêu chuẩn vàng” trong chẩn đoán bệnh lý về
mạch. Đồng thời cung cấp những thông tin về giải phẫu tin cậy nhất . Qua đó
đưa ra được chiến lược điều trị thích hợp, như điều trị nội khoa, can thiệp
mạch vành qua da hay phẫu thuật bắc cầu chủ vành. Tuy nhiên phương pháp
này lại khó áp dụng rộng trong các cơ sở y tế do mặt kinh tế cũng như thực
hiện kỹ thuật. Mặt khác đõy là kỹ thuật có xõm lấn và có tỷ lệ tai biến cao
(khoảng2%[61]).
6
2.2. Sễ LệễẽC VEÀ CHUẽP MAẽCH XAÂM LAÁN:
2.2.1. Chụp động mạch vành
hạn về độ ly giải của hệ thống chụp mạch (cine-angiographic system).
7
Cũng giống như bất cứ một thủ thuật nào khác, CMV xâm lấn cũng có
những chống chỉ định như sốt không rõ nguyên nhân, tình trạng nhiễm trùng
chưa được điều trị, thiếu máu nặng với hemoglobin < 8 gm/dl, mất cân bằng
điện giải nặng, chảy máu nặng, tăng huyết áp hệ thống chưa được kiểm soát,
nhiễm độc digitalis, có tiền căn phản ứng với chất cản quang nhưng hiện tại
chưa được điều trị trước bằng corticoides và đột quỵ đang tiến triển. Những
tình trạng bệnh khác chống chỉ định tương đối với CMV xâm lấn bao gồm suy
thận cấp, suy tim sung huyết mất bù, bệnh rối loạn động máu nội hoặc ngoại
sinh, viêm nội tâm mạc đang tiến triển.
2.2.2. Chụp động mạch não
+ Egas Monis (1927) là người đầu tiên tiến hành chụp động mạch não
cản quang để chẩn đoán u não
+ Lohr (1936) tiến hành chụp động mạch não để chẩn đoán máu tụ nội
sọ do chấn thương. Tuy nhiên phương pháp này không được tiến hành nhiều
do thuốc cản quang độc, hay gây tai biến.
+ Seldinger (1953) đã tiến hành thông động mạch đầu tiên bằng cách
luồn ống thông qua động mạch đùi, sau đó đưa theo động mạch chủ rồi lên
động mạch cảnh, bơm thuốc cản quang và chụp phim
+ Chụp động mạch số hoỏ xoỏ nền : Kỹ thuật này cho phép xác định
tổn thương mạch máu ở cả thì động mạch, tĩnh mạch và mao mạch. Kỹ thuật
này cho phép xác định chính xác vị trí và hình thái tổn thương, đặc biệt trong
dị dạng mạch máu.
Túm lại chụp mạch xõm lấn là một kỹ thuật đã mang lại nhiều lợi ích
cho việc điều trị và can thiệp bệnh lý về mạch mỏu nói chung. Nhưng sử dụng
để nghiên cứu giải phẫu các mạch thì không khả thi do đõy là phương pháp
có môt số tác giả nêu ra ý tưởng để nghiên cứu các động mạch từ các hình ảnh
thu được. Tuy nhiên hình ảnh ở thời điểm này cũng chưa thực sự mô tả được
hết cấu trúc của mạch. Do đó chưa được trú trọng nghiên cứu.
Năm 2004 máy MSCT 64 dãy ra đời là một tiến bộ lớn trong y khoa với
nhiều tính năng nổi bật, cho phép thăm rò hình thái các cơ quan, đặc biệt hình
ảnh thu được có thể đánh giá hình thái ĐM và tình trạng tổn thương ĐM như
hẹp hay vụi hoỏ, do thế hệ máy này đã cải tiến được độ ly giải về thời gian và
không gian. Hơn thế quá trình chụp chỉ kéo dài trong một hơi nín thở nờn đó
giảm thiểu đực các yếu tố nhiễu cũng như thời gian phơi nhiễm với tia x.
9
Năm 2009 Tôi đã tiến hành nghiên cứu khả năng hiện ảnh 15 nhánh
ĐMV theo sự phõn loại của Hiệp Hội Tim Mạch Hoa Kỳ và biến đổi của các
nhánh mạch này trên hình ảnh chụp MSCT 64 cho thấy, thế hệ máy này hoàn
toàn cho phép đánh giá về hình thái giải phẫu. Tuy nhiên để mô tả các nhánh
mạch nhỏ hơn theo sự phõn loại của CASS hay của BARI gồm 29 nhánh và
các nhánh mạch có đường kớnh nhỏ hơn 1.5 mm. Hay các vòng nối của các
nhánh này thì chưa được nghiên cứu. Do đó cần mở rộng nghiên cứu để xác
định giá trị thực sự của máy MSCT 64 Trong mô tả giải phẫu các mạch.
2.4. Động mạch vành:
Tim là một khối cơ rỗng, là cái bơm đảm nhận chức năng bơm máu
của cả hệ thống tuần hoàn [1],[8],[10],[30],[35],[38],[39],[40],[45]. Cấp máu
cho mọi hoạt động của tim thông qua hệ thống các ĐM vành. Mạch vành là
các mạch tận, mỗi nhánh cấp máu cho một vùng riêng biệt, vòng nối giữa các
ĐM là rất nghèo nàn [1],[2],[4],[25],[27],[33]. Cỏc vũng nối này phát triển
trong trường hợp bị tắc mạch vành tiến triển từ từ, vì thế khi tổn thương tắc
cấp tính thường dẫn đến thiếu máu hoại tử cơ tim tương ứng. Hình thái giải
2.4.2.1. Nguyên uỷ:
ĐM vành phải và trái là hai nhánh đầu tiên của ĐMC, chúng tách ra bởi
hai lỗ ở khoảng 1/3 trên của các xoang chủ phải và trái ( xoang vành), ngay
phía dưới bờ tự do của các van bán nguyệt tương ứng ở thì tâm thu. [24,25].
Do mối liên quan chặt chẽ giữa các lỗ xuất phát của ĐM vành phải và trái với
cỏc lỏ van bán nguyệt nờn cỏc lỏ van này còn có tên là lá van vành, lá van
thứ ba không có ĐM nào tách ra gọi là van không vành. Do ở lỗ van ĐM chủ
cỏc lỏ van nằm trên một mặt phẳng chếch từ trên xuống dưới và từ sau ra
trước, đồng thời hơi xoắn vặn nên thực tế lỗ van ĐMV phải nằm phía trước và
thấp hơn ĐMV trái.
Ngoài ra có thể gặp bất thưũng về nguyên uỷ ĐMV phải và trái, như
ĐMV trái, ĐM mũ xuất phát từ xoang vành phải hay trực tiếp từ ĐMV phải,
thân ĐM phổi. Và ngược lai ĐMV phải lai xuất phát từ thân ĐMV trái, xoang
vành trái [26]. Bất thường này là nguyên nhân của đau ngực, thiếu máu cơ tim
hay đột tử.
2.4.2.2. Đường đi của ĐMV:
11
+ ĐMV phải: Xuất phát từ lỗ vành phải, trong xoang vành phải, ngay
sau khi xuất phát ĐM thu dần khẩu kính rồi giữ nguyên khẩu kính chạy vòng
sang phải xuống dưới trong rãnh vành để ra sau. Tới đầu rãnh gian thất sau,
nơi gặp nhau giữa rãnh vành và rãnh gian nhĩ, gian thất ( vùng điểm) thì chia
thành hai nhánh tận: nhánh gian thất sau và nhánh sau thất trỏi. Nhỏnh gian
thất sau chạy xuống dưới, gần như vuông góc với ĐMV phải trong rãnh gian
thất sau, tận hết ở đỉnh tim và tiếp nối với ĐM gian thất trước, một số trường
hợp ĐM gian thất sau có thể lại xuất phát từ ĐM mũ của ĐM vành trỏi.
Nhỏnh thất trái sau thường tiếp tục đi theo hướng của ĐM vành phải trong
rãnh vành sang trái, rồi cho cỏc nhỏnh vào mặt sau thất trái. Nhưng trong
Posterior Descending Artery
Left Main
Left Anterior Descending
Proximal (I)
Middle (II)
Distal (III)
First diagonal
Second diagonal
Left circumflex
proximal (I)
middle (II)
First obtuse marginal
Second obtuse marginal
Left Postero – lateral
Right Postero – lateral
Với hệ thống phân chia
Viết tắt
Ký hiệu
Tiếng Việt
1
2
3
ĐMV phải
Đoạn gần
Đoạn giữa
LCX - I
LCX - II
OM1
OM2
LPL
LPL
nay đã
4
5
Nhánh xuống sau
Thân chính
Nhánh xuống trước trái
Đoạn gần
Đoạn giữa
Đoạn xa
Nhỏnh chéo một
Nhỏnh chéo hai
ĐM mũ trái
Đoạn gần
Đoạn giữa
Nhánh bờ tù thứ nhất
Nhánh bờ tù thứ hai
Nhánh sau bên trái
Nhánh sau bên phải
hoá do đó mang lại nhiều
11
2
Đoạn giữa
12
3
Đoạn xa
13
4
Nhánh xuống sau
14
5
Nhánh nhĩ thất sau
6
ĐM mũ
18
Nhánh sau bên 2
17
Nhỏnh xuyờn
vỏch
24
8
Nhánh sau bên 3
29
Nhỏnh chéo 3
25
9
Nhỏnh vách xuống
sau
28
Nhỏnh phõn
giỏc
26
nghiên cứu, đặc biệt các nhà chẩn đoán hình ảnh mô tả được chính xác và chi
tiết các vị trí tổn thương giúp cho quá trình điều trị can thiệp chính xác hơn.
2.4.2.4. Vòng nối của hệ ĐMV.
Nhiều tác giả lâm sàng đã quan niệm ĐMV không có nhánh nối thông,
nếu có cũng không đủ nhanh để tạo nên cỏc vũng nối khi ĐMV bị tắc vì vậy
các tác giả cho rằng vòng nối của ĐMV có đặc điểm là các ĐM tận. Tuy
14
nhiên nhiều tác giả nghiên cứu về vòng nối của ĐMV như Vastesneger, Wood
và cộng sự nghiên cứu trờn cỏc tiêu bản ăn mòn và chụp ĐMV cản quang đã
chỉ ra sự nối thông giữa cỏc nhỏnh của cùng ĐM hoặc ở hai ĐMV khác nhau.
hay theo James (1974) cũng qua tiêu bản ăn mòn ĐM đã chứng minh sự nối
thông giữa hai ĐMV ở các mức: dưới lá tạng, trong cơ tim hay dưới nội tâm
mạc và sự nối thông xuất hiện ở nhiều vị trí như mỏm tim, mặt trước thất
phải, rãnh gian nhĩ, gian thất hay ở vùng điểm..... [3]. Nhưng các tác giả cũng
chỉ nêu ra được sự nối thông của ĐMV mà không khẳng định được chức năng
của động mạch này khi bị tắc ĐM vì phương pháp nghiên cứu của các ông
đều dựa trên các tiêu bản ăn mòn do đó không có khẳ năng đánh giá sự biến
đổi khi bị tắc.
Vòng nối của hệ ĐMV không chỉ bó hẹp trong cỏc nhỏnh của ĐMV mà
các tác giả Baroldi và Scomazzoni khi tiêm thuốc màu vào ĐMV đã khẳng
định sự nối thông giữa ĐMV với các ĐM màng ngoài tim, trung thất và ĐM
cơ hoành. Nhưng các tác giả này cũng không khẳng định được giá trị của cỏc
vũng nối này đối với việc cấp máu nuôi dưỡng cho tim [3].
2.4.2.5. Ưu thế ĐMV
Khái niệm ưu thế mạch là xác định xem ĐMV phải hay trái chiếm ưu
thế trong việc cấp máu cho tim nói chung. Có nhiều cách nhìn nhận khác nhau
tuỳ theo các nhà lõm sỏng hay nhà giải phẫu.
+ Cỏc nhánh bờ: có khẩu kính 1,5- 3mm TB ≈ 2mm)
2.4.2.7. Một số bất thường giải phẫu bẩm sinh:
Các bất thường về giải phẫu ĐMV là rất lớn gặp khoảng 12% các cá
thể. Và sư hiểu biết về bất thường gải phẫu bẩm sinh của ĐMV là rất cần thiết
trong chẩn đoán sớm và trong điều trị ngoại khoa. Chúng ta có thể gặp các
16
hình thức bất thường khác nhau từ lỗ xuất phát, vị trí của lỗ, đường đi, hay sự
phân nhánh của các ĐM. Theo So yeon Kim,MD (2006)[71] phân chia các
bất thường thành cỏc nhúm sau
Bất thường
Bất thường
Bất thường hình thức
nguyên uỷ
đường đi
tận hết
Đảo ngược vị trí
Cầu cơ
Xuất phát cao
đốt sống. Các động mạch này cùng với những nhánh gần của chúng nằm
trong khoang dưới nhện ở nền não.
Động mạch cảnh trong và cỏc nhỏnh lớn của chúng (đôi khi còn được
gọi là hệ thống cảnh trong) về cơ bản cấp máu cho não trước, trừ thuỳ chẩm.
Động mạch cảnh trong tách ra từ chẽ đôi động mạch cảnh chung, đi lên
ở cổ và đi vào óng động mạch cảnh của xương thái dương. Tiếp đú nú đi qua
các đoạn đá, xoang hang và não.
Phần đá, động mạch cảnh trong đi lên trong ống động mạch cảnh, và
uốn cong về phía trước trong rồi về phía trên trong ở trên tấm sụn lấp lỗ rách,
để vào trong hộp sọ. đầu tiên nó nằm trước ốc tai và hòm nhĩ, và được ngăn
cách với hòm nhĩ và vòi tai bởi một mảnh xương mỏng, vốn có dạng sàng ở
người trẻ và bị tiêu đi (absorb) một phần ở người già. Xa hơn về phía trước nó
được ngăn cách với hạch sinh ba bởi trần mỏng của ống động mạch cảnh.
Động mạch được vây quanh bởi một đám rối tĩnh mạch và đám rối tự chủ cảnh,
vốn bắt nguồn từ nhánh cảnh trong của hạch cổ trên. Phần đá của động mạch
tách hai nhánh. Động mạch cảnh nhĩ là một mạch nhỏ, đôi khi là một đôi mạch,
đi vào hòm nhĩ qua một lỗ ở ống động mạch cảnh và tiếp nối với nhánh nhĩ
trước của động mạch hàm trên và động mạch trâm chũm. Động mạch ống chân
bướm không hằng định. Khi có mặt, nó đi vào ống chân bướm cùng với thần
kinh ống chân bướm và tiếp nối với một nhánh của động mạch khẩu cái lớn.
Phần xoang hang của động mạch cảnh trong đi lên tới mỏm yên sau.
Nó hướng ra trước tới mặt bờn thõn xương bướm trong xoang hang và sau đó
uốn cong lên trên ở trong mỏm yên trước, để thoát ra qua trần màng cứng của
xoang hang. Đôi khi, hai mỏm yên tạo nên một vòng xương quanh động
18
mạch. Động mạch cũng được bao quanh bởi một đám rối giao cảm. Các thần
kinh vận nhãn, ròng rọc, mắt và giạng nằm ngoài động mạch.
vài nhỏnh. Cuốicựng nú đi vào sừngdưới của nóthat’s bờn qua đường khe
mạch mạc và tận cùng ở đám rối mạch mạc. Nhánh mạch nhỏ nhưng quan
trọng này cỳnggúp phần vào sựcấp máu cho cầu nhạt, nhõn đuụi, thể hạnh
nhân, hạ đồi thị, củ xỏm, nhõn đỏ, chất đen, trụ sau của bao trong. Tia thị, dải
thị giác, hải mã và các tua của vòm.
2.5.1.1. Động mạch não trước (anterior cerebral artery)[31,48]
Động mạch não trước là nhánh tận nhỏ hơn trong hai nhánh tận của
động mạch cảnh trong.
Thuật ngữ ngoại khoa chia động mạch não trứơc thành ba phần: A1 –
từ chỗ tận cùng của động mạch cảnh trong tới chỗ gặp động mạch thông
trước; A2 – từ chỗ nốivớiđộng mạch thông trước trới nguyên uỷ của động
mạch viền trai và A3 - đoạn sau nguyên uỷ của động mạch viền trai. PhầnA3
còn được gọi là động mạch quanh trai.
Động mạch não trước bắt đầu tại đầu trongcủa rónh nóo bờn và chạy về
phía trưổctng ở trên thần kinh thị giác tới khe não dọc, nơi nó nối với động
mạch bên đối diện bằng động mạch thông trước. Động mạch thông trước dài
khoảng 4 mm và có thể có hai đong mạch. Nó tách ra nhiều nhánh trung tâm
trước trongcấp máu cho chéo thị giác, mảnh tận cùng, hạ đồithị, cỏc vựng cận
khứu, cột vòm và hồi đai.
Hai động mạch não trước cùng đi trong khe não dọc. Chúng chạy vòng
quanh gối của thể trai rồi sau đó chạy dọc mặt trên của thể trai, tới đầu saucủa
thể trai thì tiếp nốivới các động mạch não sau. Chúng tách ra cỏc nhỏnh vỏ và
cỏc nhỏnh trung tâm.
20
Cỏc nhánh vỏ của động mạch não trước được đặt ờn dựa theo vùng
phân bố. Hai hoặc ba nhánh ổ mắt đi vào mặt ổ mắt của thuỳ trán và cấp máu
cho vỏ khứu , hồi thẳng và hồi ổ mắt trong. Cỏc nhỏnh trỏn cấp máu cho thể
nhỏnh vỏ của động mạch não giữa cấp máu cho cỏc vựng vỏ vậnđộng và cảm
giác thân thể đại diện cho toàn bộ cơ thể, trừ chi dưới, vùng thính giác và thuỳ
đảo.
Cỏc nhánh trung ương nhỏ của động mạch não giữa, các động mạch
võn bờn hay bốo võn, tách ra ở chỗ bắt đầu của nó và đi vào chất thủng trước
cùng với động mạch vân giữa. Các động mạch võn bờn đi lên trong bao ngoài
trên mặt dưới ngoài của phức hợp nhõn bốo, sau đó uốn cong vào trong , đi
ngang qua phức hợp nhõn bốo và bao trong và vươn xa cho đến tận nhõn
đuụi.
2.5.1.3. Động mạch đốt sống (vertebral artery)
Các động mạch đốt sống và cỏc nhỏnh chớnh của chúng (đôi khi còn
được gọi là “hhệ đốt sống-nền”) về cơ bản cấp máu cho phần trên tuỷ sang,
thõn nóo, tiểu não và thuỳ chẩm của đại não. Ngoài ra, cỏc nhỏnh khỏc cú
vựng cấp máu rộng hơn.
Các động mạch đốt sống tách ra từ cỏcđộng mạch dưới đũn. Chỳng đi
lên qua cổ trong những lỗ ngang của sỏu đụtsoongs cổ trên và đi vào hộp sọ
qua lõ lớn xương chẩm, ở sát gần mặt trước bên của hành nóo. Chỳng chạy về
phía đường giữa khi chúng đi lên hành não và kết hợp lại để tạo nên động
mạch nền tại xấp xỉ chỗ tiếp nối giữa cầu não và hành não.
22
Một hay hai nhánh màng não tách ra từ động mạch đốt sống ở gần lỗ
lỡnương chẩm. Những nhánh này phân nhánh giữa xương và màng não cứng
trong hố sọ sau và cấp máu cho xượng, lõi xốp và liềm tiểu não.
Một động mạch tuỷ sống trước nhỏ tách ra ở gần chỗ tận cùng của động
mạch đốt sống và đi xuống ở trước hành não để kết hợp với nhỏnh bờn đối
diện ở mức giữa hành nóo. Thõn chung sau đó đi xuống trên mặt giữa trước
của tuỷ sống và được tăng cường bởi cỏc nhỏnh tuỷ sống từ các động mạch
nhỏnh của nó và phân phối rộng rãi tới hành não.
2.5.1.4. Động mạch nền (basilar artery)
Động mạch nền dược hình thành từ sự hợp lại của các động mạch đốt
sống ở mức giữa hành não và chạy dài tới tận bờ trên của cầu nóo. Nú nằm
trong bể cầu não và đi theo một rónh nụngở giữa mặt trước cầu não. động
mạch nền tận cùng bằng cách chia thành hai động mạch não sau tại một mức
biến đổi nhưng thường trong bể gian cuống, ở sau lưng yên.
Nhiều nhánh nhỏ cho cầu não tách ra từ mặt trước và các mặt bên của
động mạch nền dọc theo đường đi của nó. Động mạch mê đạo (tai trong) dài
và mảnh khảnh có một nguyên uỷ biến đổi. Nó thường tách ra từ động mạch
tiểu não dưới trước nhưng các biến dổi về nguyên uỷ của nó bao gồm phần
dưới của động mạch nền, động mạch tiểu não trên hoặc đôi khi là động mạch
tiểu não dưới sau. động mạch mê đạo đi kèm theo các thần kinh mặt và tiền
đình óc tai vào ống tai trong và cấp máu cho tai trong.
Động mạch tiểu não dưới trước tách ra từ phần dưới của động mạch
nền và chạy về phía sau bên, thường ở trước các thần kinh giạng, mặt và tiền
đình ốc tai. Nó thường tạo thành một quai đi vào ống tai trong ở dưới các thần
kinh và khi điều này sảy ra, động mạch mê đạo có thể tách ra từ quai. động
mạch tiểu não dưới trước cấp mỏucho mặt dưới tiểu não ở phần trước bên và
tiếp nối với nhánh tiểu não dưới sau của đọng mạch đốt sống. Một ít nhánh
24
cấp mỏucho cỏcphần dưới bên của cầu não và đôi khi cũng cấp máu cho cả
hành nóo trờn.
Động mạch tiểu não trên tách ra từ phẫna củađộng mạch nền, ngay
trước khi hình thành cỏcđộng mạch não sau. Nó chạy sang bên ở dưới thần
kinh vận nhãn và được ngăn cách với động mạch với động mạch não sau bởi
thần kinh này, và uốn cong quanh cuốngđại não ở dưới thần kinh ròng rọc để
trung tâm sau giữa nhỏ tách ra từ chỗ bắt đầu của động mạch não sau và, cùng
với những nhánh tương tự của động mạch thông sau, xuyên qua chất thủng
sau và cấp máu cho phần trước đồi thị, vùng dưới đồi, thành bên của não thất
ba và cầu nhạt. Một hoặc nhiều nhánh mạch mạc sau chạy trên thể gối ngoài
và cấp máu cho nó trước khi đi vào phần sau của song dưới não thất bên qua
phần dưới của khe mạch mạc. Cỏc nhỏnh cuóng curl quanh đầu sau của đồi
thị và chạu qua khe não ngang, hoặc đi tới đám rối mạch mạc của não thất ba,
hoặc đi ngang qua khe mạch mạc trên. Tất cả những nhánh này cấp máu cho
đám rối mạch mạc của các não thất ba và bên và vũm. Cỏc nhỏnh trung ương
sau bên nhỏ tách ra từ động mạch não sau sau khi động mạch này vượt qua
cuống đại não và cấp máu cho cuốngđại não và phần sau đồi thị, cỏc gũ trờn
và dưới, tuyến tùng và thể gối trong.
2.5.2 Vòng động mạch não (circulus arteriosus) [31,58]
Vòng động mạch nóo (vũng Willis) là một vòng tiếp nối động mạch lớn
liên kết các hệ thống cảnh trong và sống nền. Nó nằm ở khoang dưới nhện,
trong bể gian cuống và bao quanh giao thoa thị giác, phểu và các cấu trúc
khác của hố gian cuống. ở phía trước, các động mạch não trước của động
mạch cảnh trong được nối với nhau bởi động mạch thông trước. ở phía sau,
mỗi động mạch não sau nối với động mạch cảnh trong cựng bờn qua động
mạch thông sau. ậ đa số các trường hợp, các động mạch thông sau rất nhỏ và
chỉ cho phép một sự tuần hoàn hạnchế giữa hệ thống sống nền và hệ thống
cảnh trong. Điểu này quan trọng vì mục đích chính của vòng mạch là cung