Khóa luận Pháp luật về bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam - Pdf 35

Khoá luận tốt nghiệp

Pháp luật về bảo vệ môi trờng không khí

Lời mở đầu
Không khí là một trong những thành phần cơ bản của môi trờng sống, có
vai trò vô cùng quan trọng trong việc duy trì sự sống của con ngời. Song môi
trờng không khí đã và đang ngày càng bị ô nhiễm một cách trầm trọng do
chính hành vi của con ngời gây ra. Để tồn tại, phát triển và thoả mãn các nhu
cầu ngày càng cao của mình, con ngời đã, đang và sẽ tiếp tục tác động một
cách tiêu cực đến môi trờng không khí. Khi môi trờng không khí bị ô nhiễm
đã gây ra những tác động ngợc trở lại cho đời sống con ngời và trở thành một
trong những vấn đề có tính toàn cầu thì bảo vệ môi trờng không khí đã thu hút
đợc sự quan tâm không chỉ của riêng Việt Nam mà của tất cả các quốc gia
trên thế giới.
Hoà chung với tiến trình hội nhập toàn cầu và xu thế chung trong bảo vệ
môi trờng mang tính quốc tế, Việt Nam đã sử dụng nhiều công cụ, thực hiện
nhiều biện pháp khác nhau để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trờng không
khí, trong đó pháp luật đợc đánh giá là công cụ có hiệu quả nhất. Thông qua
pháp luật, Nhà nớc đã tác động đến các chủ thể khi họ có hành vi tác động đến
môi trờng không khí, qua đó định hớng cho các chủ thể thực hiện hành vi có
lợi hơn cho môi trờng không khí, góp phần bảo vệ môi trờng không khí.
Nhng pháp luật về bảo vệ môi trờng không khí ở Việt Nam trong những
năm vừa qua lại là một bộ phận đợc quan tâm muộn và cha thật sự đúng đắn,
chỉ đến gần đây, khi tình trạng ô nhiễm môi trờng không khí ở Việt Nam đã
trở nên trầm trọng thì nó mới thực sự đợc quan tâm một cách đúng mức. Tuy
vậy, cho đến nay ở Việt Nam vẫn cha có một văn bản pháp luật nào điều chỉnh
riêng về bảo vệ môi trờng không khí sạch, mà ta chỉ có thể tìm thấy một số
quy phạm pháp luật về vấn đề này trong các văn bản có liên quan. Điều đó
cho thấy hiện trạng văn bản pháp luật về bảo vệ môi trờng không khí ở Việt
Nam còn nhiều hạn chế, tản mạn và chồng chéo, cha đáp ứng đợc yêu cầu bảo

tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, tôi rất mong nhận đợc sự chỉ bảo, đóng
góp ý kiến từ các thầy cô và các bạn cho Khoá luận đợc hoàn thiện hơn.

Nguyễn Thị Thu Huyền - K46A

2


Khoá luận tốt nghiệp

Pháp luật về bảo vệ môi trờng không khí

Chơng I: Những vấn đề chung về môi trờng
không khí và pháp luật về bảo vệ môi trờng
không khí
1.1. Ô nhiễm môi trờng không khí
1.1.1. Các khái niệm: không khí, ô nhiễm môi trờng không khí
Không khí là hỗn hợp khí gồm có Nitơ chiếm 78.9%, oxy chiếm 20.59%,
Acgong chiếm 0.93%, đioxit cacbon chiếm 0.32% và một số hiếm khí khác
nh Nêon, Hêli, Mêtan, Kripton. ở điều kiện bình thờng của độ ẩm tuyệt đối,
hơi nớc chiếm gần 1.3% thể tích không khí1.
Nếu trong môi trờng không khí có lẫn một số loại khí chất khác có gây
ảnh hởng đến đời sống của con ngời, của động vật và thực vật thì môi trờng
không khí đó bị coi là ô nhiễm. Khi đó ô nhiễm không khí đợc hiểu là sự có
mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí,
làm cho không khí không sạch hoặc gây ra sự toả mùi, có mùi khó chịu, giảm
tầm nhìn xa (do bụi).
ô nhiễm môi trờng không khí đợc xác định bằng sự biến đổi môi trờng

theo hớng không tiện nghi, bất lợi đối với cuộc sống của con ngời, của động

- Các cơ sở công nghiệp đốt nhiên liệu (than, dầu, khí) nguồn thải
cố định.
- Các quá trình sản xuất công nghiệp, đặc biệt là quá trình sản xuất
hoá chất, sản xuất vật liệu, luyện kim và khai thác mỏ.
- Các nguồn ô nhiễm khác: sinh hoạt của nông dân (đun bếp, đốt chất
thải), sản xuất nông nghiệp, bốc hơi từ ô nhiễm nớc mặt, xây dựng
công trình, cháy rừng.
Trong các nguồn trên, nguồn ô nhiễm nhân tạo lớn nhất là do quá trình đốt
nhiên liệu (than, dầu khí) gây ra.
Môi trờng không khí từ lâu đã bị ô nhiễm và ngày càng trầm trọng. Hiện
nay, chi phí mà các nớc bỏ ra cho việc phục hồi môi trờng nhằm đảm bảo phát
triển bền vững là rất lớn, ví dụ: Lào hàng năm phải chi khoảng 7,43% tổng thu
nhập quốc dân cho bảo vệ môi trờng, Campuchia là 5,5%, Trung Quốc là
4,7% và Việt Nam là 7,2%. ô nhiễm môi trờng nói chung và ô nhiễm môi trờng không khí nói riêng không chỉ là vấn đề riêng của một quốc gia nào mà
nó đã trở thành vấn đề toàn cầu vì chúng ta chỉ có một quả đất (Lời kêu gọi
toàn thế giới do hội nghị môi trờng toàn nhân loại năm 1972 đa ra). Vì vây
cần phải có sự hợp tác chặt chẽ, giúp đỡ giữa các quốc gia trên thế giới. Là
một quốc gia đang trên đờng phát triển, khi ô nhiễm môi trờng không khí
ngày càng trầm trọng thì vấn đề này đợc đặt ra đối với Việt Nam phải càng đợc đề cao hơn bao giờ hết.

Nguyễn Thị Thu Huyền - K46A

4


Khoá luận tốt nghiệp

Pháp luật về bảo vệ môi trờng không khí

1.1.2. ảnh hởng của ô nhiễm môi trờng không khí đối với đời sống

5


Khoá luận tốt nghiệp

Pháp luật về bảo vệ môi trờng không khí

thành phố thung lũng Manse (Bỉ) vào năm 1930, và tơng tự ở thung lũng dọc
theo sông Monongahela vào năm 1948. Trong các vụ thảm hoạ ô nhiễm môi
trờng này hàng trăm ngời đã chết. Hiện tợng nghịch đảo nhiệt đã làm tăng
nồng độ hơi khói gây ngạt ở London năm 1952, nồng độ bụi trong không khí
cao nhất đạt đến 4,46mg/m3, tức cao gấp 10 lần so với bình thờng, làm chết và
bị thơng 4000- 5000 ngời. Thảm hoạ lớn nhất trong lịch sử loài ngời do ô
nhiễm môi trờng không khí gây ra đó là vụ rò khí MIC (khí methyl- isocyanate) của Liên hiệp sản xuất phân bón ở Bhopal (ấn Độ) vào năm 1984
làm khoảng 2 triệu ngời ở Bhopal đã bị nhiễm độc3.
Chất lợng môi trờng không khí của các nớc trên Thế giới đã ngày càng bị
suy giảm, đặc biệt tại các thành phố lớn, chất lợng không khí đã trở lên tồi tệ.
Ví dụ: Vào tháng 3 năm 1992, nhân dân thành phố Mêhicô, thủ đô của
Mêhicô đã trải qua những ngày rất khó khăn, vì 2,5 triệu chiếc xe hơi và
khoảng 30 nghìn xí nghiệp công nghiệp của thành phố hoạt động đã thải vào
không khí mỗi năm khoảng 4,3 triệu tấn chất thải, đã làm cho nồng độ các khí
ô nhiễm trong không khí gấp 3 lần tiêu chuẩn cho phép. Thành phố đã phải áp
dụng biện pháp khẩn cấp là các trờng học phổ thông phải tạm thời đóng cửa,
giảm bớt giờ sinh hoạt và làm việc ngoài trời của ngời lớn; tạm ngừng hoạt
động của 1 triệu xe ôtô, hàng chục nhà máy, xí nghiệp công nghiệp phải tạm
ngừng hoặc giảm kế hoạch sản xuất.
Những ngày đầu tháng 4 - 2005, nhân dân ở Bắc kinh đã phải trải qua một
đợt nghịch đảo nhiệt, mật độ hạt bụi lơ lửng gần mặt đất đang ở mức nguy
hiểm từ 400 500 microgam trong mỗi mét khối khí. Cục bảo vệ môi trờng
Bắc Kinh đã khuyến cáo nhân dân Bắc Kinh nên ở trong nhà vì bầu trời thành

khoảng 0,6oC và khoảng 1,5oC- 4,5oC trong 50 năm tới (Theo dự đoán của UB
TG về MT và phát triển LHQ trong báo cáo nhan đề Tơng lai của chúng ta
năm1986).
Không khí nóng lên dẫn đến thay đổi bất thờng của khí hậu. Biểu hiện tiêu
biểu của những biến đổi này là sự xuất hiện của hiện tợng El Nino cùng với nó
là hiện tợng La Nina và gần đây khối băng lớn nhất Nam Cực đã bị phá vỡ,
đợt nắng nóng kéo dài ở ấn Độ làm hơn 70 ngời chết. Việc Mỹ - nớc phát thải
lợng khí lớn nhất rút khỏi Nghị định th Kyoto về thay đổi khí hậu toàn cầu
làm cho sự hợp tác bảo vệ khí hậu toàn cầu gặp nhiều khó khăn.
ô nhiễm không khí cũng là một trong những nguyên nhân gây suy giảm
và thủng tầng ôzôn. Trong những năm 80, mật độ trung bình tầng ôzôn bị suy
giảm mất 5% trên vùng nam cực và 4% trên toàn thế giới. Sự tồn tại của tầng
ôzôn có ý nghĩa quan trọng đối với Trái đất trên nhiều phơng diện: nó ngăn
không cho tia cực tím trong vũ trụ xâm nhập vào trái đất, gây những tác hại
cho con ngời và các hệ sinh thái; nó đóng vai trò của lớp vỏ trái đất, ngăn cho
bầu khí quyển bao quanh trái đất không nóng lên bởi năng lợng mặt trời. Vì
vậy sự suy giảm hay những lỗ thủng của tầng ôzôn sẽ tạo ra những biến đổi
xấu của khí hậu trên Trái đất, nh: sự suy giảm tầng ôzôn sẽ làm tăng lợng bức
Nguyễn Thị Thu Huyền - K46A

7


Khoá luận tốt nghiệp

Pháp luật về bảo vệ môi trờng không khí

xạ tử ngoại UV- B đến mặt đất và làm tăng các phản ứng hoá học dẫn tới ô
nhiễm khí quyển; khói mù và ma axit sẽ tăng lên do các chất tạo thành ma axit
tăng lên cùng với sự phát triển của hoạt động của tia UV- B.

Khoá luận tốt nghiệp

Pháp luật về bảo vệ môi trờng không khí

nguồn thải gây ô nhiễm môi trờng không khí càng nhiều, áp lực làm biến đổi
chất lợng không khí theo chiều hớng xấu càng lớn, yêu cầu quản lý chất lợng
môi trờng không khí càng cao.
Ô nhiễm môi trờng không khí ở Việt Nam bao gồm các loại sau xét
theo các tác nhân gây ô nhiễm:
- Ô nhiễm bụi:
ở hầu hết các đô thị nớc ta đều bị ô nhiễm bụi, nhiều nơi bị ô nhiễm bụi
trầm trọng, tới mức báo động. Các khu dân c ở cạnh đờng giao thông lớn và ở
gần các nhà máy, xí nghiệp cũng bị ô nhiễm bụi rất lớn. Nồng độ bụi trong
các khu dân c ở xa đờng giao thông, xa các cơ sở sản xuất hay trong các khu
công viên cũng đạt tới xấp xỉ trị số tiêu chuẩn cho phép (TCCP).
Nồng độ bụi trong không khí ở các thành phố lớn nh Hà Nội, thành phố
Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng trung bình lớn hơn trị số TCCP từ 2-3 lần,
ở các nút giao thông thuộc các đô thị này nồng độ bụi lớn hơn TCCP từ 2-5
lần, ở các khu đô thị mới đang diễn ra quá trình thi công xây dựng nhà cửa, đờng sá và hạ tầng kỹ thuật thì nồng độ bụi thờng vợt TCCP từ 10-20 lần.

Bảng 1: Diễn biến nồng độ bụi lơ lửng (mg/m3) trung bình năm trong
không khí tại các KCN từ năm 1995 đến 2002

Nguyễn Thị Thu Huyền - K46A

9


Khoá luận tốt nghiệp


Pháp luật về bảo vệ môi trờng không khí

đô thị ven biển có cảng cá và chế biến hải sản, ô nhiễm mùi hôi hoá chất ở gần
các xí nghiệp chế biến mủ cao su, nhà máy phân hoá học. Tuy nhiên, cho đến
nay, Việt Nam vẫn cha có tiêu chuẩn giới hạn tối đa cho phép về ô nhiễm mùi,
các nghiên cứu về xử lý, khống chế ô nhiễm mùi cũng cha nhiều.
- Ô nhiễm tiếng ồn đô thị:
Cùng với sự phát triển đô thị là sự tăng trởng giao thông vận tải trong đô
thị - đó là tác nhân chủ yếu gây ô nhiễm tiếng ồn đô thị. Phần lớn các đô thị nớc ta có mức ồn ban đêm đều dới hoặc xấp xỉ 70dBA, tức là thoả mãn TCCP,
nhng vào các giờ ban ngày thì mức ồn giao thông ở nhiều đô thị biến thiên từ
70-75dBA, một số đờng phố lớn có mức ồn từ 80-85dBA.
Ngoài ra, cũng cần phải kể đến hiện trạng ô nhiễm môi trờng lao động
trong công nghiệp ở Việt Nam hiện nay:
Theo số liệu điều tra nhiều năm của Viện bảo hộ lao động (Tổng công
đoàn) và Viện Y tế lao động và vệ sinh môi trờng (Bộ Y tế) thì nồng độ bụi và
khí độc hại trong rất nhiều nhà máy đều vợt TCCP nhiều lần, đặc biệt là trong
các nhà máy sàng tuyển quặng, công nghiệp vật liệu xây dựng (xi măng lò
đứng), công nghiệp luyện kim.
Ô nhiễm ở các vùng mỏ rất nghiêm trọng, đặc biệt là ô nhiễm bụi. Nồng
độ bụi ở khu khai thác than và sản xuất vật liệu xây dựng thờng dao động từ
20 đến 200mg/m3. Nồng độ bụi trên các tuyến giao thông đờng bộ rất lớn, khi
đờng đợc tới nớc cũng gấp hàng chục lần, khi không đợc tới nớc gấp hàng
trăm lần trị số TCCP. Khi nổ mìn, môi trờng không khí vùng mỏ còn bị ô
nhiễm khí CO2, NO2 và CO.
Trên đây là những số liệu nói lên hiện trạng ô nhiễm môi trờng không khí
ở nớc ta hiện nay. Qua đó nhận thấy chất lợng môi trờng không khí ở nớc ta,
đặc biệt là tại các đô thị, khu công nghiệp có sự biến đổi hàng năm, theo chiều
hớng bất lợi vì chất thải ô nhiễm từ sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải,
hoạt động xây dựng và sinh hoạt đô thị ngày càng tăng về số lợng, chủng loại
và tính độc hại. Trong những loại ô nhiễm không khí trên tại Việt Nam thì sự

nhiễm không khí đã, đang và sẽ gây ra những tác hại khôn lờng cho con ngời.
Yêu cầu đặt ra với bất kể quốc gia giàu hay nghèo đều phải phát triển kinh tế
hài hoà với hệ thống môi sinh và tài nguyên thiên nhiên, bởi lẽ bảo vệ môi trờng là một trong những mục tiêu cực kỳ quan trọng tạo nên cuộc sống bền
vững cho mọi ngời. Của cải quý nhất mà xã hội hiện tại để lại cho con cháu
không chỉ là những thứ đợc làm ra mà còn chính là những gì mà xã hội giữ gìn
từ sự cân bằng tốt nhất của môi trờng thiên nhiên, trong đó có yêu cầu đảm
bảo môi trờng không khí đợc trong lành. Vì vậy yêu cầu bảo vệ môi trờng
Nguyễn Thị Thu Huyền - K46A

12


Khoá luận tốt nghiệp

Pháp luật về bảo vệ môi trờng không khí

không khí là thật sự cần thiết và cấp bách. Một trong những hình thức bảo vệ
môi trờng không khí là thông qua pháp luật.
Sở dĩ pháp luật có thể đảm đơng đợc nhiệm vụ này là do pháp luật có tính
đặc thù riêng của nó. Tính đặc thù của pháp luật có ý nghĩa rất to lớn trong
việc điều chỉnh các hành vi tác động tới môi trờng: pháp luật bao gồm một hệ
thống các quy phạm pháp luật là những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc
chung nhằm điều chỉnh hành vi con ngời khi tác động vào môi trờng không
khí và nó đợc bảo đảm thực hiện bằng biện pháp cỡng chế của Nhà nớc, chính
tính cỡng chế là một thế mạnh đặc biệt của pháp luật để bảo đảm cho các quy
định của pháp luật đợc thực thi trong thực tế đời sống. Do đó, bảo vệ môi trờng không khí bằng pháp luật ở Việt Nam hiện nay là sự cần thiết tất yếu.
Sự cần thiết phải bảo vệ môi trờng không khí bằng pháp luật còn có thể đợc lý giải bởi các lý do khách quan sau:
- Trớc hết là do nhu cầu của cộng đồng đợc sống trong môi trờng trong
lành: không khí là nguồn cung cấp oxi cần thiết cho hoạt động bình thờng của
các sinh vật trên trái đất (con ngời), vì vậy việc bảo vệ không khí trong lành là

khách quan của đời sống xã hội. Bảo vệ môi trờng không khí có thể đợc thực
hiện dựa trên sự kết hợp của nhiều biện pháp khác nhau, song không thể thiếu
công cụ pháp luật. Đây là công cụ bảo đảm tính thống nhất, là cơ sở, nền tảng
cho mọi hoạt động khác để bảo vệ môi trờng không khí.
1.3. Khái niệm pháp luật về bảo vệ môi trờng
không khí ở Việt nam
1.3.1. Khái niệm
Luật môi trờng là một lĩnh vực pháp luật tơng đối mới không chỉ đối với
hệ thống pháp luật Việt Nam mà còn cả đối với hệ thống pháp luật của nhiều
nớc đang phát triển khác. Điều đó đợc lý giải bởi nhiều lý do khác nhau, nhng
lý do phổ biến đợc đa ra đối với các nớc đang phát triển là sự phát triển bằng
mọi giá, kể cả sự hy sinh các nguồn tài nguyên và bất chấp sự suy thoái về
môi trờng sống.
Mặc dù ra đời muộn hơn so với các ngành luật khác nhng lại có sự phát
triển rất nhanh do nhu cầu bảo vệ môi trờng đợc đặt ra cấp bách. Đến nay,
không chỉ Việt Nam mà hầu hết các nớc đều đã và đang xây dựng đợc một hệ
thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trờng theo hớng ngày càng hoàn chỉnh
và đầy đủ, trong đó có các quy định về bảo vệ môi trờng không khí.
Là một bộ phận của pháp luật bảo vệ môi trờng nói chung nên ta có thể
dựa vào khái niệm pháp luật bảo vệ môi trờng không khí dể suy ra định nghĩa
pháp luật về bảo vệ môi trờng không khí nh sau: Pháp luật về bảo vệ môi trNguyễn Thị Thu Huyền - K46A

14


Khoá luận tốt nghiệp

Pháp luật về bảo vệ môi trờng không khí

ờng không khí là tổng hợp các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý

15


Khoá luận tốt nghiệp

Pháp luật về bảo vệ môi trờng không khí

1.4.2.1. Pháp luật quy định các quy tắc xử sự mà con ngời phải thực
hiện khi tác động vào môi trờng không khí
Tại nguyên tắc 1 - Tuyên bố Stockholm 1972 về môi trờng và con ngời đã
khẳng định: Con ngời có quyền tự do, bình đẳng, quyền có cuộc sống chất lợng và phải có trách nhiệm bảo vệ môi trờng vì thế hệ mai sau . Nh vậy,
tuyên bố đã khẳng định con ngời phải đợc đảm bảo và luôn có quyền đợc sống
trong một môi trờng trong lành, nhng cũng chính con ngời bằng hành vi của
mình đã, đang phá huỷ nó, dần tớc đi quyền đó của chính mình. Để bảo đảm
đợc quyền đó của mình, mỗi cá nhân, tổ chức phải biết bảo vệ môi trờng sống
bằng chính hành động của mình bằng cách phải tuân theo những quy tắc xử sự
mà pháp luật đã đề ra.
Pháp luật bao gồm một hệ thống các quy phạm pháp luật - là các quy tắc
xử sự mang tính chất bắt buộc chung. Những quy phạm này là những chuẩn
mực về cách xử sự, xác định rõ các chủ thể (cá nhân, tổ chức) đợc làm gì, phải
làm gì và không đợc làm gì trong các điều kiện hoàn cảnh cụ thể. Tính chuẩn
mực đó là bắt buộc chung đối với mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội khi ở vào
những hoàn cảnh nhất định chứ không phải chỉ áp dụng đối với một nhóm,
một đối tợng nào đó.
Trong bảo vệ môi trờng không khí, pháp luật quy định các quyền và nghĩa
vụ của các chủ thể, xác định rõ nghĩa vụ bảo vệ môi trờng không khí của các
tổ chức, cá nhân, đồng thời bắt buộc các chủ thể này phải thực hiện theo đúng
quy định của pháp luật mà không thể làm khác đợc. Chính tính quy tắc và bắt
buộc chung này đã tạo cơ sở pháp lý để bảo đảm cho các chủ thể thực hiện
hành vi bảo vệ môi trờng không khí đợc thống nhất và đặc biệt là họ biết đợc

thành viên trong xã hội có tác dụng rất lớn trong việc định hớng quá trình sử
dụng hoặc tác động vào môi trờng không khí. Con ngời buộc phải sử dụng
môi trờng không khí tuân thủ theo đúng những tiêu chuẩn nhất định do pháp
luật quy định thì sẽ hạn chế những tác hại, ngăn chặn đợc suy thoái môi trờng
không khí.
1.4.2.2. Pháp luật quy định các chế tài để buộc con ngời phải thực hiện
đầy đủ các đòi hỏi của pháp luật khi tác động vào môi trờng không khí
Các chế tài mà pháp luật bảo vệ môi trờng không khí quy định áp dụng
cho các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật bảo vệ môi trờng không khí gồm:
chế tài hình sự, kinh tế, hành chính. Các chủ thể sẽ phải gánh chịu những chế
tài này khi họ không tuân theo các quy tắc xử sự mà pháp luật đã quy định,
tức là khi họ đã không làm những gì mà pháp luật buộc phải làm hoặc đã làm
những gì mà pháp luật không cho phép làm.
Nguyễn Thị Thu Huyền - K46A

17


Khoá luận tốt nghiệp

Pháp luật về bảo vệ môi trờng không khí

Ví dụ: Khi pháp luật bảo vệ môi trờng không khí quy định hệ thống tiêu
chuẩn môi trờng không khí, tức là đã đa ra những thông số tối thiểu hoặc tối
đa họ đợc phép làm nh là: không đợc thải khí quá trị số cho phép, để làm đợc
vậy buộc họ phải đầu t trang thiết bị để xử lý khí thải. Nhng vì lợi ích kinh tế
trớc mắt mà chủ nguồn đã không bỏ một số vốn đầu t lớn cho trang thiết bị
công nghệ để xử lý khí thải và họ đã thải khí quá trị số cho phép. Khi đó chủ
nguồn thải đã vi phạm quy tắc xử sự do pháp luật quy định trớc và họ sẽ buộc
phải chịu chế tài pháp luật quy định cho từng trờng hợp cụ thể.


luật môi trờng quy định khi họ có hành vi tác động vào môi trờng không khí,
qua đó nhằm ngăn ngừa và hạn chế những tác động xấu đối với môi trờng nói
chung và môi trờng không khí nói riêng có thể đợc gây ra bởi con ngời. Vì vậy
ý thức tôn trọng pháp luật bảo vệ môi trờng của con ngời sẽ ngày càng đợc
nâng cao.
1.4.2.3. Pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ , quyền hạn của các
tổ chức bảo vệ môi trờng
Bên cạnh việc quy định các quy tắc xử sự, các quyền và nghĩa vụ cho các
tổ chức, cá nhân trong xã hội khi họ tác động vào môi trờng không khí, pháp
luật về bảo vệ môi trờng không khí còn thể hiện vai trò to lớn của mình trong
việc tạo ra cơ chế hoạt động hiệu quả của các tổ chức bảo vệ môi trờng; bởi lẽ,
bảo vệ môi trờng là một công việc rất khó khăn và phức tạp, là hoạt động
mang tính chất toàn dân, của cả cộng đồng chứ không phải của riêng một cá
nhân hay tổ chức nào, nó đòi hỏi phải đợc tiến hành tại nhiều cấp độ với nhiều
biện pháp khác nhau và để đáp ứng đợc yêu cầu đó, đòi hỏi cần phải đợc tổ
chức một cách chặt chẽ và khoa học thông qua một hệ thống cơ quan quản lý
nhà nớc về môi trờng.
Thông qua pháp luật, Nhà nớc đã xây dựng đợc một hệ thống cơ quan
quản lý nhà nớc về bảo vệ môi trờng đợc tổ chức chặt chẽ từ Trung ơng đến
địa phơng, trong đó có cơ quan bảo vệ môi trờng không khí; cùng với nó là
việc quy định một cách đầy đủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ
quan, mỗi cấp; ví dụ nh: xây dựng và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật
vê bảo vệ môi trờng không khí, tổ chức đánh giá tác động môi trờng các dự án
có ảnh hởng đến môi trờng không khí, đánh giá hiện trạng môi trờng không
khí, ban hành tiêu chuẩn môi trờng không khí.
Trong phạm vi từng quốc gia, bảo vệ môi trờng nói chung và bảo vệ môi
trờng không khí nói riêng sẽ nảy sinh nhiều vấn đề cần đợc giải quyết, nếu
không có một tổ chức nh Nhà nớc với các quy định về quyền hạn cụ thể, sẽ
không thểgiải quyết đợc các vần đề đó. Điều đó đợc thể hiện nh sau:

ảnh hởng đến các thành phần môi trờng khác nữa. Thông qua pháp luật, Nhà
nớc đã quy định một cách chặt chẽ cơ chế giải quyết tranh chấp, xung đột về
môi trờng không khí thông qua việc quy định thẩm quyền giải quyết tranh
chấp cho từng cơ quan quản lý nhà nớc về môi trờng không khí. Khi giải
quyết tranh chấp môi trờng đợc thoả đáng sẽ giải quyết đợc quyền lợi hợp
pháp cho từng bên, ngăn chăn kịp thời các hành vi vi phạm và có biện pháp
phục hồi môi trờng không khí, qua đó còn mang tính chất giáo dục cho các cá
nhân, tổ chức khác ý thức bảo vệ môi trờng không khí.
Nguyễn Thị Thu Huyền - K46A

20


Khoá luận tốt nghiệp

Pháp luật về bảo vệ môi trờng không khí

Tóm lại, việc quản lý nhà nớc về bảo vệ môi trờng không khí là yêu cầu
hết sức cần thiết và việc pháp luật quy định đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nớc chính là sự đáp ứng các yêu cầu.
1.4.2.4. Pháp luật tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi cho việc
thực hiện các quan hệ hợp tác quốc tế vè bảo vệ môi trờng không khí
Bảo vệ môi trờng ngày nay không còn là vấn đề của riêng mỗi quốc gia
mà nó đã trở thành vấn đề có tính quốc tế bởi chính tính toàn cầu của ô nhiễm
môi trờng. Ô nhiễm môi trờng xuyên biên giới bao gồm 5 vấn đề:
- Sự vận chuyển tầm xa của các khí bị ô nhiễm;
- Sự vận chuyển xuyên biên giới của các sản phẩm và chất thải nguy
hại;
- Sự suy giảm tầng ôzôn;
- Sự thay đổi khí hậu;

kế hoạch hành động khu vực về khói mù: Hiệp định Asean về ô nhiễm khói
mù xuyên biên giới có hiệu lực từ thàng 11 năm 2003, và ngày 11/11/2004, tại
Hà Nội đã diễn ra Hội nghị bộ trởng các nớc Asean về khói mù lần thứ
11(AMMH11)5.
Qua những phân tích trên ta thấy biện pháp pháp luật có vai trò vô cùng
quan trọng đối với hoạt động bảo vệ môi trờng. ở Việt nam, luật bảo vệ môi
trờng đợc ban hành ngày 27/12/1992, ngay sau hội nghị quốc tế về môi trờng
ở Rio de Janero tại Brazil năm 1992 đã thể hiện sự cam kết của Chính phủ
Việt Nam triển khai ngay chơng trình nghị sự 21 của Liên hợp quốc. Trên cơ
sở pháp lý đó, Nhà nớc ta đã ban hành một hệ thống văn bản pháp quy về bảo
vệ các yếu tố của môi trờng, trong đó có môi trờng không khí. Điều này đã thể
hiện nhận thức rõ và đầy đủ về vai trò và tầm quan trọng của pháp luật trong
bảo vệ môi trờng không khí ở Việt Nam.

Chơng II: Những nội dung chủ yếu của pháp
luật về bảo vệ môi trờng không khí
ở Việt nam
2.1. Pháp luật về thẩm quyền của các cơ quan quản
lý nhà nớc về bảo vệ môi trờng không khí
Nh đã nói tại chơng 1, quản lý nhà nớc về môi trờng không khí là một đòi
hỏi tất yếu khách quan bởi chỉ có sự thống nhất của một hệ thống các cơ quan
quản lý nhà nớc thì mới có thể giải quyết đợc những yêu cầu, đòi hỏi của công
tác bảo vệ môi trờng không khí. "Quản lý nhà nớc về môi trờng không khí là
5

Nguồn: , Hợp tác về khói mù giữa các nớc Asean.

Nguyễn Thị Thu Huyền - K46A

22

2.1.1. Về tiêu chuẩn môi trờng không khí
Theo tài liệu của ISO thì tiêu chuẩn môi trờng (TCMT) đợc hiểu là: tài
liệu đợc thiết lập bằng cách thoả thuận và thông qua bởi một tổ chức đợc thừa
nhận, trong đó đề ra những hành động hoặc những kết quả của chúng để sử
dụng chúng và lặp đi lặp lại nhiều lần, nhằm đạt đợc chất lợng môi trờng tối u
trong khung cảnh nhất định7.
ở Việt Nam, khái niệm TCMT đợc quy định chính thức tại Điều 2- Luật
bảo vệ môi trờng 1993: Tiêu chuẩn môi trờng là những chuẩn mực, giới hạn
cho phép, đợc dùng làm căn cứ để quản lý môi trờng.
Theo đó, TCMT là những chuẩn mực, giới hạn về các thành phần môi trờng. Những chuẩn mực, giới hạn cho phép đợc hiểu là mức độ, phạm vi gây ô
nhiễm có thể chấp nhận đợc mà cha gây nguy hại cho sức khoẻ con ngời và
các thành phần môi trờng, hoặc đã giới hạn an toàn để bảo vệ sức khoẻ cộng
đồng và bảo vệ môi trờng trong hiện tại cũng nh trong tơng lai. Mặt khác, khái
niệm TCMT cũng đã trả lời cho mục đích ban hành TCMT đó là tạo cơ sở
Đỗ Thị Duyên, Một số vấn đề về tiêu chuẩn môi trờng quốc tế ISO 14000 và thực tiễn áp dụng trong các
doanh nghiệp ở Việt Nam, Khoa luận tốt nghiệp, Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004, trang 23
7

Nguyễn Thị Thu Huyền - K46A

24


Khoá luận tốt nghiệp

Pháp luật về bảo vệ môi trờng không khí

quan trọng làm căn cứ để quản lý môi trờng. Trong bảo vệ môi trờng không
khí, vai trò, mục đích đó cũng không ngoại trừ.
Trên cơ sở các quy định tại Luật bảo vệ môi trờng 1993, Chính phủ ban


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status