Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học kinh tế quốc dân
-------------
-------------
NGUYễN HOàNG GIANG
CáC YếU Tố ảNH HƯởNG TớI HàNH VI LựA CHọN
CÔNG TY CHứNG KHOáN CủA NHà ĐầU TƯ Cá NHÂN
TRÊN THị TRƯờNG CHứNG KHOáN VIệT NAM
CHUYÊN NGàNH: QUảN TRị KINH DOANH (MARKETING)
Mã Số: 62.34.01.02
Ngi hng dn khoa hc:1. GS.TS. NGUYN VIT LM
2. PGS.TS. V TR DNG
Hà nội - 2016
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu sơ
cấp, số liệu thứ cấp nêu trong luận án là trung thực; các tài liệu tham khảo có nguồn
gốc trích dẫn rõ ràng; kết quả nghiên cứu trong luận án chưa từng được công bố.
Hà Nội, ngày
tháng
2.3.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến hành vi
lựa chọn các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng ..............................17
2.2.2 Các công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến hành vi lựa chọn
công ty chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân.....................................................42
2.2.3 Các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến hành vi lựa chọn các
tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng và liên quan đến nhà đầu tư cá
nhân ....................................................................................................................43
iii
2.3 Bối cảnh nghiên cứu hành vi lựa chọn công ty chứng khoán của nhà đầu
tư cá nhân – Thực trạng phát triển lĩnh vực kinh doanh chứng khoán tại Việt
Nam .......................................................................................................................45
2.3.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam......................................45
2.3.2 Tổng quan về công ty chứng khoán Việt Nam và nhà đầu tư cá nhân......47
2.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất, các thuật ngữ và câu hỏi nghiên cứu .........58
2.4.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất ......................................................................58
2.4.2 Các thuật ngữ liên quan .............................................................................59
2.4.3 Câu hỏi nghiên cứu....................................................................................66
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................................68
3.1 Quy trình nghiên cứu ....................................................................................68
3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu ......................................................................70
3.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp.......................................................70
3.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp ........................................................70
3.3 Kỹ thuật phân tích dữ liệu ............................................................................85
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..............................................................89
4.1Thống kê mô tả mẫu .......................................................................................89
4.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu .............................................................90
4.1.2 Thực tế sử dụng dịch vụ công ty chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân Việt
5.4 Gợi ý cho nghiên cứu tiếp theo ...................................................................143
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐCỦA TÁC GIẢ ....................144
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................145
v
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Thống kê các công trình nghiên cứu liên quan đến hành vi lựa chọn tổ
chức cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng phân theo yếu tố ảnh hưởng.................32
Bảng 2.2: Số lượng các công ty chứng khoán giai đoạn 2000 – 2015 ......................48
Bảng 2.3: Số lượng tài khoản giao dịch chứng khoán qua các năm .........................53
Bảng 2.4: Vốn điều lệ và nghiệp vụ hoạt động của công ty chứng khoán................54
Bảng 2.5: Thị phần các công ty chứng khoán năm 2012-2015.................................56
Bảng 3.1: Thang đo Diện mạo công ty .....................................................................76
Bảng 3.2: Thang đo Thuận tiện về vị trí ...................................................................77
Bảng 3.3: Thang đo Danh tiếng công ty ...................................................................78
Bảng 3.4: Thang đo Chi phí ......................................................................................79
Bảng 3.5: Thang đo Nhân viên .................................................................................79
Bảng 3.6: Thang đo Ảnh hưởng của người thân .......................................................80
Bảng 3.7: Thang đo Chất lượng dịch vụ ...................................................................81
Bảng 3.8: Thang đo Chủng loại dịch vụ ...................................................................82
Bảng 3.9: Nguyên tắc nhận dạng Hệ số tải (Hair và cộng sự, 2006) [53] ................87
Bảng 4.1: Kết quả thu thập Phiếu khảo sát ...............................................................90
Bảng 4.2: Thống kê mô tảtheo trình độ học vấn của mẫu nghiên cứu......................92
Bảng 4.3: Thời gian đầu tư của nhà đầu tư ...............................................................94
Bảng 4.4: Tần suất giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư.......................................96
Bảng 4.5: Phân tích KMO & Barlett’s lần đầu .........................................................97
Bảng 4.6: Kết quả phân tích Nhân tố khám phá EFA lần đầu ................................100
phân tích định lượng và phân tích định tính với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS20.0 và
các kỹ thuật phân tích thống kê. Kết quả phân tích thực nghiệm cho thấy:
- Có 8 yếu tố (bao gồm 32 biến quan sát) ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn
công ty chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Trong đó có một số yếu tố được nhà đầu tư đánh giá quan trọng hơn và một số yếu
tố được đánh giá ít quan trọng hơn.
- Đối với mỗi nhóm nhân khẩu học khác nhau thì có đánh giá về tầm quan
trọng của các biến quan sát, các yếu tố ảnh hưởng là khác nhau.
- Nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam có một số đặc
điểm: trẻ tuổi, học vấn cao, công việc và thu nhập ổn định, có kinh nghiệm đầu tư,
giao dịch thường xuyên, mở tài khoản ở nhiều công ty chứng khoán nhưng lại giao
dịch ở 1 công ty chứng khoán…
Từ kết quả phân tích kết quả khảo sát điều tra thực tế, luận án đã phỏng vấn
sâu một số lãnh đạo các công ty chứng khoán để củng cố kết quả nghiên cứu định
lượng và đưa ra những nguyên nhân của các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi lựa
chọn công ty chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt
Nam. Trên cơ sở đó, luận án đã đưa ra các nhóm giải pháp dựa trên quan điểm
marketing nhằm giúp công ty chứng khoán thuhút và giữ chân nhà đầu tư cá nhân vì
lợi ích của tất cả các bên liên quan.
Luận án bao gồm 151 trang, ngoài lời cam đoan, mục lục, danh mục bảng
biểu, danh mục hình vẽ, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục. Luận án được
kết cấu thành 05 (năm) chương: Chương 1: Mở đầu; Chương 2: Cơ sở lý luận và
2
thực tiễn liên quan đến nghiên cứu hành vi lựa chọn công ty chứng khoán của các
nhà đầu tư chứng khoán; Chương 3: Phương pháp nghiên cứu; Chương 4: Kết quả
nghiên cứu; Chương 5: Kết luận và kiến nghị
trong việc chăm sóc khách hàng bởi vì khách hàng trở nên thông minh hơn, họ hiểu
rõ về giá cả hơn trước, họ yêu sách đòi hỏi nhiều hơn trong khi ít chịu cảm thông với
phía cung cấp sản phẩm dịch vụ và quan trọng khách hàng có cơ hội tiếp cận với
nhiều nhà cung cấp tương tương hoặc thậm chị là tốt hơn [74]. Vì vậy, các tổ chức
kinh doanh buộc phải đối diện với sự cạnh tranh hướng tới sự thỏa mãn tối đa của
khách hàng nhằm duy trì khách hàng hiện tại và thu hút thêm khách hàng tiềm năng.
Công ty chứng khoán cũng không phải ngoại lệ: Để tồn tại trong môi trường
cạnh tranh khốc liệt và đạt các mục tiêu trong kinh doanh, công ty chứng khoán
phải tìm cách thu hút khách hàng mới đến mở tài khoản và sử dụng dịch vụ của
mình, phải tìm cách chăm sóc, duy trì và giữ chân khách hàng hiện tại. Nói cách
khác, công ty chứng khoán phải hiểu rõ hành vi của khách hàng hiện tại và khách
hàng tiềm năng. Nhà quản trị của công ty chứng khoán phải hiểu rõ khách hàng của
mình là ai, họ nghĩ cái gì, họ cảm thấy thế nào và tại sao họ lại chọn công ty chứng
khoán này để sử dụng dịch vụ mà không lựa chọn công ty chứng khoán khác.
Thực tế giai đoạn thăng trầm của thị trường chứng khoán Việt Nam vừa qua
đã chứng minh tầm quan trọng của khách hàng đối với các công ty chứng khoán:
khi thị trường chứng khoán suy giảm, hoạt động đầu tư trở thành gánh nặng của
công ty thì chính những hoạt động căn bản và khách hàng là yếu tố giữ công ty
chứng khoán tồn tại qua khó khăn để chờ cơ hội phát triển.
Vai trò quan trọng sống còn của khách hàng đối với công ty chứng khoán là
không thể phủ nhận. Đặc biệt từ cuối năm 2011, theo Thông tư số 74/2011/TT-BTC
ngày 01/06/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn về giao dịch chứng khoán: Nhà đầu
tư được phép mở nhiều tài khoản, sử dụng đồng thời nhiều dịch vụ của các công ty
chứng khoán khác nhau. Đây là điều thuận lợi cho nhà đầu tư nhưng lại là một áp
lực cho công ty chứng khoán. Đặc biệt, với quy mô thị trường chứng khoán tương
đối nhỏ so với khu vực và thế giới nhưng tồn tại đến hơn một trăm công ty chứng
khoán thì sự cạnh tranh giữa các công ty chứng khoán càng trở nên khốc liệt hơn.
4
5
Khách thể nghiên cứu: Nhà đầu tư chứng khoán cá nhân hiện đang sử dụng
các dịch vụ của các công ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn ở hành vi lựa chọn công ty chứng khoán của
các nhà đầu tư cá nhân Việt Nam trên thị trường chứng khoán Việt Nam, bao gồm hai
Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh - HSX và Sở Giao dịch chứng khoán Hà
Nội - HNX. Luận án không nghiên cứu các hành vi khác của nhà đầu tư như hành vi
chuyển đổi công ty chứng khoán, hành vi mua lặp lại của khách hàng, sự hài lòng của
khách hàng đối với công ty chứng khoán… Luận án không nghiên cứu hành vilựa
chọn của nhà đầu tư tổ chức và nhà đầu tư cá nhân nước ngoài. Luận án cũng không
nghiên cứu các hành vi lựa chọn công ty chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân trong
quá trình đầu tư trên thị trường OTC và/hoặc sàn giao dịch UPCom.
Không gian nghiên cứu: Các công ty chứng khoán hiện đang hoạt động
trong lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thời gian nghiên cứu: Toàn bộ nghiên cứu bao gồm cả nghiên cứu lý
thuyết, phân tích bối cảnh nghiên cứu… được thực hiện trong giai đoạn 2007 –
2014. Riêng đối với hoạt động điều tra xã hội học và phỏng vấn chuyên sâu đối với
nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam được thực hiện bắt đầu từ
tháng 8/2014 nhằm đảm bảo tính thời sự của kết quả nghiên cứu.
1.5Khái quát về phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập dữ liệu
Thu thập dữ liệu thứ cấp
Luận án tổng hợp và phân tích thông tin dữ liệu thứ cấp từ các nguồn tài liệu,
các bài báo, các bài nghiên cứu có sẵn trong nước và quốc tế liên quan đến nội dung
nghiên cứu. Mục đích là để hình thành khung lý thuyết, hình thành mô hình nghiên
cứu, các câu hỏi nghiên cứu, các thang đo và phiếu khảo sát ý kiến nhà đầu tư.
Xây dựng và kiểm định mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn
công ty chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Mô hình được xây dựng gồm có các nhân tố: Diện mạo công ty, Thuận tiện về vị trí,
Danh tiếng công ty, Chi phí, Nhân viên, Ảnh hưởng của người thân, Chất lượng
7
dịch vụ và Chủng loại dịch vụ.
Luận án đã xây dựng được hệ thống thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến
hành vi lựa chọn công ty chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân phù hợp với bối cảnh
thị trường chứng khoán Việt Nam. Hệ thống thang đo của luận án bao gồm 32 thang
đo, trong đó có 05 thang đo do tác giả tự xây dựng căn cứ trên thực tế tình hình của
thị trường chứng khoán Việt Nam và 27 thang đo tham khảo các nghiên cứu của các
học giả nước ngoài, được dịch sang tiếng Việt, giữ nguyên nội dung nhưng có điều
chỉnh từ ngữ nhằm phù hợp với ngữ cảnh và thực tê nghiên cứu của luận án.
Những đóng góp mới về thực tế
Luận án đã tiến hành khảo sát trực tiếp nhà đầu tư cá nhân, kiểm định thông
qua các kỹ thuật phân tích thống kê và sắp xếp các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi
lựa chọn công ty chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán
Việt Nam. Kết quả cho thấy có 08 nhân tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn công ty
chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân, thứ tự quan trọng sắp xếp từ cao xuống thấp:
Chất lượng dịch vụ; Nhân viên;Danh tiếng công ty; Chủng loại dịch vụ ; Chi phí;
Thuận tiện về vị trí ; Diện mạo công ty và Ảnh hưởng từ người thân.
Thông qua việc khảo sát trực tiếp khách hàng và các kỹ thuật phân tích thống
kê số liệu, kết quả đã cho thấy một số đặc điểm của nhà đầu tư cá nhân Việt Nam
như : Đại đa số nhà đầu tư cá nhân Việt Nam là trẻ tuổi ; Đa phần đều có trình độ từ
đại học trở lên ; Phần đông nhà đầu tư cá nhân là những người có công việc ổn định,
đầu tư chứng khoán chỉ là một trong những kênh đầu tư ; Phần nhiều trong số họ có
thu nhập từ 10-30 triệu đồng. Bên cạnh đó, kết quả còn chỉ ra thực trạng đầu tư chứng
tách rời của khoa học marketing. Kotler và Keller (2011) cho rằng hành vi mua
hàng của người tiêu dùng là nghiên cứu về cách mua và xử lý hàng hóa, dịch vụ, ý
tưởng hoặc kinh nghiệm của các cá nhân, nhóm và các tổ chức để đáp ứng nhu cầu
và mong muốn của họ [74]. Một trong những mô hình điển hình về hành vi mua của
người tiêu dùng đó là mô hình Engel-Kollat-Blackwell (Engel và cộng sự, 1978)
[40], trong mô hình nghiên cứu của mình, các tác giả mô tả quá trình ra quyết định
bao gồm 5 giai đoạn: (1) Nhận biết vấn đề; (2) Tìm kiếm thông tin; (3) Đánh giá các
phương án thay thế; (4) quyết định mua; (5) hành vi sau khi mua.
Salomon và cộng sự (1995) [122] mô tả hành vi mua của khách hàng là một
quá trình lựa chọn, mua, sử dụng và xử lý các sản phẩm dịch vụ của cá nhân hoặc
một nhóm nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của họ. Schiffman và Kanuk
(2000) [118] đưa ra kết luận tương tự khi cho rằng hành vi mua của khách hàng là
hành vi mà khách hàng thể hiện khi sử dụng tài nguyên sẵn có mình để lựa chọn và
mua các sản phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu và mong muốn của họ. Blench &
Blench (1998) chính thức định nghĩa hành vi mua của khách hàng: “là quá trình và
hoạt động của con người trong khi tim kiếm, lựa chọn, mua, sử dụng, đánh giá và
xử lý hàng hóa, dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của họ” [23].
Stallworth (2008) [123] xác định hành vi mua của khách hàng là một tập hợp
các hoạt động có liên quan đến việc mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ được hình
thành từ nhu cầu tinh thần, tình cảm và phản ứng đáp lại của hành vi. Kết quả này
10
được phát triển từ nghiên cứu của Gabbot và Hogg (1998) [45] cho rằng hành vi
mua của khách hàng bao gồm các hoạt động khác nhau và chia thành các giai đoạn.
Mặc dù có sự khác nhau giữa các nghiên cứu khi đề cập đến hành vi mua của
khách hàng, song tất cả đều có quan điểm chung là hành vi mua của khách hàng
nhằm giải thích quá trình lựa chọn, mua và xử lý hàng hóa dịch vụ để thỏa mãn nhu
cầu và mong muốn của khách hàng. Lựa chọn của khách hàng là một hành động
khách hàng mang lại doanh thu, lợi nhuận, thị phần và thương hiệu cho doanh
11
nghiệp. Nhận thức được điều này, các tổ chức kinh doanh cần phải tập trung vào
sản phẩm dịch vụ của mình để tạo ra nhiều giá trị và gia tăng sự thỏa mãn của khách
hàng (Sayani & Miniaoui, 2013) [116].
2.1.2 Hành vi lựa chọn tổ chức cung cấp dịch vụcủa khách hàng trong lĩnh
vực tài chính ngân hàng
Các tổ chức cung cấpdịch vụ tài chính ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực
dịch vụ. Vì vậy hoạt động của các tổ chức này mang đầy đủ tính chất đặc thù của
dịch vụ, đó là: tính vô hình, tính không tách rời giữa cung cấp và tiêu dùng dịch vụ,
tính không đồng đều về chất lượng và tính không dự trữ được (Zeithaml và cộng sự,
1985) [139]. Các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng thông thường là các
định chế tài chính, các tổ chức kinh doanh dịch vụ như: Ngân hàng, công ty tài
chính, công ty cho thuê tài chính, công ty tín thác, công ty bảo hiểm, công ty chứng
khoán, công ty quản lý quỹ…
Các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng hoạt động trong môi
trường có sự gắn kết cao. Ở đó mối quan hệ tương hỗ giữa bên mua – bên bán và
việc thiết lập mối quan hệ lâu dài dựa trên niềm tin và sự đảm bảo, đóng vai trò
quan trọng trong việc giữ chân khách hàng hiện hữu và thu hút khách hàng tiềm
năng trong tương lai (McKechnie, 1992) [88].
Theo nghiên cứu của Aregbeyen (2011) [17], cơ sở lý luận về hành vi lựa chọn
của khách hàng trong lĩnh vực tài chính ngân hàng được mô tả dựa trên Lý thuyết lựa
chọn hợp lý và Lý thuyết cạnh tranh. Lý thuyết lựa chọn hợp lý đưa ra những lý giải về
hành vi lựa chọn của khách hàng cá nhân trong khi lý thuyết cạnh tranh giải thích việc
tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng thu hút và giữ chân khách hàng thông
qua việc chăm sóc nhu cầu khách hàng, cung cấp các sản phẩm dịch vụ phù hợp…Lý
chọn hợp lý, việc cá nhân so sánh giữa lợi ích và phí tổn của các hành động của
mình, với hành vi lựa chọn các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng của
khách hàng cá nhân. Khi khách hàng muốn sở hữu, sử dụng những sản phẩm dịch
vụ tốt nhất với phí tổn thấp nhất một cách dễ dàng nhất, họ sẽ có sự so sánh đánh
giá các đơn vị cung cấp để lựa chọn ra đơn vị cung cấp dịch vụ phù hợp nhất với họ.
13
Hiểu rõ về lựa chọn của khách hàng nói chung và các yếu tố ảnh hưởng đến
lựa chọn của khách hàng nói riêng là việc làm cần thiết và cũng là thử thách đối với
các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng.Đặc biệt trong môi trường cạnh
tranh ngày càng gay gắt hiện nay, cạnh tranh cùng với tình trạng bão hòa các tổ chức
cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng khiến các tổ chức này phải đối mặt với nhiều
thử thách và buộc phải hướng tới khách hàng nhiều hơn nữa, trong đó có việc tìm
hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn của khách hàng. Boyd và cộng sự (1994)
[25] nhận xét rằng khách hàng ngày càng trở nên yêu sách và tinh vi hơn vì vậy các
tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng cần phải xác định những yếu tố quyết
định đến quá trình lựa chọn của khách hàng cá nhân, từ đó có những biện pháp để giữ
chân khách hàng hiện hữu và thu hút khách hàng tiềm năng trong tương lai.
2.2 Công ty chứng khoán và Ngân hàng đầu tư
Công ty chứng khoán là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chứng khoán
thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các nghiệp vụ: Môi giới chứng khoán, tự doanh
chứng khoán (nghiệp vụ đầu tư), bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư
chứng khoán (Thông tư 210/2012/TT-BTC ngày 30/11/2012)
Ngoài ra, theo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Chứng khoánngày
24 tháng 11 năm 2010, ngoài các dịch vụ chủ yếu trên, công ty chứng khoán ở Việt
Nam còn được được nhận ủy thác quản lý tài khoản giao dịch chứng khoán của nhà
đầu tư cá nhân, cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính (tư vấn phát hành chứng khoán, tư
mại, Chính phủ Trung Quốc quy định trong tên của các định chế ngân hàng đầu tư
không được có từ “ngân hàng” (thay vào đó các định chế ngân hàng đầu tư ở Trung
Quốc được gọi là công ty chứng khoán). Ở một số nước như Mỹ, Nhật Bản, Hàn
Quốc, Singapore … ngân hàng đầu tư được gọi là ngân hàng đầu tư (investment
banking) nhằm phân địch rạch ròi giữa hoạt động của ngân hàng đầu tư và ngân
hàng thương mại. Các nước này còn được gọi là các nước nhóm Glass-Steagall (do
chịu ảnh hưởng của Đạo luật Glass-Steagall của Mỹ từ những năm khủng hoảng
kinh tế thập kỷ 30 của thế kỷ trước). Tuy nhiên, do đạo luật Glass-Steagall ra đời từ
rất lâu nên có rất nhiều vấn đề chưa phù hợp với tình hình phát triển của thị trường
chứng khoán hiện đại. Do vậy, trên thực tế các ngân hàng thương mại của Mỹ vẫn
thực hiện một số nghiệp vụ ngân hàng đầu tư mà đáng lẽ ra theo tinh thần của bộ
15
luật Glass-Steagall thì phải bị cấm (Nguyễn Vũ Hồng Chi; 2007) [7]. Trước thực tế
đó, cộng với cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ giai đoạn 2007-2009 (cuộc khủng
hoảng được đánh dấu với sự biến mất thông qua phá sản hoặc sáp nhập của 3 (ba)
trong 5 (năm) ngân hàng đầu tư lớn nhất của Mỹ: Bear Stearns, Lehman Brothers và
Merrill Lynch và sự chuyển đổi sang mô hình ngân hàng thương mại của hai ngân
hàng còn lại: Golman Sachs và Morgan Stanley) (Liaw, 2012) [81], nước Mỹ đã
phải thay thế đạo luật Glass-Steagall bằng đạo luật Gramm-Bliley 2000. Đạo luật
mới cho phép ngân hàng đầu tư có thể tồn tại ở dạng độc lập hoặc kết hợp với các
hoạt động của ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm hình thành nên các ngân
hàng tổng hợp. Kể từ khi có đạo luật mới, đa phần các ngân hàng hoạt động theo
mô hình ngân hàng tổng hợp, hiện còn rất ít ngân hàng đi theo mô hình ngân hàng
đầu tư độc lập (Mạc Quang Huy, 2009) [3]. Ở Châu Âu, sự kết hợp giữa các ngân
hàng bán buôn – với các dịch vụ ngân hàng đầu tư là chủ yếu – với ngân hàng
thương mại cũng hình thành đã nên các ngân hàng tổng hợp (universal banking) từ
rất lâu (Pratab, 2008) [104].Ngân hàng tổng hợp tồn tại dưới nhiều loại mô hình:
chấp bằng chính cổ phiếu được mua) của các công ty chứng khoán cho nhà đầu tư
có nhu cầu. Thời gian đầu, thị trường chứng khoán Việt Nam chưa có quy định về
hình thức giao dịch này, dẫn đến việc các công ty chứng khoán tự do đưa ra các quy
định về repo cổ phiếu, cầm cố cổ phiếu, cho vay chứng khoán... Quản trị rủi ro chưa
tốt và việc cấp tín dụng tràn lan của các công ty chứng khoán (đặc biệt là các công
ty chứng khoán có sự chống lưng của các ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng) tiềm ẩn
các rủi ro phá hủy thị trường chứng khoán. Chính vì vậy mà Ngân hàng Nhà nước
buộc phải ban hành các quy định hạn chế các Ngân hàng thương mại cho vay chứng
khoán và Bộ Tài chính ra các quy định cụ thể để quản lý chặt chẽ việc cấp tín dụng
của các công ty chứng khoán trong hoạt động giao dịch ký quỹ.
Xuất phát từ thực tế đó, trong quá trình tổng quan các công trình nghiên cứu,
luận án đã tập hợp và tham khảo các nghiên cứu trên thế giới liên quan đến hành vi
lựa chọn của khách hàng đối với các ngân hàng – nghĩa rộng bao gồm cả ngân hàng
đầu tư – một hình thức phát triển cao của công ty chứng khoán.
17
2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến hành vi lựa chọn
các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng
2.3.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến hành
vi lựa chọn các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng
Nghiên cứu và tìm hiểu về lựa chọn của khách hàng đối với các tổ chức cung
cấp dịch vụ trong lĩnh vực tài chính ngân hàng là vấn đề thu hút được sự quan tâm
của nhiều nhà nghiên cứu. Thông tin nghiên cứu sẽ giúp các nhà quản trị đưa ra
chiến lược marketing phù hợp để thu hút khách hàng mới và duy trì khách hàng
hiện hữu. Một trong những nghiên cứu sớm nhất về vấn đề này là của Kaufman
(1967) [69]. Ông đã tiến hành nghiên cứu để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến
việc lựa chọn ngân hàng để thực hiện các giao dịch của các khách hàng cá nhân và
khách hàng tổ chức tại Hoa Kỳ. Kết quả nghiên cứu cho thấy đối với các khách
khách hàng sinh viên.
Nghiên cứu của Riggal (1980) [110] tiến hành trên 250 khách hàng là những
người nhập cư, những công dân mới của nước Mỹ để xác định những yếu tố ảnh
hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng của họ. Cũng giống như các nghiên cứu
trước đó, yếu tố “Thuận tiện về vị trí” (ngân hàng gần nhà hoặc gần nơi làm việc)
được xác định là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến việc chọn lựa ngân hàng của
các công dân Mỹ mới. Những yếu tố khác cũng đóng vai trò quan trọng là “Ảnh
hưởng từ bạn bè” (giống như kết luận ở hai nghiên cứu trước của Mason & Mayer,
1974;Fitts, 1975); “Phí dịch vụ thấp” và “Tính khả dụng của hệ thống ngân hàng”.
Tương đồng với ý kiến của đồng hương–Gray (1977), Lewis (1982) [80]
khảo sát 716 sinh viên tại 11 trường Đại học và Cao đẳng tại Manchester, Anh quốc
cho rằng “Thuận tiện về vị trí” và “Ảnh hưởng và khuyến nghị từ bố mẹ” là hai yếu
tố quan trọng nhất, trong đó hơn một nửa số sinh viên tham gia khảo sát tiếp tục lựa
chọn ngân hàng mà bố mẹ họ đã hoặc đang sử dụng dịch vụ.
Laroche và cộng sự (1986) [75] tiến hành khảo sát 140 khách hàng trên địa
bàn Montreal, Canada đồng thời đánh giá sự khác nhau giữa hai nhóm khách hàng là
cư dân Canada nói tiếng Anh và khách hàng là cư dân Canada nói tiếng Pháp tại
Montreal. Về cơ bản, các yếu tố “Nhân viên thân thiện”, “Giờ hoạt động”, “Diện tích