Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn công ty chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường c - Pdf 41

Header Page 1 of 123.

Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học kinh tế quốc dân
-------------

-------------

NGUYễN HOàNG GIANG

CáC YếU Tố ảNH HƯởNG TớI HàNH VI LựA CHọN
CÔNG TY CHứNG KHOáN CủA NHà ĐầU TƯ Cá NHÂN
TRÊN THị TRƯờNG CHứNG KHOáN VIệT NAM
CHUYÊN NGàNH: QUảN TRị KINH DOANH (MARKETING)
Mã Số: 62.34.01.02

Ngi hng dn khoa hc:1. GS.TS. NGUYN VIT LM
2. PGS.TS. V TR DNG

Hà nội - 2016
Footer Page 1 of 123.


Header Page 2 of 123.

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu sơ
cấp, số liệu thứ cấp nêu trong luận án là trung thực; các tài liệu tham khảo có nguồn

NGHIÊN CỨU HÀNH VI LỰA CHỌN CÔNG TY CHỨNG KHOÁN CỦA
CÁC NHÀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN .................................................................9
2.1 Những vấn đề lý luận chung về hành vi lựa chọn của khách hàng. ............9
2.1.1 Hành vi mua và hành vi lựa chọn sản phẩm, dịch vụ của khách hàng........9
2.1.2 Hành vi lựa chọn tổ chức cung cấp dịch vụcủa khách hàng trong lĩnh vực
tài chính ngân hàng.............................................................................................11
2.2 Công ty chứng khoán và Ngân hàng đầu tư ................................................13
2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến hành vi lựa chọn các
tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng ..................................................17
2.3.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến hành vi
lựa chọn các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng ..............................17
2.2.2 Các công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến hành vi lựa chọn
công ty chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân.....................................................42
2.2.3 Các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến hành vi lựa chọn các
tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng và liên quan đến nhà đầu tư cá
nhân ....................................................................................................................43

Footer Page 3 of 123.


Header Page 4 of 123.

iii

2.3 Bối cảnh nghiên cứu hành vi lựa chọn công ty chứng khoán của nhà đầu
tư cá nhân – Thực trạng phát triển lĩnh vực kinh doanh chứng khoán tại Việt
Nam .......................................................................................................................45
2.3.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam......................................45
2.3.2 Tổng quan về công ty chứng khoán Việt Nam và nhà đầu tư cá nhân......47
2.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất, các thuật ngữ và câu hỏi nghiên cứu .........58


CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.......................................................127
5.1 Kết luận .........................................................................................................127
5.1.1 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn công ty chứng khoán
của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam.......................127
5.1.2 Mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn công ty
chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam .....131
5.1.3 Mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn công
ty chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam
theo từng nhóm nhân khẩu học ........................................................................133
5.1.4 Các kết luận khác ....................................................................................133
5.2 Một số kiến nghị ...........................................................................................134
5.2.1 Đầu tư và đổi mới hệ thống công nghệ thông tin ....................................134
5.2.2 Nâng cao chất lượng nhân viên ...............................................................136
5.2.3 Quan tâm công tác Marketing .................................................................137
5.2.4 Quan tâm duy trì bộ phận quan hệ khách hàng. .....................................138
5.3 Hạn chế của nghiên cứu ..............................................................................142
5.4 Gợi ý cho nghiên cứu tiếp theo ...................................................................143
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐCỦA TÁC GIẢ ....................144
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................145

Footer Page 5 of 123.


Header Page 6 of 123.

v

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
BẢNG BIỂU


Header Page 7 of 123.

vi

HÌNH VẼ
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất .....................................................................59
Hình 4.1: Thống kê mô tả theo giới tínhcủa mẫu nghiên cứu...................................90
Hình 4.2: Thống kê mô tả theo độ tuổi của mẫu nghiên cứu ....................................91
Hình 4.3: Thống kê mô tả theonghề nghiệp của mẫu nghiên cứu ............................93
Hình 4.4: Thống kê mô tả theothu nhập của mẫu nghiên cứu ..................................93
Hình 4.5: Tình hình mở tài khoản giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư ...............95
Hình 4.6: Tình hình giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư .....................................95
Hình 4.7: Giá trị giao dịch bình quân của nhà đầu tư ...............................................97
Hình 5.1: Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn công ty chứng khoán
của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam .............................128

Footer Page 7 of 123.


Header Page 8 of 123.

1

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 Giới thiệu luận án
Luận án này nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn công ty
chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Để
nghiên cứu vấn đề trên, tác giả đã tiếp cận theo phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa
phân tích định lượng và phân tích định tính với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS20.0 và

nhà đầu tư chứng khoán; Chương 3: Phương pháp nghiên cứu; Chương 4: Kết quả
nghiên cứu; Chương 5: Kết luận và kiến nghị

1.2 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nhà đầu tư và công ty chứng khoán là hai trong số các thực thể cấu tạo nên
thị trường chứng khoán và có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau. Nhà đầu tư buộc phải
thông qua công ty chứng khoán mới có thể tham gia vào thị trường chứng khoán và
các công ty chứng khoán cũng không thể tồn tại nếu không có nguồn khách hàng
quan trọng này.
Nhà đầu tư cá nhân tại Việt Nam là một đối tượng khách hàng của công ty
chứng khoán tại Việt Nam. Đó là những thể nhân tham gia mua và bán các loại
chứng khoán niêm yết hoặc chưa niêm yết (chủ yếu là các cổ phiếu của các công ty
cổ phần). Trên giác độ vĩ mô, vai trò của nhà đầu tư được thể hiện rõ qua những
biến động trên thị trường chứng khoán thời gian qua: Nhà đầu tư cá nhân là một
yếu tố quan trọng trong việc đẩy “cơn sốt chứng khoán” lên đến đỉnh điểm hay bán
tháo ồ ạt gây ra sự sụt giảm quá mức của thị trường chứng khoán. Trên giác độ
công ty cổ phần, nhà đầu tư cá nhân chính là những cổ đông, những người chủ thực
sự và ít nhiều tác động đến tình hình sản xuất kinh doanh cũng như định hướng
trong tương lai của công ty cổ phần. Trên giác độ công ty chứng khoán, nhà đầu tư
là những khách hàng, những người tiêu dùng dịch vụ để tạo ra doanh thu và lợi
nhuận cho hoạt động lõi của công ty.
Không thể phủ nhận vai trò vô cùng qua trọng của khách hàng đối với một tổ
chức kinh doanh. Grant và Schlesinger (1995) ví khách hàng như là mạch máu nuôi
sống doanh nghiệp và chỉ có ba cách để tăng gia tăng lợi nhuận từ khách hàng: Thứ
nhất là phải lôi kéo thu hút thêm nhiều khách hàng mới nhằm gia tăng lượng người
tiêu thụ hàng hóa dịch vụ; Thứ hai là nâng cao khả năng sinh lời từ các khách hàng
hiện tại thông qua việc thúc đẩy họ tiêu thụ hàng hóa và sử dụng dịch vụ của công
ty; Thứ ba là duy trì và kéo dài mối quan hệ với khách hàng hiện hữu [48].

Footer Page 9 of 123.

chứng khoán khác nhau. Đây là điều thuận lợi cho nhà đầu tư nhưng lại là một áp
lực cho công ty chứng khoán. Đặc biệt, với quy mô thị trường chứng khoán tương
đối nhỏ so với khu vực và thế giới nhưng tồn tại đến hơn một trăm công ty chứng
khoán thì sự cạnh tranh giữa các công ty chứng khoán càng trở nên khốc liệt hơn.

Footer Page 10 of 123.


Header Page 11 of 123.

4

Các công ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam muốn tồn tại và
phát triển không thể không tìm hiểu về khách hàng nhằm lôi kéo,thu hút khách hàng
mới và duy trì giữ chân khách hàng hiện tại.
Xuất phát từ những vấn đề trên, nghiên cứu về hành vi lựa chọn công ty
chứng khoán, bao gồm cả việc lựa chọn mở tài khoản và lựa chọn sử dụng các dịch
vụ tại công ty chứng khoán, là một việc làm cần thiết giúp cho cả nhà đầu tư và
công ty chứng khoán đều dễ dàng đạt các mục tiêu của mình trên thị trường chứng
khoán Việt Nam

1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu chung của luận án là nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng
đến hành vi lựa chọn công ty chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường
chứng khoán Việt Nam. Từ đó luận án đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị đối
với các công ty chứng khoán trong thời gian tới.
Các mục tiêu cụ thể của luận án:
- Nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn công ty chứng khoán
của các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
- Xác định mức độ ảnh hưởng của cácyếu tố đến hành vi lựa chọn công ty

Không gian nghiên cứu: Các công ty chứng khoán hiện đang hoạt động
trong lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thời gian nghiên cứu: Toàn bộ nghiên cứu bao gồm cả nghiên cứu lý
thuyết, phân tích bối cảnh nghiên cứu… được thực hiện trong giai đoạn 2007 –
2014. Riêng đối với hoạt động điều tra xã hội học và phỏng vấn chuyên sâu đối với
nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam được thực hiện bắt đầu từ
tháng 8/2014 nhằm đảm bảo tính thời sự của kết quả nghiên cứu.

1.5Khái quát về phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập dữ liệu
Thu thập dữ liệu thứ cấp
Luận án tổng hợp và phân tích thông tin dữ liệu thứ cấp từ các nguồn tài liệu,
các bài báo, các bài nghiên cứu có sẵn trong nước và quốc tế liên quan đến nội dung
nghiên cứu. Mục đích là để hình thành khung lý thuyết, hình thành mô hình nghiên
cứu, các câu hỏi nghiên cứu, các thang đo và phiếu khảo sát ý kiến nhà đầu tư.
Thu thập dữ liệu thứ cấp
(1) Nghiên cứu định tính

Footer Page 12 of 123.


Header Page 13 of 123.

6

Luận án tiến hành phỏng vấn các chuyên gia có kinh nghiệm thực tiễn trong
lĩnh vực thị trường chứng khoán trong nước bao gồm các lãnh đạo cao cấp của một
số công ty chứng khoán tại Hà Nội. Mục đích là để (i) hoàn thiện mô hình nghiên
cứu, bổ sung thang đo về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn công ty chứng
khoán của nhà đầu tư cá nhân phù hợp với bối cảnh nghiên cứu tại thị trường chứng


dịch vụ và Chủng loại dịch vụ.
Luận án đã xây dựng được hệ thống thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến
hành vi lựa chọn công ty chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân phù hợp với bối cảnh
thị trường chứng khoán Việt Nam. Hệ thống thang đo của luận án bao gồm 32 thang
đo, trong đó có 05 thang đo do tác giả tự xây dựng căn cứ trên thực tế tình hình của
thị trường chứng khoán Việt Nam và 27 thang đo tham khảo các nghiên cứu của các
học giả nước ngoài, được dịch sang tiếng Việt, giữ nguyên nội dung nhưng có điều
chỉnh từ ngữ nhằm phù hợp với ngữ cảnh và thực tê nghiên cứu của luận án.
Những đóng góp mới về thực tế
Luận án đã tiến hành khảo sát trực tiếp nhà đầu tư cá nhân, kiểm định thông
qua các kỹ thuật phân tích thống kê và sắp xếp các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi
lựa chọn công ty chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán
Việt Nam. Kết quả cho thấy có 08 nhân tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn công ty
chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân, thứ tự quan trọng sắp xếp từ cao xuống thấp:
Chất lượng dịch vụ; Nhân viên;Danh tiếng công ty; Chủng loại dịch vụ ; Chi phí;
Thuận tiện về vị trí ; Diện mạo công ty và Ảnh hưởng từ người thân.
Thông qua việc khảo sát trực tiếp khách hàng và các kỹ thuật phân tích thống
kê số liệu, kết quả đã cho thấy một số đặc điểm của nhà đầu tư cá nhân Việt Nam
như : Đại đa số nhà đầu tư cá nhân Việt Nam là trẻ tuổi ; Đa phần đều có trình độ từ
đại học trở lên ; Phần đông nhà đầu tư cá nhân là những người có công việc ổn định,
đầu tư chứng khoán chỉ là một trong những kênh đầu tư ; Phần nhiều trong số họ có
thu nhập từ 10-30 triệu đồng. Bên cạnh đó, kết quả còn chỉ ra thực trạng đầu tư chứng
khoán của nhà đầu tư cá nhân ViệtNam như : Tuyệt đại đa số nhà đầu tư cá nhân giao
dịch đồng thời ở cả hai Sở giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh (HSX) và Sở
Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) ; Đa số đều là những nhà đầu tư có kinh
nghiệm từ 5 năm trở lên ; Nhiều nhà đầu tư mở nhiều tài khoản tại các công ty chứng
khoán khác nhau nhưng chỉ giao dịch duy nhất ở một tài khoản ; Tần suất giao dịch
của nhà đầu tư cá nhân là khá thường xuyên. Những kết quả này sẽ giúp các công ty


Hành vi mua của người tiêu dùng là một bộ phận không thể thiếu, không thể
tách rời của khoa học marketing. Kotler và Keller (2011) cho rằng hành vi mua
hàng của người tiêu dùng là nghiên cứu về cách mua và xử lý hàng hóa, dịch vụ, ý
tưởng hoặc kinh nghiệm của các cá nhân, nhóm và các tổ chức để đáp ứng nhu cầu
và mong muốn của họ [74]. Một trong những mô hình điển hình về hành vi mua của
người tiêu dùng đó là mô hình Engel-Kollat-Blackwell (Engel và cộng sự, 1978)
[40], trong mô hình nghiên cứu của mình, các tác giả mô tả quá trình ra quyết định
bao gồm 5 giai đoạn: (1) Nhận biết vấn đề; (2) Tìm kiếm thông tin; (3) Đánh giá các
phương án thay thế; (4) quyết định mua; (5) hành vi sau khi mua.
Salomon và cộng sự (1995) [122] mô tả hành vi mua của khách hàng là một
quá trình lựa chọn, mua, sử dụng và xử lý các sản phẩm dịch vụ của cá nhân hoặc
một nhóm nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của họ. Schiffman và Kanuk
(2000) [118] đưa ra kết luận tương tự khi cho rằng hành vi mua của khách hàng là
hành vi mà khách hàng thể hiện khi sử dụng tài nguyên sẵn có mình để lựa chọn và
mua các sản phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu và mong muốn của họ. Blench &
Blench (1998) chính thức định nghĩa hành vi mua của khách hàng: “là quá trình và
hoạt động của con người trong khi tim kiếm, lựa chọn, mua, sử dụng, đánh giá và
xử lý hàng hóa, dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của họ” [23].
Stallworth (2008) [123] xác định hành vi mua của khách hàng là một tập hợp
các hoạt động có liên quan đến việc mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ được hình
thành từ nhu cầu tinh thần, tình cảm và phản ứng đáp lại của hành vi. Kết quả này

Footer Page 16 of 123.


Header Page 17 of 123.

10

được phát triển từ nghiên cứu của Gabbot và Hogg (1998) [45] cho rằng hành vi

Trong môi trường cạnh tranh đầy khắc nghiệt, lựa chọn của khách hàng
chính là yếu tố sống còn của các tổ chức kinh doanh. Nhận thức rõ về quá trình
quyết định lựa chọn và thích ứng với hành vi mua của khách hàng không chỉ là sựa
lựa chọn của tổ chức kinh doanh, mà hơn hết đó là sự cần thiết cấp bách cho sự tồn
vong của tổ chức kinh doanh đó (Kotlervà Keller, 2011) [74]. Chính lựa chọn của
khách hàng mang lại doanh thu, lợi nhuận, thị phần và thương hiệu cho doanh

Footer Page 17 of 123.


Header Page 18 of 123.

11

nghiệp. Nhận thức được điều này, các tổ chức kinh doanh cần phải tập trung vào
sản phẩm dịch vụ của mình để tạo ra nhiều giá trị và gia tăng sự thỏa mãn của khách
hàng (Sayani & Miniaoui, 2013) [116].

2.1.2 Hành vi lựa chọn tổ chức cung cấp dịch vụcủa khách hàng trong lĩnh
vực tài chính ngân hàng
Các tổ chức cung cấpdịch vụ tài chính ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực
dịch vụ. Vì vậy hoạt động của các tổ chức này mang đầy đủ tính chất đặc thù của
dịch vụ, đó là: tính vô hình, tính không tách rời giữa cung cấp và tiêu dùng dịch vụ,
tính không đồng đều về chất lượng và tính không dự trữ được (Zeithaml và cộng sự,
1985) [139]. Các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng thông thường là các
định chế tài chính, các tổ chức kinh doanh dịch vụ như: Ngân hàng, công ty tài
chính, công ty cho thuê tài chính, công ty tín thác, công ty bảo hiểm, công ty chứng
khoán, công ty quản lý quỹ…
Các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng hoạt động trong môi
trường có sự gắn kết cao. Ở đó mối quan hệ tương hỗ giữa bên mua – bên bán và

Cũng theo Aregbeyen (2011) [17], cạnh tranh xuất hiện khi có từ hai đơn vị
độc lập trở lên cung cấp sản phẩm dịch vụ cho cũng một nhóm khách hàng. Cạnh
tranh trực tiếp là tình trạng mà các đơn vị cung cấp cùng một loại sản phẩm dịch vụ
đáp ứng nhu cầu cho cùng một nhóm khách hàng. Cạnh tranh gián tiếp tồn tại ở các
tất cả các đơn vị cung cấp dịch vụ hàng hóa, dù là những dịch vụ hàng hóa này
không trực tiếp cạnh tranh lẫn nhau, với mục tiêu là túi tiền của khách hàng. Cả hai
hình thức cạnh tranh trực tiếp và gián tiếp đều khiến các đơn vị, tổ chức kinh doanh
phải phát triển sản phẩm dịch vụ mới, mang đến cho khách hàng nhiều sự lựa chọn
tốt hơn. Vì vậy, chiến lược cạnh tranh của các tổ chức kinh doanh phụ thuộc vào
đặc điểm lựa chọn của khách hàng. Chính những đặc điểm lựa chọn này sẽ có ảnh
hưởng đến quyết định cung cấp sản phẩm dịch vụ của tổ chức kinh doanh vì mục
tiêu thỏa mãn như cầu và sở thích của khách hàng.
Aregbeyen (2011) [17] cho rằng dễ dàng nhận thấy tính tương thích giữa lựa
chọn hợp lý, việc cá nhân so sánh giữa lợi ích và phí tổn của các hành động của
mình, với hành vi lựa chọn các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng của
khách hàng cá nhân. Khi khách hàng muốn sở hữu, sử dụng những sản phẩm dịch
vụ tốt nhất với phí tổn thấp nhất một cách dễ dàng nhất, họ sẽ có sự so sánh đánh
giá các đơn vị cung cấp để lựa chọn ra đơn vị cung cấp dịch vụ phù hợp nhất với họ.

Footer Page 19 of 123.


Header Page 20 of 123.

13

Hiểu rõ về lựa chọn của khách hàng nói chung và các yếu tố ảnh hưởng đến
lựa chọn của khách hàng nói riêng là việc làm cần thiết và cũng là thử thách đối với
các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng.Đặc biệt trong môi trường cạnh
tranh ngày càng gay gắt hiện nay, cạnh tranh cùng với tình trạng bão hòa các tổ chức


14

Ngân hàng đầu tư xuất hiện từ rất lâu trên thế giới song song với sự hình
thành và phát triển của thị trường chứng khoán. Ngân hàng đầu tư là một trung gian
trong thị trường vốn, kết nối giữa những đơn vị có nguồn lực tài chính (nhà đầu tư)
với những đơn vị có nhu cầu tài chính để sản xuất kinh doanh tạo ra GDP trong xã
hội (tổ chức phát hành) (Pratab, 2008)[104]. Micheal Fleuviet (2008) đã đưa ra
phạm vi hoạt động của ngân hàng đầu tư “là một trung gian tài chính kết nối người
mua với người bán chứng khoán… Phạm vi của ngân hàng đầu tư bao gồm tất cả
các hoạt động chủ yếu trên thị trường vốn như bảo lãnh phát hành, phát hành riêng
lẻ, mua bán sáp nhập, đầu tư mạo hiểm, tạo lập thị trường, tự doanh, các dịch vụ kỹ
thuật tài chính, thanh toán bù trừ và quản lý tài chính”[41]. Ngân hàng đầu tư cung
cấp các dịch vụ giống như các dịch vụ được cung cấp bởi các công ty chứng khoán
ở Việt Nam, đó là: tư vấn tài chính doanh nghiệp, tư vấn M&A, bảo lãnh phát hành
chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, nghiệp vụ đầu tư, môi giới, nghiên cứu…
(Liaw, 2012) [81].
Tại mỗi nền kinh tế khác nhau, thuật ngữ “ngân hàng đầu tư” lại được biết
đến với những tên gọi khác nhau. Tại Châu Âu lục địa và Anh, ngân hàng đầu tư
được biết đên dưới tên gọi “Ngân hàng bán buôn” (Merchant Banking).Ở một số
nước, ví dụ như Trung Quốc, để tránh có sự nhầm lẫn với các ngân hàng thương
mại, Chính phủ Trung Quốc quy định trong tên của các định chế ngân hàng đầu tư
không được có từ “ngân hàng” (thay vào đó các định chế ngân hàng đầu tư ở Trung
Quốc được gọi là công ty chứng khoán). Ở một số nước như Mỹ, Nhật Bản, Hàn
Quốc, Singapore … ngân hàng đầu tư được gọi là ngân hàng đầu tư (investment
banking) nhằm phân địch rạch ròi giữa hoạt động của ngân hàng đầu tư và ngân
hàng thương mại. Các nước này còn được gọi là các nước nhóm Glass-Steagall (do
chịu ảnh hưởng của Đạo luật Glass-Steagall của Mỹ từ những năm khủng hoảng
kinh tế thập kỷ 30 của thế kỷ trước). Tuy nhiên, do đạo luật Glass-Steagall ra đời từ
rất lâu nên có rất nhiều vấn đề chưa phù hợp với tình hình phát triển của thị trường

khoán rất tích cực, có thể kể đến Ngân hàng HSBC, Deutsche Bank, Citigroup,
Credit Suisse, JP Morgan Chase, Bank of America, Nomura, Golman Sachs,
Morgan Stanley… (Liaw, 2012)[81].
Ở những nước phát triển, khi nói đến tổ chức trung gian trong thị trường vốn
cung cấp các dịch vụ liên quan đến chứng khoánngười ta thường nói đên loại hình
ngân hàng đầu tư (có thể là ngân hàng đầu tư dạng độc lập hoặc ngân hàng tổng hợp
bao gồm ngân hàng thương mại kết hợp với ngân hàng đầu tư). Tuy nhiên, ở một số
nước đang phát triển, mô hình ngân hàng đầu tư tồn tại dưới tên gọi công ty chứng
khoán (ví dụ Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam…). Thực ra đây chỉ là hai tên gọi

Footer Page 22 of 123.


Header Page 23 of 123.

16

khác nhau cho một loại hình tổ chức trung gian trong thị trường chứng khoán, như
Mạc Quang Huy (2009) khẳng định trong tác phẩm của mình, thuật ngữ “ngân hàng
đầu tư” và “công ty chứng khoán” có thể được sử dụng thay thế cho nhau mà không
thay đổi ý nghĩa của ngữ cảnh [3].
Tuy nhiên, các công ty chứng khoán ở Việt Nam có một điểm đặc thù khác
với ngân hàng đầu tư của các nước, đó là tồn tại hoạt động giao dịch ký quỹ
(margin). Theo Điều 2 Thông tư số 74/2011/TT-BTC ngày 01/06/2011 về Hướng
dẫn giao dịch trên thị trường chứng khoán: “Giao dịch mua ký quỹ chứng khoán
(margin) là giao dịch mua chứng khoán của khách hàng có sử dụng tiền vay của
công ty chứng khoán và sử dụng các chứng khoán khác có trong tài khoản và chứng
khoán mua được bằng tiền vay để cầm cố. Về bản chất đây là một hoạt động cấp tín
dụng thông qua tín chấp (đảm bảo bằng khoản tiền ứng trước) hoặc thế chấp (thế
chấp bằng chính cổ phiếu được mua) của các công ty chứng khoán cho nhà đầu tư

(1967) [69]. Ông đã tiến hành nghiên cứu để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến
việc lựa chọn ngân hàng để thực hiện các giao dịch của các khách hàng cá nhân và
khách hàng tổ chức tại Hoa Kỳ. Kết quả nghiên cứu cho thấy đối với các khách
hàng cá nhân, ‘Thuận tiện về vị trí” là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết
định chọn lựa ngân hàng của họ, hai yếu tố quan trọng tiếp theo là ‘Mối quan hệ
giữa ngân hàng và khách hàng” và “Chất lượng dịch vụ”.
Nghiên cứu của Mason &Mayer (1974) [86] phân chia khách hàng cá nhân ở
Hoa Kỳ thành hai nhóm: Nhóm khách hàng có thu nhập thấp và nhóm khách hàng
có thu nhập cao. Tuy nhiên, cũng thống nhất theo nghiên cứu trước đó của Kaufman
(1967), cả hai nhóm khách hàng đều đánh giá yếu tố “Thuận tiện về vị trí” là yếu tố
quan trọng nhất ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngân hàng của khách hàng. Một số
các yếu tố khác đóng vai trò quan trọng đối với cả hai nhóm khách hàng đó là
“Nhân viên thân thiện”; “Lời khuyên của bạn bè”; ‘Ảnh hưởng từ gia đình họ
hàng”…
Andersonvà cộng sự (1976)[16] đã tiến hành phân tích 466 đáp viên nhằm
thấy được khách hàng lựa chọn ngân hàng để tiến hành các dịch vụ giao dịch như
thế nào và xác định được yếu tố “Khuyến nghị từ bạn bè” là yếu tố quan trọng nhất
trong quá trình khách hàng lựa chọn ngân hàng, tiếp sau đó theo thứ tự là các yếu tố
“Danh tiếng”; ‘Tính khả dụng của tín dụng”; “Tính thân thiện” và ‘Phí dịch vụ”.

Footer Page 24 of 123.


Header Page 25 of 123.

18

Bên cạnh đó, các tác giả đã tiến hành phân nhóm khách thể nghiên cứu thành hai
nhóm khách hàng. Nhóm khách hàng hướng đến sự thuận tiện bao gồm 256
ngườithì đánh giá “Khuyến nghị của bạn bè”; “Vị trí” và “Danh tiếng” là những yếu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status