Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn công ty chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán việt nam (TT) - Pdf 35

1
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Để tồn tại trong môi trường cạnh tranh khốc liệt và đạt các

2
Không gian nghiên cứu: Các CTCK hiện đang hoạt động có
trụ sở và/ hoặc ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.
Thời gian nghiên cứu: Hoạt động điều tra xã hội học và

mục tiêu trong kinh doanh, CTCK phải tìm cách thu hút khách hàng

phỏng vấn chuyên sâu được thực hiện bắt đầu từ tháng 8/ 2014.

mới đến mở tài khoản và sử dụng dịch vụ của mình, phải tìm cách

1.4 Khái quát về phương pháp nghiên cứu

chăm sóc, duy trì và giữ chân khách hàng hiện tại. Nghiên cứu về

- Phương pháp thu thập dữ liệu

hành vi lựa chọn công ty chứng khoán (CTCK), bao gồm cả việc lựa

Thu thập dữ liệu thứ cấp

chọn mở tài khoản và lựa chọn sử dụng các dịch vụ tại CTCK, là cần

Luận án tổng hợp và phân tích thông tin thứ cấp từ các nguồn

thiết giúp cho cả nhà đầu tư và CTCK đều dễ dàng đạt các mục tiêu


vụ của các CTCK; (ii) tiến hành khảo sát thông qua mạng Internet.

Đề xuất một số giải pháp để các CTCK phục vụ nhà đầu tư tốt
hơn để giữ chân khách hàng, thu hút khách hàng nhằm mục tiêu vì lợi

- Phương pháp xử lý dữ liệu
Dữ liệu sau khi khảo sát được xử lý bằng phần mềm phân tích

ích của cả nhà đầu tư và CTCK

thống kê SPSS version 20.0. Luận án sẽ sử dụng các kỹ thuật phân

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

tích độ tin cậy (Cronbach’s Alpha); kỹ thuật phân tích nhân tích yếu tố

Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa
chọn CTCK của các nhà đầu tư cá nhân trên TTCKVN.
Khách thể nghiên cứu: Nhà đầu tư chứng khoán cá nhân hiện
đang sử dụng các dịch vụ của các CTCK trên TTCKVN.
Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn ở hành vi lựa chọn CTCK của
các nhà đầu tư cá nhân VN trên TTCKVN, bao gồm cảHSX và HNX.

khám phá (EFA); Phân tích T-Test và phân tích phương sai ANOVA
để phân tích các dữ liệu thu thập được.
1.5 Đóng góp mới của luận án
Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận
Xây dựng và kiểm định mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến
hành vi lựa chọn CTCK của nhà đầu tư cá nhân trên TTCKVN.

nguyên nội dung nhưng có điều chỉnh từ ngữ nhằm phù hợp với ngữ

hàng vì lợi ích của tất cả các bên liên quan phù hợp với thực tế tại các

cảnh và thực tê nghiên cứu của luận án.

CTCK ở VN.

Những đóng góp mới về thực tế
Luận án đã tiến hành khảo sát trực tiếp nhà đầu tư cá nhân,

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN

kiểm định thông qua các kỹ thuật phân tích thống kê và sắp xếp các

ĐẾN NGHIÊN CỨU HÀNH VI LỰA CHỌN CÔNG TY CHỨNG

yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn CTCK của nhà đầu tư cá nhân

KHOÁN CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

trên TTCKVN. Kết quả cho thấy có 06 yếu tố ảnh hưởng đến hành vi

2.1 Những vấn đề lý luận chung về hành vi lựa chọn của khách hàng.

lựa chọn CTCK của nhà đầu tư cá nhân, thứ tự quan trọng sắp xếp từ

2.1.1 Hành vi mua và hành vi lựa chọn của khách hàng

cao xuống thấp: Chất lượng dịch vụ ; Chi phí ; Chủng loại dịch vụ ;


chỉ là một trong những kênh đầu tư ; Phần nhiều trong số họ có thu

nghiên cứu liên quan đến khoa học tâm lý. Dần dần, thuật ngữ này

nhập từ 10-30 triệu đồng ; Tuyệt đại đa số giao dịch đồng thời ở cả

được phổ biến trong lĩnh vực marketing để giải thích các mô hình

HSX và HNX; Đa số đều có kinh nghiệm từ 5 năm trở lên ; Nhiều nhà

quyết định của người tiêu dùng. Khái niệm, tầm quan trọng của lựa

đầu tư mở nhiều tài khoản tại các CTCK khác nhau nhưng chỉ giao

chọn được Hansen (1976); Kotler (2000) và Sayani & Miniaoui

dịch duy nhất ở một tài khoản ; Tần suất giao dịch của nhà đầu tư cá

(2013)nhắc đến trong các nghiên cứu của mình.

nhân là khá thường xuyên.


5

6

2.1.2 Hành vi lựa chọn của khách hàng đối với các tổ chức cung


điển hình như Ngân hàng HSBC, Deutsche Bank, Citigroup, Credit
Suisse, JP Morgan Chase, Bank of America, Nomura, Golman Sachs,
Morgan Stanley… (Liaw, 2012).
CTCK và Ngân hàng đầu tư thực ra chỉ là hai tên gọi khác
nhau cho một loại hình tổ chức trung gian trong TTCK, như Mạc
Quang Huy (2009) khẳng định thuật ngữ “ngân hàng đầu tư” và
“CTCK” có thể được sử dụng thay thế cho nhau mà không thay đổi ý
nghĩa của ngữ cảnh.
Xuất phát từ thực tế đó, trong quá trình tổng quan các công
trình nghiên cứu, luận án đã tập hợp và tham khảo các nghiên cứu trên
thế giới liên quan đến hành vi lựa chọn của khách hàng đối với các

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn tổ chức
cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng của khách hàng cá nhân được
nhiều học giả nước ngoài công bố trong nhiều năm qua. Nhiều yếu tố
ảnh hưởng đã được các nghiên cứu đưa ra, có thể tóm lược như sau:
1- Yếu tố liên quan đến Diện mạo công ty (ngân hàng)
được các nghiên cứu sau đề cập: Laroche et al. (1986); Driscoll
(1999); Gerrard & Cunningham (2001); Yavas et al.; Safakli (2007);
Rehman và Ahmed (2008); Rehman và Ahmed (2008); Chigamba &
Fatoki (2011); Katircioglu et al (2011); Hedayatnia & Eshghi (2011);
Mokhlis et al (2011); Siddique (2012); Sarwar và Mubeen (2012);
Okpara và Onuoha (2013).
2- Yếu tố liên quan đến thuận tiện về vị trí được các nghiên
cứu sau đề cập: Kaufman (1967); Mason & Mayer (1974); Anderson
et al (1976); Gray (1977); Riggal (1980); Lewis (1982); Laroche et al.
(1986); Javalgi et al. (1989); Schram (1991); Kaynak và
Kucukemiroglu (1992); Martenson (1993); Boyd et al (1994); Yue và
Tom (1995); Thwaites và Vere (1995); Mylonakis et al. (1998);
Kennington et al. (1999); Driscoll (1999); Owusu-Frimpong (1999);

(1986); Schram (1991); Zineldin (1996); Gerrard & Cunningham

và Tom (1995); Thwaites và Vere (1995); Kennington et al (1999);

(2001); Tank & Tyler (2005); Safakli (2007);Blankson et al. (2007);

Almossawi (2001); Tank & Tyler (2005); Katircioglu et al. (2011);

Rehman và Ahmed (2008);Blankson et al. (2009); Jahiruddin &

Maiyaki (2011);Hedayatnia &

Eshghi (2011); Chigamba & Fatoki

Haque (2009); Katircioglu et al. (2011);Hedayatnia & Eshghi (2011);

(2011); Mokhlis et al (2011); Siddique (2012); Okpara và Onuoha (2013)

Chigamba & Fatoki (2011); Mokhlis et al. (2011); Sarwar và Mubeen

4- Yếu tố liên quan đến chi phí, giá cảđược các nghiên cứu

(2012); Okpara và Onuoha (2013)

sau đề cập; Anderson et al. (1976); Riggal (1980);Gupta & Torkzadeh

7- Yếu tố liên quan đến chất lượng dịch vụđược các nghiên

(1988); Javalgi et al (1989); Khazeh và Decker (1993); Boyd et al.


al (2011);Chigamba & Fatoki (2011); Siddique (2012); Okpara và

Fatoki (2011);Yavas et al.; Siddique (2012); Okpara và Onuoha

Onuoha (2013).

(2013)

&



Boyd

Kaynak

et

al

(1995);

Ahmed

(1994);
Poh

(2008);

Yue

(1997);Owusu-Frimpong (1999); Gerrard & Cunningham (2001);

et al (2011); Chigamba & Fatoki (2011); Yavas et al.; Siddique

Almossawi

(2012); Okpara và Onuoha (2013).

(2001);

Eshghi(2011);

Katircioglu

Mokhlis

et

al

et

al.

(2011);

(2011);Hedayatnia
Chigamba

&

lựa chọn CTCK của nhà đầu tư cá nhân

106 CTCK. Tuy nhiên, do sự sụt giảm của thị trường cùng với yêu cầu

Các công trình nghiên cứu nước ngoài về hành vi nhà đầu tư

tái cấu trúc các CTCK của UBCKNN, số lượng các CTCK hiện nay là

cá nhân liên quan đến CTCK thường là nghiên cứu về lòng trung

104 công ty, trong đó có 86 công ty hoạt động bình thường.

thành của nhà đầu tư đối với CTCK (Opas & Pacapol, 2007) hoặc về

2.3.2.2 – Nhà đầu tư cá nhân – khách hàng của CTCK

sự thỏa mãn đối với dịch vụ của CTCK (Lê Thanh, 2011).
2.2.3 Các công trình nghiên cứu trong nước
Phạm Thị Tâm và Phạm Ngọc Thúy (2010) đưa ra 06 yếu tố

Nhà đầu tư cá nhân đóng một vai trò quan trọng đối vớiCTCK:
- Thứ nhất: Nhà đầu tư cá nhân góp phần xác lập vị thế cho CTCK.
- Thứ hai: nhà đầu tư cá nhân là những người trả lương cho CTCK.

ảnh hưởng đến đến xu hướng lựa chọn ngân hàng của khách hàng cá

- Thứ ba: nhà đầu tư cá nhân là vũ khí cạnh tranh vô cùng hiệu quả

nhân: “Vẻ bên ngoài”; “Thuận tiện về thời gian”; “Thuận tiện về vị


đỉnh lịch sử vào ngày 12/03/2007 với mốcVN-Index là 1.170,67 điểm.

khoán, Môi giới chứng khoán, Lưu ký chứng khoán, quản lý danh mục

HASTC cũng đạt đỉnh ngày 19/03/2007 với số điểm là 459,36

chứng khoán, các dịch vụ gia tăng như giao dịch ký quỹ, T+2…

điểm.Tuy nhiên ngay sau đó, TTCKVN rơi vàogiai đoạn suy thoái


11

12

2.4 Mô hình nghiên cứu, các thuật ngữ và câu hỏi nghiên cứu

2.4.2 Các thuật ngữ liên quan

2.4.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Do đặc thù của mô hình ngân hàng đầu tư, ở các nước phát
triển như Châu Âu, Mỹ… ngân hàng đầu tư tồn tại trong các ngân
hàng đầu tư độc lập hoặc các ngân hàng tổng hợp; ở VN, mô hình
ngân hàng đầu tư tồn tại dưới tên gọi CTCK, vì vậy luận án tham
khảo, tiếp thu, phân tích, học hỏi, kế thừa, phát triển và tổng hợp các
mô hình, phương pháp nghiên cứu trong nước và thế giới về nghiên
cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn ngân hàng của khách
hàng cá nhân, đặc biệt là các nghiên cứu của Almossawi (2001);
Gerrard và Cunningham (2001); Yavas et al.; Maiyaki (2011); Salid et
al. (2011); Hedayatnia & Eshghi (2011); Chigamba & Fatoki (2011);

Diện mạo công ty liên quan đến các yếu tố như kiến trúc bên

chung, nhân viên chính là một tài sản vô hình của công ty..
Hành vi lựa
chọn công ty
chứng khoán

Nhân viên
Ảnh hưởng của người thân

2.4.2.6 Ảnh hưởng của người thân
Hành vi của cá nhân thường bị ảnh hưởng bởi các bên thứ ba
như bạn bè, đồng nghiệp, bố mẹ, họ hàng....
2.4.2.7 Chất lượng dịch vụ
Chất lượng dịch vụ được định nghĩa là cảm nhận tổng thể của
khách hàng về ưu, nhược điểm của tổ chức và dịch vụ do tổ chức đó

Chất lượng dịch vụ

cung cấp.

Chủng loại dịch vụ

2.4.2.8 Chủng loại dịch vụ

Các yếu tố nhân khẩu học (Biến điều tiết)
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Trong môi trường cạnh tranh gay gắt, việc cải tiến, đổi mới và
cung cấp đa dạng chủng loại sản phẩm là điều hết sức cần thiết cho sự


mục tiêu lợi ích của cả nhà đầu tư và CTCK?

điện tử trên mạng intenet.
3.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Quy trình nghiên cứu

3.2.2.1 Nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định tính được sử dụng trong giai đoạn nghiên

Giai đoạn 1: Nghiên cứu sơ bộ

cứu sơ bộ (giai đoạn 1) và giai đoạn nghiên cứu chính thức (giai đoạn

Trên cơ sở tổng quan các vấn đề lý thuyết, đánh giá và tổng

3) của quá trình nghiên cứu.

hợp những kết quả của các nghiên cứu đi trước để xây dựng mô hình

3.2.2.1 Nghiên cứu định lượng

lý thuyết nghiên cứu. Bên cạnh đó, luận án còn tiến hành phỏng vấn

A- Thiết kế phiếu khảo sát

sâu với các Giáo sư, Phó Giáo sư và các lãnh đạo CTCK để hoàn thiện



Phần cuối: bao gồm các câu hỏi liên quan đến nhân khẩu học
của người được khảo sát như: giới tính, tuổi, học vấn, nghề nghiệp,

Về độ tuổi: Đa số trong độ tuổi từ 25 đên 31 tuổi, có đến 221
nhà đầu tư trong độ tuổi này chiếm tới 42,8%.

thu nhập.

Về trình độ học vấn: đại đa số mẫu tham gia khảo sát có trình

B- Phương pháp chọn mẫu

độ từ đại học trở lên, chiếm tới gần 95% tổng số nhà đầu tư cá nhân.

Luận án sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện để tiến
hành nghiên cứu. Không gian chọn mẫu tại 18 CTCK tại TP Hà Nội

Về nghề nghiệp: Đa số nhà đầu tư là cán bộ công nhân viên
tại các công ty, doanh nghiệp chiếm trên 70% với 314 nhà đầu tư.

và 10 CTCK tại TP Hồ Chí Minh.
3.3 Kỹ thuật phân tích dữ liệu
Luận án sử dụng phần mềm SPSS version 20.0 phân tích,

Về thu nhập: 274 nhà đầu tư tương đương tỷ lệ 53,1% có thu
nhập từ 10 đến dưới 30 triệu đồng/tháng.
4.1.2 Thực tế sử dụng dịch vụ CTCK của nhà đầu tư cá nhân VN

kiểm định. Dữ liệu sau khi thu thập sẽ được xử lý theo các bước sau:


mô tả để tính giá trị trung bình, phân tích T-Test và kỹ thuật phân

98 nhà đầu tư tương ứng với tỷ lệ 19% mở tài khoản ở tại nhiều

tích phương sai ANOVA.

CTCK nhưng giao dịch duy nhất tại một công CTCK.
Có tới 349 nhà đầu tư cá nhân tương đương với 67,6% thường

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Thống kê mô tả mẫu
Kết thúc điều tra, sau khi tiến hành kiểm tra và loại bỏ những

xuyên giao dịch trên TTCK. Đa số là nhà đầu tư nhỏ lẻ với giao dịch
dưới 100 triệu đồng / phiên.
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn CTCK của nhà

Phiếu khảo sát lỗi, luận án thu được 379 Phiếu khảo sát trực tiếp hoàn

đầu tư cá nhân trên TTCKVN.

chỉnh và 137 Phiếu khảo sát trực tuyến hợp lệ. Số lượng bảng câu hỏi

4.2.1Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

phù hợp đưa vào phân tích thống kê là 516 phiếu.
4.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu
Về giới tính: 293 nhà đầu tư nam chiếm 56,8% và 223 nhà
đầu tư nữ chiếm 43,2%.

.659
Chung loai 3
.585
Nhan vien 4
.794
Nhan vien 2
.785
Nhan vien 3
.777
Nhan vien 5
.756
Nhan vien 6
.729
Anh huong 3
.878
Anh huong 2
.876
Anh huong 1
.846
Anh huong 4
.832
Dien mao 2
.885
Dien mao 1
.874
Dien mao 3
.810
Dien mao 4
.665
Vi tri 1

ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn CTCK của nhà đầu tư cá nhân trên
TTCKVN, bao gồm các yếu tố: (1) Chủng loại dịch vụ; (2) Nhân viên;
(3) Ảnh hưởng từ người thân; (4) Diện mạo của công ty; (5) Chất
lượng dịch vụ; (6) Thuận tiện về vị trí; (7) Chi phí; (8) Danh tiếng
công ty
4.2.2 Đánh giá độ tin cậy của các thang đo
Đa số các biến quan sát đều có hệ số Cronbach’s Alpha If
Item Deleted nhỏ hơn hệ số Cronbach’s Alpha của biển tổng (trừ biến
Chat luong 1 và Danh tieng 3), tuy nhiên các hệ số tương quan biến
toàn bộ tổng của 32 biến quan sát đều lớn hơn 0,3, vì vậy luận án đề
nghị tiếp tục giữ lại hai biến Chat luong 1 và Danh tieng 3 trong thang
đo.
4.2.4 Đánh giá mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến
hành vi lựa chọn chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân
Trong 32 biến quan sát, có 11 biến quan sát được nhà đầu tư
cá nhân đánh giá với ý nghĩa “rất quan trọng”; 14 biến quan sát được
đánh giá với ý nghĩa “quan trọng”; 6 biến quan sát được đánh giá với
ý nghĩa “trung lập” và 1 biến quan sát được đánh giá với ý nghĩa
“không quan trọng”
Trong 06 nhóm yếu tố ảnh hưởng, bốn nhóm yếu tố có mức
độ quan trọng hơn xếp từ cao xuống là (1) Chất lượng dịch vụ; (2)
Nhân viên; (3) Danh tiếng công ty; (4) Chủng loại dịch vụ. Bốn nhóm
yếu tố có mức độ kém quan trọng hơn theo thứ tự từ thấp lên cao là


19

20

(1) Ảnh hưởng từ người thân; (2) Diện mạo công ty; (3) Thuận tiện về


4.2.4.5 Đánh giá mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến lựa

tư có thu nhập từ 10 đến 50 triệu đồng/ tháng quan tâm đến “Danh

chọn CTCK của nhà đầu tư cá nhân theo nhóm tuổi.

tiếng công ty” và nhóm nhà đầu tư có thu nhập dưới 10 triệu đồng/

Tất cả các nhóm tuổi đều nhất trí “Chất lượng dịch vụ” và

tháng quan tâm tới yếu tố “Nhân viên”.

“Nhân viên” là hai yếu tố quan trọng hơn và ba yếu tố kém quan trọng

4.3 Kết quả phỏng vấn sâu giai đoạn 3

hơn là “Thuận tiện về vị trí”; “Diện mạo công ty” và “Ảnh hưởng từ

4.3.1 Về các yếu tố quan trọng nhất

người thân”. Tuy nhiên, các nhóm tuổi khác nhau có sự đánh giá
không nhất quán về mức độ quan trọng của các yếu tố khác.
4.2.4.6 Đánh giá mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến lựa
chọn CTCK của nhà đầu tư cá nhân theo trình độ học vấn.

Các lãnh đạo CTCK đưa ra các nguyên nhân của các yếu tố
ảnh hưởng:
- Chất lượng dịch vụ: Tốc độ xử lý lệnh giao dịch nhanh hay
chậm quyết định đến kết quả của giao dịch, đặc biệt trong giai đoạn thị


21
4.3.2 Về các yếu tố ít quan trọng nhất
- Chi phí: Do phí giao dịch, lãi suất ứng trước tiền bán, lãi vay
thực hiện giao dịch ký quỹ đều tương đối nhỏ so với tổng giá trị giao
dịch nên các nhà đầu tư các nhân không dành nhiều sự quan tâm.

22
nhóm yếu tố quan trọng nhất theo thứ tự đó là: (1) Chất lượng dịch vụ;
(2) Danh tiếng công ty; (3) Nhân viên; (4) Chủng loại dịch vụ
Trong số 32 biến quan sát – được coi như là các tiểu yếu tố
ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn CTCK của nhà đầu tư cá nhân trên

- Diện mạo công ty: Do tiến bộ của khoa học kỹ thuật giúp thu

TTCKVN, có 6 biến quan sát được đánh giá quan trọng nhất tính từ

hẹp khoảng cách giữa nhà đầu tư với CTCK và đa số nhà đầu tư cá

cao xuống thấp, đó là: (1) CTCK có hệ thống giao dịch trực tuyến hiện

nhân có công việc ổn định theo giờ hành chính, nên họ không dành sự

đại, tương thích với nhiều thiết bị điện tử và dễ sử dụng; (2) CTCK có

quan tâm nhiều đối với yếu tố này.

tình hình tài chính vững mạnh; (3) Dịch vụ của CTCK đáp ứng nhanh

- Thuận tiện về vị trí: Nguyên nhân giống như yếu tố “Diện


đưa ra một số kết luận: Đa số nhà đầu tư cá nhân VN là nhà đầu tư

nhóm yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn CTCK của nhà đầu tư cá

nhỏ lẻ, có kinh nghiệm giao dịch và giao dịch khá thường xuyên trên

nhân trên TTCKVN. Tám yếu tố đó bao gồm: (1) Diện mạo công ty;

TTCKVN. Đặc biệt, nghiên cứu còn cho thấy nhiều nhà đầu tư mặc dù

(2) Thuận tiện về vị trí; (3) Danh tiếng công ty; (4) Chi phí; (5) Nhân

mở nhiều tài khoản giao dịch chứng khoán tại các CTCK khác nhau

viên; (6) Ảnh hưởng của người thân; (7) Chất lượng dịch vụ; (8)

nhưng lại chỉ giao dịch duy nhất ở một CTCK.

Chủng loại dịch vụ.
5.1.2 Mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến
hành vi lựa chọn CTCK của nhà đầu tư cá nhân trên TTCKVN
Theo kết quả kiểm định, trong 8 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến
hành vi lựa chọn CTCK của nhà đầu tư cá nhân trên TTCKVN, có 4

Bên cạnh đó, kết quả phỏng vấn sâu một số lãnh đạo CTCK
nhằm củng cố và bổ sung cho các kết quả nghiên cứu định lượng đồng
thời giải thích một số nguyên nhân nhất định của các yếu tố ảnh hưởng
trong quá trình đánh giá phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vị lựa
chọn CTCK của của các nhà đầu tư cá nhân trên TTCKVN.

5.3 Hạn chế của nghiên cứu
- Về phương diện lý thuyết còn có rất nhiều các công trình

(2) Lựa chọn hình thức đầu tư
(3) Phù hợp với đặc thù
5.2.2 Quan tâm công tác Marketing

nghiên cứu khác nhau nghiên cứu về hành vi lựa chọn của khách hàng
trong lĩnh vực tài chính ngân hàng trên thế giới. Tuy nhiên, luận án

Các vấn đề trong công tác marketing các công ty cần lưu ý:

không thể nghiên cứu được toàn bộ các tất cả các nghiên cứu mà chỉ

(1) Mục tiêu

nghiên cứu những công trình đặc trưng nhất.
- Nghiên cứu định tính chỉ tiến hành trên 09 lãnh đạo của 09

(2) Chương trình hoạt động
(3) Ngân sách
5.2.3 Nâng cao chất lượng nhân viên

CTCK từ đó suy rộng ra đánh giá của các lãnh đạo của CTCK về các yếu
tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn CTCK của nhà đầu tư cá nhân.

Đội ngũ nhân viên là tài sản vô hình quý giá của CTCK. Để

- Nghiên cứu định lượng tiến thành khảo sát theo phương


- Mở rộng thêm các biến quan sát bổ sung thêm các yếu tố
ảnh hưởng vào mô hình nghiên cứu




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status