LỜI MỞ ĐẦU
Vào những thập niên của thế kỷ XX, xu thế toàn cầu hoá và hội nhập
kinh tế quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ. Sự gia tăng mạnh mẽ đó đòi
hỏi các quốc gia phải có chiến lược hội nhập phù hợp vào nền kinh tế thế giới
và khu vực. Trong bối cảnh này, không thể phát triển nếu như không mở cửa
hội nhập. Tuy vậy, hội nhập một mặt sẽ đón nhận được những cơ hội cho phát
triển, Song mặt khác, cũng phải đối với hàng loạt những thách thức do chính
xu thế toàn cầu hoá đặt ra. Vì vậy, trong Đại hội đảng IX của Đảng ta đã nêu
rõ: “Toàn cầu hoá là xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết
các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, sức ép cạnh tranh và tính tuỳ thuộc lẫn
nhau giữa các nền kinh tế” và Đảng ta đã khẳng định: "chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao
hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân
tộc, bảo vệ môi trường” (văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, tr
157,120 – NXB chính trị quốc gia).
Đã có rất nhiều đề án, tài liệu nghiên cứu về vấn đề này. Tuy nhiên, đây
là vấn đề mang tính thời đại và còn trong quá trình diễn biến nên em xin
mạnh dạn chọn đề tài: “Toàn cầu hóa về kinh tế và vấn đề chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Ngành dệt may đã chủ động hội nhập
sau khi Việt Nam gia nhập WTO” do trình độ và thời gian có hạn nên đề
án của em không tránh khỏi những thiếu sót sai lầm. Em rất mong có sự đóng
góp của cô giáo và các bạn để đề án của em hoàn thiện hơn.
1
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TOÀN CẦU HOÁ
VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ
I. Khái niệm về toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế.
kinh tế đang là xu thế nổi bật nhất. Nhìn chung các định nghĩa thuộc loại này
xem toàn cầu hoá là một khái niệm kinh tế chỉ hiện tượng hay quá trình hình
thành thị trường toàn cầu làm tăng sự tương tác và tuỳ thuộc lẫn nhau giữa
các nền kinh tế quốc gia
Về cơ bản, toàn cầu hoá bao hàm sự tăng lên của thị trường chức năng
thế giới không ngừng xâm nhập và lấn át các nền kinh tế quốc gia đang trong
quá trình mất đi đặc tính quốc gia. Charles p oman định nghĩa toàn cầu hoá
là:” sự tăng lên, hoặc một cách chính xác hơn là sự tăng ngày càng nhanh của
các hoạt động kinh tế vượt ra khỏi biên giới giữa các quốc gia và các khu
vực”. Như vậy, thực chất của toàn cầu hoá về kinh tế là tự do kinh tế và hội
nhập quốc tế, trước hết là về thương mại, đầu tư , dịch vụ.... tự do hoá kinh tế
cũng có những mức độ khác nhau, từ giảm thuế quan đến xoá bỏ thuế quan,
từ tự do thương mại đến tự do hoá đầu tư, dịch vụ, từ tự do hoá kinh tế trong
quan hệ hai bên đến nhiều bên, trong quan hệ khu vực đến toàn cầu.
Theo GT.TS Dương Phú Hiệp thì” toàn cầu hoá kinh tế chính là sự gia
tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vượt qua mọi biên giới quốc gia, khu
vực, tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong sự vận động phát
triển hướng tới một nền kinh tế thống nhất, sự gia tăng của xu thế này được
thể hiện sự mở rộng mức độ và quy mô mậu dịch thế giới, sự lưu chuyển của
các dòng vốn và lao động trên phạm vi toàn cầu”.
`1.2. Khái niệm về hội nhập kinh tế quốc tế.
a). Định nghĩa về hội nhập
Như vậy, quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá là một. Xu thế tất yếu
của các nước, khi trình độ lực lượng sản xuất đã phát triển cao , khi đó cần
phải có sự hợp tác quốc tế và quốc tế hoá sản xuất. Các quốc gia dù muốn hay
không đều chịu tác động của quá trình toàn cầu hoá và đương nhiên để tồn tại
3
châu á- thái bình dương- APEC). Những định chế, tổ chức toàn cầu bao gồm
các thành viên từ nhiều khu vực khác nhau trên thế giới
II. Các nhân tố thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá kinh tế.
2.1. Sự phát triển của khoa học- công nghệ.
Đây là nhân tố quan trọng nhất và xuyên suốt các thời kỳ phát triển của
quá trình toàn cầu hoá. Vì bản chất của toàn cầu hoá là kết quả của sự phát
triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất. Như vậy thì suy cho cùng thì toàn
cầu hoá là kết quả của sự phát triển của lực lượng sản xuất mà nó luôn gắn
liền với sự phát triển của khoa học công nghệ nhưng sự phát triển của lực
lượng sản xuất phải đạt đến một trình độ nhất định. Khi mà bắt buộc phải có
sự hợp tác quốc tế và chuyên môn hoá sản xuất, khi mà sự tiến bộ của phương
tiện giao thông làm cho thế giới bị thu nhỏ lại về không gian và thời gian. Sự
phát triển đó phá vỡ kinh tế tự cấp tự túc. mở rộng thị trường giao lưu, trao
đổi hàng hoá không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn diễn ra trên thị trường
khu vực và thế giới. Lúc này , nhu cầu tiêu dùng của dân cư không chỉ đáp
ứng bằng năng lực sản xuất của từng quốc gia riêng lẻ mà còn được cung cấp
từ các nước khác trên thế giới và khu vực.
Những tiến bộ của khoa học- kỹ thuật và công nghệ bao gồm những
phát minh sáng chế, các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, các giống mới, các
phương pháp công nghiệp hiện đại, các lý thuyết và phương thức quản lý mới
trong mọi lĩnh vực được áp dụng vào trong thực tiễn, kinh doanh làn tăng
năng suất lao động tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm thặng dư cho xã hội với
giá rẻ hơn, tạo ra tiền đề thúc đẩy sự hình thành và phát triển sự phân công,
chuyên môn hoá lao động sản xuất và kinh doanh theo ngành nghề, cùng lãnh
thổ giữa các quốc gia. nhờ đó, sự trao đổi quốc tế về hàng hoá, dịch vụ, vốn,
lao động và tri thức ngày một tăng.
Hiện nay, dưới tác động của cuộc cách mạng về công nghệ thông tin,
một mô hình kinh tế đã hình thành. Đó là mô hình kinh tế tri thức trong đó tri
Sự gia tăng của thương mại quốc tế qua những chỉ số cơ bản như tăng
tổng giá trị tuyệt đối của thương mại thế giới, tỷ lệ giữa tổng giá trị thương
6
mại và GDP của thế giới, khoảng cách giữa mức tăng thương mại thế giới và
tăng trưởng hàng năm.
Đầu tư trực tiêp nước ngoài và di chuyển tư bản giữa các nước tăng
nhanh.
Sự gia tăng của các luồng lưu chuyên công nghệ và phân công giữa các
nước thể hiên qua số lượng người làm việc được lưu chuyển giữa các nước và
mức tăng hàng năm của dòng lưu chuyển này. Sự trao đổi công nghệ thể hiện
qua các hợp đồng mua bán và dự án chuyển giao công nghệ cũng như tổng giá
trị của các hợp đồng , dự án đó.
3. Sự quốc tế hoá các hoạt động kinh doanh và vai trò của các công ty
xuyên quốc gia.
Sự quốc tế hoá hoạt động sản xuất kinh doanh không những là nguyên
nhân quan trọng trực tiếp gây ra quá trình toàn cầu hoá mà con là nhân tố thúc
đẩy các giai đoạn của quá trình. Chính sách mở cửa tự do hoá thương mại của
các nước đã làm cho các công ty có thể phân bố cơ cấu sản xuất trên toàn cầu
thông qua việc đầu tư nước ngoài. Nhờ các tiến bộ về khoa học công nghệ
thông tin, các công ty có thể bố trí những bộ phận khác nhau của dây chuyên
sản xuất ở các nước mà vẫn quản lý được. Về thực chất, sự quốc tế hoá các
hoạt động sản xuất chẳng qua là sự mở rộng quy mô sản xuất trên phạm vi
toàn cầu nhưng tại sao lại phải mở rộng phạm vi sản xuất ở các nước bởi vì có
thể tận dụng nguồn nguyên nhiên vật liệu các nước và giúp các nước chuyên
môn hoá sâu hơn qua đó giảm giá thành và tăng sức cạnh tranh của các sản
phẩm. Đồng thời có thể mở rộng thị trường ở các nước này. Khi các công ty
này mở chi nhánh ở các nước thì việc làm , vốn công nghệ và kỹ năng cũng
quốc gia có thế lực kinh tế rất to lớn, họ có ảnh hưởng không nhỏ quá trình
quyết sách ở các nước, đặc biệt là đối với những chính sách kinh tế- xã hội có
ảnh hưởng tới lợi ích của các công ty xuyên quốc gia, tác động này có thể tích
cực và cũng có thể tiêu cực đối với các nước trong quá trình tự do hoá mở
cửa.
8
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA NGÀNH
DỆT MAY SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO
2.1. Một vài chính sách của đảng và nhà nước đối với ngành dệt may
a). Chính sách về bảo hộ hàng sản xuất trong nước
Do tinh trạng thiết bị cũ , nhiều năm chưa được đổi mới lại thêm công
nghệ lạc hậu nên sản phẩm sản xuất ra chỉ đạt mức trung bình, đáp ứng một
phần nhu cầu bình thường của người dân. Trong khi đó các nước khác với
máy moc hiện đại và công nghiệp tiên tiến đã sản xuất ra rất nhiều loại vải có
mẫu mã đẹp ,chất lượng cao , sẵn sàng tràn vào thị trường việt nam để lũng
đoạn thị trường. Trước sức ép của hàng ngoại nhập vào nước ta có thể đánh
đổ hàng Dệt may trong nước , Nhà nước có chủ trương bảo vệ hàng nôịi địa.
Chính sách bảo vệ hàng dệt may nội địa được thực hiện qua các biện pháp
chính sau đây:
- Lập hàng rào thuế quan đối với hàng ngoại nhập.
- Sử dụng hạn ngạch để hạn chế số lượng .
- Tăng cường các biện pháp quản lý thị trường nhằm hạn chế đến mức
tối thiểu hàng nhập lậu qua biên giới trên bộ và trên biển.
Với hàng rào thuế quan và hạn ngạch nhập khẩu , chúng ta đã bảo hộ
hàng sản xuất trong nước , nhưng không phải lúc nào cũng đạt kết quả mong
muốn . Với hàng ngàn con đường biên giới trên bộ và trên biển , nhất là khi
-Hầu hết các dự án đầu tư của các nước Đông á và các nước Đông Nam
á, Nhật Bản, Tây Âu và Bắc Mỹ chưa sẵn sàng đầu tư vào ngành Dệt Việt
nam.
-Đa phàn các thiết bị máy móc đưa vào hầu hết đã qua sử dụng. Đây là
một sự chuyển dịch của các nước NIC nhằm đổi mới công nghệ hiện đại tại
chính quốc, ận dụng giá trị sử dụng còn lại của thiết bị và khai thác nhân công
rẻ tai Việt Nam.
Rõ ràng trong lĩnh vực thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào ngành Dệt
may, chúng ta gạp phải một mâu thuẫn. Đó là mâu thuẫn giữa ý muốn chủ
10
quan đưa nhanh ngành Dệt trở thành ngành công nghiệp chủ lực có máy móc
thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến và vốn đầu tư thiếu. Chấp nhân đưa thiết
bị cũ vào Việt Nam, ngành Dệt may nước ta tiếp tục đi sau ngành Dệt may thế
giới nhưng trong điều kiện nền kinh tế chưa phát triển người lao động chưa có
đủ việc làm thì chung ta phải tạm thời chấp nhận ở mức độ nhất định.
2.2 Định hướng phát triển ngành dệt may
a). Giải pháp về thị trường
Thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa là nguồn đầu ra của qua trình sản
xuất kinh doanh, thị trường là vấn đề hết sức quan trọng mang tính sống còn
của mỗi doanh nghiệp vì nó đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp. Để nâng cao hiệu qủa hoạt động sản xuất kinh doanh hàng may mặc
trước tiên là phải nghiên cứa tìm hiểu thị trường tiêu thụ một cách chu đáo.
Hoạt động nghiên cứa thị trường đòi hỏi phải nắm bắt được những thông tin
thiết yếu về nhu cầu, khả năng tiêu thụ cũng như các điều kiện xâm nhập thị
trường của hàng Dệt – May. Từng bước củng cố, mở rộng các thị trường
truyền thống ( Khối Đông Âu, Nga…) đồng thời tích cực tìm mọi cách xâm
nhập, chiếm lĩnh các thị trường tiểm năng mới như Nhật, Mỹ, Châu Á…
Trước mắt, để tăng tỷ trọng xuất khẩu hàng Dệt – May cần phải tập trung vào
năm nhưng có sự chênh lệch lớn giữa thu nhập của người dân thành thị và
nông thôn. Những người dân thành thị có yêu cầu về hàng Dệt – May cao hơn
nhiều so với những người ở nông thôn và miền núi. Nghĩa là họ có thể mua
sắm quần áo hàng tháng, đặc biệt là vào các dịp lễ tết. Ngược lại, người có
nhu cầu thấp hiện nay cũng thích xài hàng Dệt – May một mùa hợp với túi
tiền của họ. Điều này cho thấy tại sao hàng may mặc Trung Quốc cần rất ít
nguyên liệu, mẫu mã đẹp, rẻ lại tràn ngập thị trường Việt Nam. Hàng Dệt –
May Việt Nam lại chủ yếu xuất khẩu xuất chủ yếu sang thị trường EU, Nhật
Bản….. là những khách hàng rất kỹ tính với đòi hỏi cao về chất lượng. Nếu
có sai sót bị trả lại và bán trên thị trường nội địa thì không phải ai cũng có thể
mua được ngoại trừ tầng lớp có thu nhập cao và tương đối cao nên rất khó
tiêu thụ. Đó chính là hạn chế của nền kinh tế hướng về xuất khẩu.
12
Một số doanh nghiệp chú trọng sản xuất hàng xuất khẩu, bỏ rơi thị
trường nộiđịa trong khi điều kiện cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật còn lạc hậu,
tỷ lệ sản phẩm đủ tiêu chuẩn xuất khẩu thấp đã dẫn đến tình trạng làm ăn thua
lỗ. Đối với những sản phẩm may mặc cao cấp, lâu nay chúng ta vẫn mặc
“thừa” của các khách hàng nước ngoài, thị trường nội địa đang bị các nhà sản
xuất bỏ quên. Nhiều doanh nghiệp chỉ bán những sản phẩm không đạt tiêu
chuẩn xuất khẩu trên thị trường nội địa mà không có chiến lược phát triển thị
trường trong nước, điều đó làm uy tín của doanh nghiệp trên thị trường nội
địa bị giảm sút. Đó là do các hoạt động nghiên cứu thị trường còn yếu, không
chủ động xây dựng chiến lược mở rộng thị trường sản phẩm, không thường
xuyên nghiên cứu thiết kế mẫu, mốt nên không chủ động trong việc sản xuất
hàng cao cấp tiêu thụ trong nước. Mặt khác, do bộ máy đôi lúc còn quan liêu,
ỷ lại, khách hàng nước ngoài thường đặt với lô hàng lớn, có sẵn mẫu mã, chỉ
phải tính giá thành và thương lượng giá bán với khách hàng và sản xuất theo
dường như chưa có dấu hiệu chấm dứt trong những năm tiếp theo, ngành Dệt
- May phải có giải pháp để đối phó với tình hình này khi còn chưa muộn. Bản
thân các nhà hoạch định của ngành cũng đã khẳng định rằng làm gia công cho
nước ngoài khó có thể tăng thu nhập nếu không muốn nói là có nguy cơ giảm
dần và cũng không có tích lũy để đầu tư phát triển sản xuất trong nước. Chỉ
có con đường sản xuất sản phẩm toàn bộ cho xuất khẩu và thị trường trong
nước mới đem lại lợi ích cho ngành Dệt – May và người lao động. Những
người trực tiếp sản xuất cũng nhận thấy thời hoàng kim của gia công đang lụi
dần. Hầu hết các doanh nghiệp năng động trong nước đều có chung một mong
muốn là được xuất khẩu theo điều kiện FOB.
Ngay cả trong việc ủy thác gia công, nếu không tự cung ứng kịp thời
được nguyên liệu cho các mặt hàng trung và cao cấp cũng sẽ mất ưu thê cạnh
tranh đối vơí những nước có khả năng cung ứng nguyên liệu tại chỗ và đây
cũng chính là yếu điểm của ngành Dệt – May nên cũng dễ bị ép giá gia công
thấp hơn các nước khác như đã thấy trong mấy năm gần đây.
Trong các phương thức thanh toán với nguồn hàng và bạn hàng quốc tế,
các nhà kinh doanh hàng Dệt – May nên thực hiện các hình thức phù hợp với
các điều kiện linh hoạt dễ dàng trên cơ sở đôi bên cùng có lợi. Việc cung cấp
đối với nguồn cung cấp hàng, các nhà xuất khẩu nên tạo điều kiện thanh toán
đúng hạn với các phương thức thỏa thuận hợp lý giữa đôi bên, thậm chí nếu
14
có cơ sở cung ứng gặp khó khăn về tài chính thì có thể ứng vốn trước để họ
sản xuất hàng. Việc thiết lập các thủ tục thanh toán đơn giản, gọn nhẹ sẽ tạo
điều kiện cho các nhà sản khẩu chuẩn bị đầy đủ và kịp thời các mặt hàng xuất
khẩu, đảm bảo thực hiện đúng hợp đồng xuất khẩu, tạo lập uy tín đối với
khách hàng, đồng thời duy trì được nguồn cung ứng hàng khan hiếm.
b). Giải pháp về cơ cấu sở hữu
Đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần,vận hành trong cơ chế thị
Dệt – May ở quy mô nhỏ.
Hiện tại, ngành công nghiệp Dệt – May Việt Nam dang trong xu hướng
tiếp nhận sự chuyển dịch từ các nước phát triển hơn trong khu vực và trên thế
giới. Đối tượng trực tiếp của sự chuyên dịch này, trước hết các doanh nghiệp
Nhà nước ( các doanh nghiệp Nhà nước có ưu thế hơn các doanh nghiệp ở các
thành phần kinh tế khác là hạ tầng cơ sở tốt hơn và có diện tích lớn hơn, nên
khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài dưới hình thức liên doanh nhiều hơn),
sau đó mới đến các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế khác.
Chính vì vậy, song song với quá trình tiếp nhận thiết bị và công nghệ
mới, cần phải chuyển dịch tốt quá trình chuyển giao thiết bị và công nghệ bao
gồm cả phần cứng và phần mềm từ các doanh nghiệp nhà nước sang các
doanh nghiệp nhỏ của các thành phần kinh tế khác, có như vậy sẽ tạo nên một
hệ thống công nghệ nhiều tầng, nhiều trình độ, có khả năng phục vụ được mọi
nhu cầu của mọi đối tượng trong xã hội.
Sản xuất trong công nghiệp Dệt – May không thích hợp với mô hình sản
xuất lớn, do đó về lâu dài cần nghiên cứu để có bước đi thích hợp trong việc
chuyển sang các thành phần phi quốc doanh. Đã đến lúc cần tìm lời giải đáp
cho câu hỏi: Nhà nước có cần thiết duy trì một lượng vốn quá lớn cho sự phát
triển của ngành Dệt- May như hiện nay hay không hay nhường dần cho các
thành phần kinh tế khác? Thay vào đó, Nhà nước sẽ tập trung vào việc phát
triển những ngành làm cơ sở cho công nghiệp Dệt – May phát triển tốt như
Điện, cơ khí, hóa chất......
16
Đa dạng hóa các loại hình sở hữu cũng là một tronh những giải pháp về
vốn quan trọng mà ngành Dệt – May cần thực hiện để đẩy nhanh quá trình
công nghiệp hóa- hiện đại hóa ngành kỹ thuật này.
2.3 Giải pháp về thiết bị công nghệ
– May được thực hiện theo các phương thức đa dạng và có hiệu quả.
Nhằm thực hiện mục tiêu phát triển ngành Dệt – May như đã đề ra, việc
đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ của ngành Dệt – May cần quán triệt cac
quan điểm chủ yếu:
•Đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ ngành Dệt – May phải nhằm đưa
công nghệ Dệt – May trở thành ngành mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân.
Ngành Dệt- May phải phát triển với quy mô lớn và đạt trình độ tiên tiến, đủ
sức hòa nhập với nền kinh tế thế giới. Phát triển công nghiệp Dệt phải gắn
liền với công nghiệp May nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp góp phần thúc đẩy
công nghiẹep hóa – hiện đại hóa.
•Đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ trong ngành Dệt – May phải thực
hiện theo hướng: Nâng cao trình độ công nghệ sẩn xuất, nhờ đó mà tăng sản
lượng, tăng năng suất lao động, tăng chất lượng sản phẩm; Đa dạng hóa sản
phẩm, tạo ra nhiều sản phẩmđại diện cho kỹ thuật mới, có hiệu quả kinh tế xã
hội cao; Kết hợp đầu tư chiều sâu và chiều rộng, trong đó chủ yếu coi trọng
đầu tư chiều sâu, áp dụng công nghệ nhiều trình độ, trong đó các doanh
nghiệp Nhà nước phải đi vào kỹ thuật, công nghệ hiện đại.
•Đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ là sự nghiệp của doanh nghiệp, do
doanh nghiệp tự quyết định việc lựa chọn hướng va ftrình độ đổi mới, tự lo
vốn và tự tổ chức việc đổi mới. Nhưng Nhà nước đống vai trò quan trọng
trong việc khuyến khích đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ như có chính sách
ưu đãi miễn giẩm thuế, chú trọng đào tạo cán bộ, cấp kinh phí hoặc hỗ trợ
kinh phí cho các đề tài có ý nghĩa kinh tế quốc dân.
•Đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội của đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ.
Đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ trong ngành Dệt – May liên quan đến
những vấn đề như tỗc độ tăng trưởng, năng suất, chất lượng, giá cả sản phẩm,
khả năng cạnh tranh của sản phẩm,lượng vốn, cơ chế huy động và sử dụng
18
chứng là những thành tựu đã đạt được sau 15 năm đổi mới. Hội nhập kinh tế
quốc tế với các quốc gia trên thế giới là một đòn bẩy tốt để tạo bước nhảy vọt
về kinh tế nếu biết lợi dụng nó, đất nước sẽ dần dần đuổi kịp và vượt lên trên
các nước khác trở thành một con rồng của châu á, nhân dân ta ai ai cũng có
cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành, đât nước ta sẽ sánh vai với các cường
quốc năm châu đúng như nguyện vọng của Bác Hồ khi sinh thời. Ngành công
nghiệp Dệt may là một ngành có truyền thống từ lâu ở Việt Nam. Đây là một
ngành quan trọng trong nền kinh tế của nước ta vì nó phục vụ nhu cầu thiết
yếu của con người, là ngành giải quyết được nhiều việc làm cho xã hội và đặc
biệt nó là ngành có thế mạnh trong xuất khẩu, tạo điều kiện cho kinh tế phát
triển, góp phần cân bằng cán cân xuất nhập khẩu của đất nước.Trong quá
trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá hiện nay, ngành Dệt may đang chứng tỏ
là một ngành mũi nhọn trong nền kinh tế được thể hiện qua kim ngạch xuất
khẩu liên tục tăng trong mấy năm gần đây, các thị trường luôn được rộng
mở,số lao động trong ngành ngày càng nhiều và chiếm tỷ trọng lớn trong các
ngành công nghiệp, giá trị đong góp của ngành vào thu nhập quốc dân… Tuy
nhiên trong quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế và những biến động của
môi trường kinh tế , ngành Dệt may đang đứng trước những khó khăn và
thách thức mới cho sự phát triển.
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Kinh tế Thương mại
- GS.TS. Đặng Đình Đào
- GS.TS. Hoàng Đức Thân
2. Giáo trình Kinh tế quốc tế - PGS.TS. Trần Chí Thành
3. Thời báo Kinh tế Việt Nam
4. Tạp chí Thành Đạt số 4/2006