1
Luận văn
Hoàn thiện pháp luật về bán đấu
giá
tài sản ở Việt Nam hiện nay
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta bán đấu giá tài sản với tư cách là một chế định pháp lý đã ra
đời rất sớm và ngày càng khẳng định vai trò của nó trong đời sống xã hội theo
yêu cầu đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế. Với những quy định tại Nghị
định số 05/2005/NĐ-CP ngày 18 tháng 01 năm 2005 của Chính phủ về bán
đấu giá tài sản và một số văn bản luật có liên quan như: Luật Đất đai 2003,
Bộ Luật Dân sự 2005, Luật Thương mại, Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm,
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2007,
năm 2008), Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 được ban hành và có
hiệu lực thi hành trong những năm gần đây đã chứa đựng nhiều tư duy pháp
lý mới đáp ứng yêu cầu Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm
2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong
thời gian tới”(gọi tắt là Nghị quyết số 08-NQ/TW), Nghị quyết số 48 NQ/TW
ngày 24 tháng5 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn
thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến 2010, định hướng đến năm 2020 (gọi
tắt là Nghị quyết số 48 NQ/TW) và Nghị quyết số 49 NQ/TW ngày 02 tháng
6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến 2020 (gọi tắt
là Nghị quyết 49 NQ/TW).
Trong cơ chế thị trường, mọi loại tài sản được mua bán ở thị trường
đều được coi là hàng hóa nhưng không phải tất cả loại tài sản đều có thể được
đem bán đấu giá. Dựa trên khả năng tham gia giao dịch của tài sản, có thể
nhất bằng giá khởi điểm và được coi là đã chấp nhận giao kết hợp đồng mua
bán tài sản.
Pháp luật về bán đấu giá tài sản là toàn bộ những quy phạm pháp luật
điều chỉnh lĩnh vực bán đấu giá tài sản bao gồm những quy định về nguyên
tắc, thủ tục bán đấu giá tài sản, người bán đấu giá tài sản và quản lý nhà nước
đối với hoạt động bán đấu giá tài sản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
4
ban hành. Song trong thực tiễn từ đổi mới đến nay pháp luật bán đấu giá tài
sản vẫn còn một số bất cập trước áp lực của xu thế hội nhập của các tổ chức
kinh tế khu vực và quốc tế cũng như còn chồng chéo, mâu thuẫn với hệ thống
pháp luật trong nước luôn được sửa đổi để hoàn thiện cho phù hợp với thực
tiễn. Theo đánh giá tại Chỉ thị số 18/2006/CT-TTg ngày 15 tháng 5 năm 2006
của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực hiện Nghị định số
05/2005/NĐ-CP ngày 18 tháng 01 năm 2005 về bán đấu giá tài sản thì tại
nhiều địa phương một số quy định của Nghị định số 05/2005/NĐ-CP vẫn
chưa được thực hiện hoặc thực hiện chưa nghiêm, chưa thống nhất dẫn đến
tình trạng chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan quản lý nhà
nước. Hiệu lực quản lý nhà nước đối với các tổ chức hoạt động bán đấu giá tài
sản tại địa phương chưa cao ảnh hưởng đến việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền lợi của cá nhân, tổ chức tham gia bán đấu giá tài sản.
Do đó, để khắc phục những hạn chế thiếu sót của hệ thống pháp luật về
bán đấu giá tài sản cần phải tiến hành nghiên cứu rà soát, điều chỉnh, bổ sung,
ban hành các văn bản mới có giá trị pháp lý cao nhằm hoàn thiện, tạo khuôn
khổ pháp lý đồng bộ, thống nhất toàn diện bảo đảm cho hoạt động bán đấu giá
tài sản thông thoáng đem lại những giá trị lợi ích cao nhất, văn minh nhất cho
cá nhân, tổ chức có tài sản bán đấu giá và lợi ích cho Nhà nước, cho xã hội,
đặc biệt là trong điều kiện thực hiện chủ trương cải cách hành chính và xã hội
hóa mạnh mẽ hoạt động bán đấu giá. Vì vậy, với những lý do trên thì việc
nghiên cứu và viết luận văn này.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận thực trạng pháp luật bán đấu giá tài sản ở
Việt Nam luận văn đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật bán đấu
giá tài sản ở Việt Nam đến năm 2020.
Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện mục đích đã nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
6
- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật
bán đấu giá tài sản ở Việt Nam thời kỳ đổi mới đến nay.
- Xác lập quan điểm và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
bán đấu giá tài sản ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn
liên quan đến đề tài hoàn thiện pháp luật bán đấu giá tài sản ở Việt Nam như:
khái niệm, đặc điểm, nội dung pháp luật bán đấu giá tài sản, vai trò, các yêu
cầu và tiêu chí hoàn thiện pháp luật bán đấu giá tài sản, qúa trình hình thành
và thực trạng pháp luật bán đấu giá tài sản, những quan điểm và giải pháp
hoàn thiện hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu hệ thống văn bản pháp luật về bán đấu
giá tài sản ở nước ta chủ yếu trong thời kỳ đổi mới cho đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, những cơ sở lý luận của Đảng cộng
8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BÁN ĐẤU
GIÁ TÀI SẢN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG CỦA PHÁP LUẬT BÁN ĐẤU
GIÁ TÀI SẢN
1.1.1. Khái niệm bán đấu giá tài sản và pháp luật bán đấu giá tài sản
- Khái niệm về bán đấu giá tài sản:
Theo từ điển Luật học do Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp xuất bản
năm 2006, trang 31 có nêu: Bán đấu giá tài sản là hình thức bán công khai
một tài sản, một khối tài sản; theo đó có nhiều người muốn mua tham gia trả
giá, người trả giá cao nhất nhưng không thấp hơn giá khởi điểm là người mua
được tài sản. Theo quy định của pháp luật, người bán đấu giá là: doanh nghiệp
bán đấu giá tài sản; trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản; hội đồng bán đấu
giá tài sản.
Người bán đấu giá có nghĩa vụ: tổ chức việc bán đấu giá tài sản theo
nguyên tắc và thủ tục quy định của pháp luật; niêm yết , thông báo công khai,
đầy đủ, chính xác các thông tin cần thiết có liên quan đến tài sản bán đấu giá;
bảo quản tài sản bán đấu giá khi được người có tài sản giao bảo quản hoặc
quản lý; trưng bày, cho xem và cho tham khảo hồ sơ tài sản bán đấu giá; giao
tài sản bán đấu giá được giao bảo quản hoặc quản lý cho người mua được tài
sản bán đấu giá; yêu cầu người có tài sản bán đấu giá giao tài sản cho người
mua được tài sản bán đấu giá trong trường hợp người có tài sản bán đấu giá
đang trực tiếp quản lý tài sản đó; cung cấp đầy đủ các giấy tờ liên quan đến
tài sản bán đấu giá cho người mua được tài sản bán đấu giá; thanh toán cho
người có tài sản bán đấu giá số tiền bán tài sản sau khi trừ các chi phí bán đấu
giá theo quy định của pháp luật; thực hiện chế độ kế toán, tài chính theo quy
trung thực, bình đẳng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia.
10
Về các loại tài sản bán đấu giá, tại điều 5 của Nghị định có quy định cụ
thể đó là: tài sản để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án; tài
sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung quỹ nhà
nước theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; tài sản bảo
đảm theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm; tài sản thuộc sở hữu
của cá nhân, tổ chức có yêu cầu bán đấu giá tài sản; hàng hóa lưu giữ do
người vận chuyển đường biển, đường hàng không, đường bộ lưu giữ tại Việt
nam; tài sản nhà nước phải bán đấu giá theo quy định của pháp luật về quản lý
tài sản nhà nước.
So với quy định tại Nghị định số 86/CP ngày 19 tháng 12 năm 1996
của Chính phủ ban hành Quy chế bán đấu giá tài sản thì tại điều 2 Quy chế
kèm Nghị định trên quy định: Bán đấu giá là hình thức bán tài sản công khai
mà có nhiều người muốn mua tham gia trả giá theo thủ tục được quy định tại
Quy chế này; Người trả giá cao nhất và ít nhất bằng giá khởi điểm là người
được mua tài sản bán đấu giá đó; Người bán đấu giá là Trung tâm dịch vụ bán
đấu giá do Sở Tư pháp trực tiếp quản lý hoặc các tổ chức kinh doanh dịch vụ
bán đấu giá chuyên nghiệp do Sở Tư pháp quản lý về nghiệp vụ; Người bán
tài sản là chủ sở hữu về tài sản hoặc là người được chủ sở hữu ủy quyền bán
hoặc là người có quyền bán tài sản của người khác theo quy định của pháp
luật; Người tham gia đấu giá là cá nhân, tổ chức; Người điều hành bán đấu giá
là người do người bán đấu giá cử ra để điều hành cuộc bán đấu giá; Tài sản
bán đấu giá có thể là động sản hoặc bất động sản được phép giao dịch. Tại
điều 3 của Nghị định quy định nguyên tắc bán đấu giá đó là, việc bán đấu giá
tài sản thực hiện theo nguyên tắc trực tiếp công khai, trung thực bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của các bên tham gia.
Trong Bộ luật Dân sự năm 2005 tại mục 1, phần III Chương XVIII có
trên và Nghị định số 05/2005/NĐ-CP, cụ thể là cơ quan có thẩm quyền xử lý
12
tài sản phải ký hợp đồng ủy quyền bán đấu giá với tổ chức có chức năng bán
đấu giá tài sản.
Tóm lại, khái niệm về bán đấu giá tài sản ở nước ta từ khi đổi mới đến
nay ngày càng được quy định rõ ràng cụ thể, dễ hiểu.Tại khoản 1 Điều 2 Nghị
định số 05/2005/ NĐ - CP có quy định: Bán đấu giá tài sản là hình thức bán
tài sản công khai, có từ hai người trở lên tham gia đấu giá theo nguyên tắc và
thủ tục được quy định tại Nghị định này. Song mặt hạn chế của khái niệm về
bán đấu giá là chưa bao quát hết các nội dung của hoạt động này. Chẳng hạn
như thế nào là tài sản để bán đấu giá, theo quy định tại điều 163 Bộ luật Dân
sự năm 2005 thì tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.
Mặt khác điều 174, chương XI Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định các loại tài
sản là bất động sản và động sản có nêu bất động sản là các loại tài sản bao
gồm: đất đai; nhà , công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản
gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; các tài sản khác gắn liền với đất đai;
các tài sản khác do pháp luật quy định. Động sản là những tài sản không phải
là bất động sản; điều 181 Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng quy định quyền tài
sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân
sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ.
Trong khi đó theo quy định tại điều 5 của Nghị định số 05/2005/NĐ-CP
thì các loại tài sản bán đấu giá chỉ bao gồm: Tài sản để thi hành án theo quy
định của pháp luật về thi hành án; tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm
hành chính bị tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định của pháp luật về xử
lý vi phạm hành chính, tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về giao
dịch bảo đảm; tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức có yêu cầu bán đấu
giá tài sản; hàng hóa lưu giữ do người vận chuyển đường biển, đường hàng
không, đường bộ lưu giữ tại Việt nam; tài sản nhà nước phải bán đấu giá theo
tiết kiệm, vận đơn thì người xử lý tài sản có quyền xử lý ngay (khoản 2 điều
61, điều 62).
14
Theo Nghị định số 46/2006/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2006 của
Chính phủ về xử lý hàng hóa do người vận chuyển lưu giữ tại cảng biển Việt
Nam, thì hàng hóa bị lưu giữ là hàng hóa do người vận chuyển bằng đường
biển lưu giữ tại cảng biển Việt Nam để bảo đảm việc thanh toán tiền cước vận
chuyển, tiền bồi thường do lưu tàu và các khoản chi phí khác liên quan đến
việc vận chuyển hàng hóa bằng đường biển. Người lưu giữ là người vận
chuyển có quyền lưu giữ hàng hóa khi có căn cứ làm phát sinh quyền lưu giữ
hàng hóa và người lưu giữ có quyền bán đấu giá hàng hóa bị lưu giữ sau sáu
mươi ngày, kể từ ngày tàu biển đến cảng trả hàng nếu những ngườicó lợi ích
liên quan không thanh toán đủ các khoản nợ hoặc không có bảo đảm cần thiết
khác và sau khi người lưu giữ đã thực hiện thông báo lưu giữ hàng hóa. Trong
trường hợp hàng hóa bị lưu giữ thuộc loại mau hỏng, có khả năng gây ô
nhiễm môi trường, có ảnh hưởng tới quốc phòng an ninh hoặc việc ký gửi
hàng hóa bị lưu giữ quá tốn kém so với giá trị thực tế của hàng hóa thì người
vận chuyền có quyền căn cứ theo tính chất đặc điểm tự nhiên của hàng hóa và
khả năng tài chính của mình để xử lý hàng hóa bị lưu giữ sớm hơn thời gian
quy định nhưng vẫn phải thực hiện các công việc thông báo lưu giữ hàng hóa.
Hàng hóa bị lưu giữ thuộc loại cấm nhập khẩu hoặc cấm lưu thông trên lãnh
thổ Việt Nam được xử lý theo quy định của pháp luật.
Người lưu giữ có quyền ký hợp đồng ủy quyền việc bán đấu giá
hàng hóa bị lưu giữ cho ngừơi bán đấu giá là doanh nghiệp bán đấu giá
tài sản, Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản hoặc hội đồng bán đấu giá
tài sản theo quy định tại các điều 34, 35, 36 và 37 của Nghị định số
05/2005/NĐ-CP. Thủ tục bán đấu giá hàng hóa bị lưu giữ được thực hiện
theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản (khoản 3 điều 5, điều
nhà nước…, việc quản lý sử dụng được thực hiện theo quy định của pháp
luật có liên quan như Luật Đất đai, Pháp lệnh dự trữ quốc gia, Luật Doanh
nghiệp nhà nước.
Việc bán tài sản nhà nước được thực hiện trong các trường hợp không
có nhu cầu sử dụng hoặc việc sử dụng không có hiệu quả.Việc bán tài sản nhà
nước được thực hiện công khai, theo cơ chế thị trường. Việc bán tài sản nhà
16
nước là trụ sở làm việc hoặc tài sản khác gắn liền với đất được thực hiện theo
quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Khái niệm về pháp luật bán đấu giá tài sản trong tiến trình hoàn thiện
hệ thống pháp luật là một lĩnh vực mới mẻ rất phức tạp.
Theo lý luận chung hệ thống pháp luật được hiểu là tập hợp tất cả các
quy phạm pháp luật, văn bản pháp luật tạo thành một cấu trúc tổng thể, được
phân chia thành các bộ phận có sự thống nhất nội tại theo những tiêu chí nhất
định như bản chất, nội dung, mục đích. Theo đó hệ thống pháp luật bao gồm
hệ thống cấu trúc bên trong và hệ thống cấu trúc bên ngoài.
Hệ thống cấu trúc bên trong là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối
liên hệ nội tại thống nhất với nhau, được phân chia thành các ngành luật, mỗi
ngành luật lại được tạo nên bởi một bộ phận các quy phạm pháp luật có sự
thống nhất nội tại, có chung đối tượng và phương pháp điều chỉnh. Trong mỗi
bộ phận quy phạm pháp luật lại được phân bổ thành những bộ phận nhỏ hơn
hợp thành các chế định pháp luật và mỗi chế định pháp luật lại được hình
thành từ các quy phạm pháp luật.
Hệ thống cấu trúc bên ngoài là tổng thể các văn bản quy phạm pháp
luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự luật định
nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản quan trọng. Hệ thống cấu trúc bên
ngoài được phân định thành các văn bản luật và văn bản dưới luật [10, tr.173].
Theo quan niệm này, pháp luật về bán đấu giá tài sản chưa phải là một ngành
định pháp luật nói chung còn chưa hợp lý nhất là về nội dung pháp luật, hình
thức pháp luật và tổ chức thực hiện của hệ thống pháp luật này.
Tuy nhiên, xem xét pháp luật về bán đấu giá trong mối quan hệ với các
ngành luật trong hệ thống pháp luật có thể đưa ra khái niệm pháp luật về bán
đấu giá tài sản như sau: Pháp luật về bán đấu giá tài sản là toàn bộ các quy
phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực bán đấu giá tài sản bao gồm những quy
định về nguyên tắc, thủ tục bán đấu giá tài sản, người bán đấu giá và quản lý
18
nhà nước đối với hoạt động bán đấu giá tài sản do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ban hành.
Điều cần thấy rằng, khung pháp luật về bán đấu giá tài sản ở nước ta
đang trong quá trình hình thành chưa thể tạo thành một trật tự pháp luật đầy
đủ và ổn định. Chưa có một văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao như Luật
để điều chỉnh và tổ chức hoạt động bán đấu giá tài sản nhằm đưa tổ chức và
hoạt động này ngày càng có hiệu quả hơn trong tiến trình cải cách hành chính,
cải cách tư pháp cũng như hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần tăng cường tính
công khai, minh bạch và phát huy được các lợi ích kinh tế do bán đấu giá tài
sản đem lại. Với ý nghĩa đó chúng ta cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về bán
đấu giá tài sản và các lĩnh vực pháp luật khác có liên quan.
Đặc điểm của pháp luật bán đấu giá tài sản
Nói đến đặc điểm của pháp luật bán đấu giá chính là muốn nói đến
những dấu hiệu đặc trưng để phân biệt pháp luật bán đấu giá với những quy
phạm pháp luật và văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành khác. Ở góc độ
này chúng ta thấy pháp luật về bán đấu giá có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, trước đổi mới và những năm đầu sau khi đổi mới và cho đến
nay số lượng văn bản pháp luật về bán đấu giá tài sản còn ít, chủ yếu là trong
lĩnh vực Dân sự, thi hành án dân sự và trong lĩnh vực xử lý vi phạm hành
chính. Đó là các quy định của Bộ luật dân sự năm 1995, Pháp lệnh thi hành án
đấu giá tài sản, Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản và Hội đồng bán đấu
giá tài sản.
Doanh nghiệp bán đấu giá tài sản được tiến hành kinh doanh dịch vụ
bán đấu giá tài sản khi có đủ các điều kiện sau đây: Có đăng ký kinh doanh
dịch vụ bán đấu giá tài sản; Có ít nhất một đấu giá viên; Có cơ sở vật chất bảo
đảm cho việc thực hiện bán đấu giá tài sản.
Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập và giao cho Sở
chuyên môn có chức năng quản lý nhà nước về công tác bán đấu giá tài sản ở
địa phương trực tiếp quản lý. Trung tâm là đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách
20
pháp nhân. Giám đốc Trung tâm phải là đấu giá viên. Trung tâm có nhiệm vụ
bán đấu giá tài sản để thi hành án, tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm
hành chính bị tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật. Ngoài
nhiệm vụ bán đấu giá các tài sản nói trên, Trung tâm có thể ký hợp đồng với
tổ chức, cá nhân có yêu cầu để bán đấu giá các loại tài sản khác.
Hội đồng bán đấu giá tài sản do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước
có thẩm quyền quyết định thành lập để tổ chức bán đấu giá tài sản của nhà
nước có giá trị dưới mười triệu đồng.
So sánh với pháp luật bán đấu giá một số nước đã nghiên cứu ở trên
cho thấy chủ thể bán đấu giá tài sản ở các nước này chủ yếu hoặc chỉ có
Doanh nghiệp bán đấu giá hoặc Công ty bán đấu giá.
Nội dung của pháp luật bán đấu giá tài sản
Nội dung của pháp luật bán đấu giá tài sản bao gồm nguyên tắc, trình
tự, thủ tục bán đấu giá, người bán đấu giá tài sản và quản lý nhà nước đối với
hoạt động bán đấu giá tài sản. Những nội dung trên đựơc pháp luật quy định
hoặc do thỏa thuận của các bên về quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý
được thể hiện bằng những hình thức cụ thể đó là Hợp đồng ủy quyền bán đấu
giá tài sản và của người mua được tài sản bán đấu giá. Đối với văn bản bán đấu
giá bất động sản thì phải có chứng nhận của công chứng viên nơi có bất động
sản. Quy định này phù hợp với pháp luật về đất đai và Luật nhà ở.
Chủ thể tham gia hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá tài sản gồm
một bên là trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản hoặc doanh nghiệp bán đấu
giá tài sản, bên kia là người mua được tài sản bán đấu giá.
Nội dung của hợp đồng này có các nội dung chủ yếu sau đây: Tên, địa
chỉ của người bán đấu giá tài sản; Họ, tên của người điều hành cuộc bán đấu
giá tài sản; Họ, tên, địa chỉ của người có tài sản bán đấu giá; Họ, tên, địa chỉ
của người mua được tài sản bán đấu giá; Thời gian, địa điểm bán đấu giá tài
sản; Tài sản bán đấu giá; Giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá; Giá bán tài
22
sản; Thời hạn, phương thức, địa điểm thanh toán tiền mua tài sản đã bán đấu
giá; Thời hạn, địa điểm giao tài sản đã bán đấu giá cho người mua được tài
sản bán đấu giá; Trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ của các bên [9, tr.9].
Sự khác nhau giữa hợp đồng uỷ quyền bán đấu giá và hợp đồng bán
đấu giá tài sản ở các chủ thể tham gia của hai hợp đồng này là khác nhau, hai
hợp đồng này là hai hợp đồng tách biệt. Tuy nhiên, có thể thấy rằng, hợp đồng
uỷ quyền bán đấu giá tài sản là hợp đồng gốc, khi các bên thực hiện các
quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng này thì sẽ dẫn đến hợp đồng thứ hai là hợp
đồng mua bán tài sản bán đấu giá. Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá cần
phải chuyển cho người có tài sản để họ biết và làm các thủ tục chuyển giao tài
sản cho người mua được tài sản bán đấu giá. Trong trường hợp tài sản bán
đấu giá là bất động sản thì văn bản bán đấu giá tài sản còn được gửi cho cơ
quan thuế.
Tuy nhiên, tùy theo các loại tài sản được đưa ra bán đấu giá mà có thể
có hợp đồng uỷ quyền bán đấu giá hoặc hợp đồng bán đấu giá tài sản. Đối với
trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc
hướng dẫn theo thẩm quyền việc sử dụng các mẫu văn bản, giấy tờ trong lĩnh
vực bàn đấu giá tài sản, Sổ đăng ký bán đấu giá tài sản. Kiểm tra, thanh tra về
tổ chức và hoạt động bán đấu giá tài sản theo thẩm quyền. Tổng hợp và hàng
năm báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tổ chức và hoạt động bán đấu giá tài
sản. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bán đấu giá tài sản. Thực hiện các nhiệm
vụ, quyền hạn khác được Chính phủ giao.
Bộ Tài chính có nhiệm vụ, quyền hạn hướng dẫn về chế độ tài chính
trong hoạt động bán đấu giá tài sản. Hướng dẫn, kiểm tra việc chuyển giáo tài
sản Nhà nước để bán đấu giá. Hướng dẫn việc xác định giá khởi điểm của tài
sản bán đấu giá là tài sản nhà nước. Hướng dẫn chung về mức thu, việc quản
lý, sử dụng phí đấu giá thuộc nguồn thu của ngân sách Nhà nước theo quy
định của pháp luật về phí, lệ phí.
24
Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý hoạt
động bán đấu giá tài sản tại địa phương có nhiệm vụ, quyền hạn quyết định
thành lập Trung tâm; bổ nhiệm, miễn nhiệm Giám đốc Trung tâm. Bảo đảm
biên chế, cơ sở vật chất và phương tiện làm việc cho Trung tâm. Quy định cụ
thể về mức phí đấu gía tại địa phương căn cứ vào quyết định của Hội đồng
Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Kiểm tra, thanh tra về tổ
chức và hoạt động bán đấu giá tài sản trong phạm vi địa phương theo thẩm
quyền.
Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện chức năng quản lý nhà nước
về công tác bán đấu giá tài sản tại địa phương theo quy định của Nghị định số
171/2004/NĐ-CP ngày 29/9/2004 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ
quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương. Sở Tư pháp có nhiệm vụ, quyền hạn sau: Phối hợp với Sở Nội vụ trình
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Đề án thành
Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về bán đấu giá tài sản bắt nguồn từ yêu
cầu thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về hoàn thiện hệ thống
pháp luật, cải cách hành chính và cải cách tư pháp.
Có thể nói rằng trong những năm gần đây nhiều quan điểm của Đảng
về hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách hành chính và cải cách tư pháp đã
có cái nhìn đột phá làm chuyển biến các hoạt động trên rất mạnh mẽ. Kết quả
là trong hơn hai mươi năm đổi mới một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
đã được đổi mới về cơ bản với nhiều bộ luật, luật quan trọng, kịp thời thể chế
hóa đường lối, chủ trương của Đảng đảm bảo cho Nhà nước không chỉ có đủ
pháp luật để quản lý xã hội mà còn tham gia hội nhập kinh tế quốc tế trên
nhiều lĩnh vực và ngày càng sâu rộng. Nghị quyết 48-NQ/TW đã xác định rõ:
Hoàn thiện pháp luật nói chung không chỉ tạo lập và hoàn thiện cơ sở pháp lý
cho công cuộc cải cách hành chính, cải cách tư pháp; đảm bảo xây dựng một
nền hành chính dân chủ, sát dân, sát cơ sở, xóa bỏ mọi thủ tục phiền hà, dành