Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận công lý ở việt nam hiện đại - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THUỲ LINH

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TIẾP CẬN
CÔNG LÝ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THUỲ LINH

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TIẾP CẬN
CÔNG LÝ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số

: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TSKH ĐÀO TRÍ ÚC

Hà Nội – 2015

TIẾP CẬN CÔNG LÝ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY...................................... 9
1.1. KHÁI NIỆM CÔNG LÝ VÀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÔNG LÝ VÀ
PHÁP LUẬT ..................................................................................................... 9
1.1.1 Khái niệm công lý .................................................................................... 9
1.1.2. Mối quan hệ giữa công lý và pháp luật ................................................. 12
1.2. NỘI HÀM VÀ ĐẶC ĐIỂM QUYỀN TIẾP CẬN CÔNG LÝ ................ 14
1.2.1. Nội hàm quyền tiếp cận công lý............................................................ 14
1.2.2. Đặc điểm quyền tiếp cận công lý .......................................................... 16
1.3. NHỮNG BẢO ĐẢM PHÁP LÝ CHO QUYỀN TIẾP CẬN CÔNG LÝ 17
1.3.1. Hệ thống các quyền và nghĩa vụ công dân ........................................... 17
1.3.2. Hệ thống các cơ quan tƣ pháp ............................................................... 18
1.3.3. Năng lực tiếp cận công lý của công dân ............................................... 20
1.4. KHUNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TIẾP CẬN CÔNG LÝ ................. 21


1.4.1. Nội dung pháp luật về quyền tiếp cận công lý ...................................... 21
1.4.2. Cấu trúc của khung pháp luật về quyền tiếp cận công lý ..................... 28
1.5. TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HOÀN THIỆN CỦA PHÁP LUẬT
VỀ QUYỀN TIẾP CẬN CÔNG LÝ ............................................................... 35
1.5.1. Tính toàn diện ....................................................................................... 35
1.5.2. Tính đồng bộ, thống nhất ...................................................................... 36
1.5.3. Tính phù hợp và khả thi ........................................................................ 39
1.5.4. Tính hiệu lực ......................................................................................... 39
1.5.5. Tính tƣơng thích với các văn bản quốc tế về quyền tiếp cận công lý mà
Việt Nam đã tham gia, ký kết và phê chuẩn ................................................... 40
1.5.6. Tính hoàn thiện về mặt kỹ thuật............................................................ 41
1.6. KINH NGHIỆM ĐẢM BẢO QUYỀN TIẾP CẬN CÔNG LÝ Ở MỘT
SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI ................................................................. 42
1.6.1. Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tiếp cận công lý ............ 42
1.6.2. Hoạt động của một số cơ quan, tổ chức hỗ trợ pháp lý ........................ 48

3.2.1. Hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền đƣợc xét xử công bằng .............. 99
3.2.2. Hoàn thiện pháp luật về thủ tục hành chính tại Toà án....................... 101
3.2.3. Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của hệ thống Toà án các
cấp ................................................................................................................. 103
3.2.4. Hoàn thiện pháp luật về đảm bảo nguyên tắc xét xử độc lập của Thẩm
phán ............................................................................................................... 106
3.2.5. Hoàn thiện pháp luật về trợ giúp pháp lý và tƣ vấn pháp luật ............ 109
KẾT LUẬN .................................................................................................. 114
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 116


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TCN

: Trƣớc Công nguyên

UNDP

: Ủy ban về Đảm bảo pháp lý cho ngƣời nghèo

UDHR

: Tuyên ngôn thế giới về quyền con ngƣời năm 1948

ICCPR

: Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự, chính trị
năm 1966

ICESCR


BLTTHS

: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003

BLTTDS

: Bộ luật tố tụng dân sự 2004

VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao


MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Qua quá trình tổng kết lý luận và thực tiễn sau hơn 20 năm đổi mới, một
trong những nội dung đặc trƣng của Nhà nƣớc pháp quyền Xã hội chủ nghĩa
đã đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta thừa nhận là yêu cầu tôn trọng và bảo vệ quyền
con ngƣời, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi
ngƣời. Việc quan tâm và thúc đẩy quyền con ngƣời luôn là ƣu tiên của Đảng
và Nhà nƣớc ta, là nền tảng đƣợc phản ánh nhất quán và xuyên suốt trong mọi
chính sách, luật pháp của Nhà nƣớc Việt Nam. Trên cơ sở đó, Nghị quyết số
49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lƣợc Cải
cách tƣ pháp đến năm 2020 đã một phần hiện thực hoá nội dung đặc trƣng nói
trên với yêu cầu hệ thống tƣ pháp phải đƣợc hoàn thiện để hƣớng tới mục tiêu
bảo vệ công lý, lẽ phải, lẽ công bằng “ […] các cơ quan tư pháp phải thật sự
là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người […].
Đổi mới thủ tục hành chính trong các cơ quan tư pháp nhằm tạo điều kiện
thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý”. Điều này cho thấy quyết tâm của
Nhà nƣớc Việt Nam trong việc thiết lập, bảo đảm và thực hiện quyền tiếp cận
công lý cho mọi ngƣời dân trong bối cảnh Việt Nam đang xây dựng nhà nƣớc

phân xử hoặc phân xử không bằng con đƣờng tƣ pháp, và khi đó quyền tiếp
cận công lý không đƣợc đảm bảo trên thực tế, (iii) các quy định về thủ tục tƣ
pháp còn rƣờm rà, gây khó khăn cho ngƣời dân. Từ những hạn chế này, có thể
khẳng định yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về quyền tiếp cận
công lý là thiết thực và cấp thiết, đặc biệt là trong bối cảnh chúng ta đang xây
dựng Nhà nƣớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân với đòi hỏi tối thƣợng là
ghi nhận, bảo vệ, bảo đảm các quyền con ngƣời.
Nhƣ vậy, từ yêu cầu khách quan của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật
Việt Nam trong bối cảnh xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa
hiện nay, học viên đã chọn Đề tài “Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận
công lý ở Việt Nam hiện nay” để thực hiện Luận văn Thạc sỹ Luật học.
2


2. Tình hình nghiên cứu
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ
thống về lý luận hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về quyền tiếp cận
công lý cũng nhƣ thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền tiếp cận công lý.
Trên phạm vi quốc tế, các công trình nghiên cứu về quyền tiếp cận công
lý đã bắt đầu xuất hiện từ đầu những năm 1990. Các tổ chức quốc tế có rất
nhiều công trình, dự án nghiên cứu về quyền tiếp cận công lý dƣới nhiều khía
cạnh, góc độ nghiên cứu khác nhau, ví dụ nhƣ các nghiên cứu của Tổ chức
hợp tác phát triển quốc tế Thụy Điển (SIDA) [66], của Chƣơng trình phát
triển Liên hợp quốc (UNDP) [68;69;70;71], của Ngân hàng Thế giới (WB)
[63], của Chƣơng trình công lý quốc tế (WJP) [73],… Ngoài ra, các học giả
nƣớc ngoài cũng có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này nhƣ các công
trình của các học giả đến từ Đại học Harvard [66], Đại học Tilburg [63;64] và
nhiều nghiên cứu khác của các tác giả khác [65].
Tại Việt Nam, vấn đề quyền tiếp cận công lý còn khá mới mẻ. Đến nay,
chƣa có công trình nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về quyền tiếp

3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận của việc hoàn thiện pháp
luật về quyền tiếp cận công lý ở Việt Nam, Luận văn tập trung đánh giá pháp
luật về quyền tiếp cận công lý và việc thực hiện pháp luật về quyền tiếp cận
công lý ở Việt Nam hiện nay để từ đó đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện
pháp luật về quyền tiếp cận công lý ở Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ
Phù hợp với mục tiêu tổng quát trên, luận văn sẽ giải quyết các nhiệm vụ
cụ thể sau đây:

4


Một là, nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận của việc hoàn thiện
pháp luật về quyền tiếp cận công lý ở Việt Nam; khái quát hoá khái niệm, đặc
điểm, nội dung, vai trò của pháp luật về quyền tiếp cận công lý từ đó xây
dựng hệ thống tiêu chí hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận công lý.
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về quyền tiếp cận công
lý và việc thực hiện pháp luật về quyền tiếp cận công lý ở Việt Nam hiện nay;
các ƣu điểm và hạn chế, bất cập cũng nhƣ nguyên nhân của các hạn chế, bất
cập để đề xuất giải pháp khắc phục hiệu quả.
Ba là, đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp
cận công lý ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt là trong bối cảnh xây dựng Nhà
nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế nhằm góp phần vào
việc đổi mới căn bản, toàn diện hệ thống pháp luật ở Việt Nam nhằm thực
hiện thắng lợi Nghị quyết số 48-NQ/CP ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về
Chiến lƣợc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm
2020 và Nghị quyết số 49-NQ/CP ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến
lƣợc cải cách tƣ pháp.

thuyết hệ thống, phƣơng pháp so sánh, phƣơng pháp của khoa học thống kê.
Việc sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu trong luận văn cụ thể nhƣ
sau: (i) Phƣơng pháp thống kê, phân tích đƣợc sử dụng ở Lời mở đầu để tái
hiện bức tranh toàn cảnh về tình hình nghiên cứu liên quan đến Đề tài Luận
văn; (ii) Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, so sánh đƣợc sử dụng ở Chƣơng 1
nhằm làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung, vai trò của quyền tiếp cận công
lý; (iii) Phƣơng pháp thống kê, phân tích tài liệu đƣợc sử dụng ở Chƣơng 2 để
thấy rõ những ƣu điểm và các hạn chế, bất cập của pháp luật về quyền tiếp
cận công lý cũng nhƣ việc thực hiện pháp luật về quyền tiếp cận công lý ở
Việt Nam hiện nay; (iv) Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp đƣợc sử dụng trong
Chƣơng 3 để đảm bảo tính thuyết phục trong các lập luận. Ngoài ra, phƣơng

6


pháp của triết học Mác – Lênin đƣợc sử dụng ở tất cả các chƣơng để rút ra các
kết luận khoa học của luận văn.
6. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Luận văn có những đóng góp và điểm mới sau:
Một là, luận văn sẽ trình bày và phân tích các cách tiếp cận khác nhau
về khái niệm “quyền tiếp cận công lý”, sự hình thành và phát triển trong nhận
thức về tiếp cận công lý ở Việt Nam và trên thế giới. Trên cơ sở đó, đƣa ra
một định nghĩa tổng quát, phù hợp với phạm vi, thời điểm và mục đích nghiên
cứu của luận văn, đó là xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền
tiếp cận công lý ở Việt Nam hiện nay.
Hai là, luận văn phân tích các đặc điểm của pháp luật về quyền tiếp cận
công lý, nội dung của pháp luật về quyền tiếp cận công lý đồng thời làm rõ
vai trò của pháp luật vê quyền tiếp cận công lý. Ngoài các vai trò nhƣ pháp
luật chung, pháp luật về quyền tiếp cận công lý chính là cơ sở pháp lý quan
trọng để đảm bảo quyền làm chủ của ngƣời đối với những quyền con ngƣời,

thiện pháp luật về quyền tiếp cận công lý ở Việt Nam hiện nay. Các nhóm giải
pháp cơ bản đó là: (i) Sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành về quyền tiếp
cận công lý; (ii) Tăng cƣờng các điều kiện bảo đảm cho việc hoàn thiện pháp
luật về quyền tiếp cận công lý; (iii) Nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về
quyền tiếp cận công lý. Các nhóm giải pháp đƣợc đề xuất đều hƣớng đến mục
tiêu trọng tâm hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận công lý bảo đảm tính
toàn diện, đồng bộ, thống nhất, minh bạch với kỹ thuật pháp lý cao theo
hƣớng chuẩn hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm 03 Chƣơng, 11 tiết.

8


CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
QUYỀN TIẾP CẬN CÔNG LÝ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1. KHÁI NIỆM CÔNG LÝ VÀ MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÔNG LÝ
VÀ PHÁP LUẬT
1.1.1 Khái niệm công lý
Trong nền khoa học pháp lý thế giới, công lý (justice) là khái niệm có
nội hàm rộng, tuỳ thuộc vào từng nền văn hoá và từng giai đoạn phát triển của
xã hội trong lịch sử. Ngay từ thời cổ đại, các nhà triết học đã đƣa ra nhiều
định nghĩa khác nhau về công lý. Theo Plato, công lý là một khái niệm thể
hiện phẩm hạnh và sự hài hoà của cộng đồng, là kết quả của sự đồng tâm hợp
tác giữa những cá nhân có đức hạnh tham gia giải quyết các vấn đề của cộng
đồng và quốc gia. Công lý xuất phát từ sự hài hoà và nó hƣớng tới những
ngƣời khác thông qua những hành vi nhân hậu và tử tế [59]. Còn theo
Aristotle thì công lý là việc đối xử bình đẳng với những ngƣời ngang nhau và

Với tuyên bố “Công lý bùng nổ để bảo vệ kẻ yếu”, bộ luật Hammurabi đã áp
dụng triệt để nguyên tắc báo thù Talion, theo đó kẻ phạm tội sẽ phải chịu hình
phạt ngang bằng với thiệt hại đã gây ra. Tuy nhiên, cách hiểu về công lý này
có phần cực đoan.
Quan niệm về công lý cũng thay đổi theo truyền thống văn hóa của nơi
đó. Tại phƣơng Tây, công lý đã xuất hiện nhƣ một khát vọng về tự do, công
bằng, chính nghĩa. Ƣớc nguyện về những giá trị công lý chân chính trong thời
kỳ này đƣợc khắc hoạ rõ nét tại nhiều tác phẩm nổi tiếng nhƣ hình ảnh nữ
thần công lý Thémis trong thần thoại Hy Lạp [29] hay hình tƣợng bất hạnh
của nàng Antigone trong vở kịch Antigone của kịch gia Sophocle (496-406

10


TCN), nàng đã vì tình thƣơng, lẽ phải và đạo lý đã chống lại đạo luật cƣờng
quyền của vua Creon [15]. Theo quan niệm của ngƣời châu Phi, công lý là sự
ứng xử phù hợp với truyền thống của tiền nhân. Ở Ấn Độ, ngƣời Hindous coi
công lý là sự tôn trọng và chấp nhận trật tự, đẳng cấp trong xã hội.
Đến thời kỳ hiện đại, khái niệm công lý dần mang tính thực tiễn hơn.
Dựa trên luận đề căn bản “Công lý là công bằng” (Justice as fairness), John
Rawls (1921 - 2002) - một trong những triết gia Tây phƣơng về Triết học
chính trị hàng đầu của thế kỷ 20 trong tác phẩm “Học thuyết công bằng”
(1971) đã viết rằng: Công lý là đức hạnh thứ nhất cho các định chế xã hội
cũng như chân lý là của các hệ thống tư tưởng. Một lý thuyết dù có lộng lẫy
đến đâu nhưng nếu nó sai thì phải bị bác bỏ cũng như luât pháp và định chế
có hoàn chỉnh đến đâu cũng cần phải dẹp bỏ nếu nó là bất công. Cũng theo
Jonl Rawls, công lý là sự công bằng và công lý chính là chuẩn mực của một
xã hội lý tƣởng. Chuẩn mực của công bằng trong một thể chế xã hội cụ thể
chính là nguyên tắc phân chia quyền lợi và nghĩa vụ cho mỗi cá nhân. Theo
ông, công bằng chỉ có đƣợc khi con ngƣời tự nguyện cùng tham dự vào quá

nhận.
1.1.2. Mối quan hệ giữa công lý và pháp luật
Mối quan hệ biện chứng giữa công lý và pháp luật thể hiện ở những
điểm cơ bản sau:
Pháp luật giúp cho công lý được thực thi. Nếu không có pháp luật, công
lý sẽ không được bảo vệ, tuân thủ và thực thi trên thực tế. Dựa trên các yêu
cầu, đòi hỏi của công lý, pháp luật thể chế hoá chúng thành các nguyên tắc xử
sự chung có tính bắt buộc đối với mọi cá nhân. Ngƣời dân sẽ dựa trên các
nguyên tắc đó để vận dụng giải quyết các vấn đề cá nhân, bảo vệ các quyền
chính đáng của mình. Nhà nƣớc dựa trên các quy định của pháp luật để đem
lại công bằng, lẽ phải cho ngƣời dân, đặc biệt là các đối tƣợng yếu thế nhƣ
phụ nữ, trẻ em, ngƣời cao tuổi, ngƣời tàn tật, ngƣời dân tộc thiểu số,… Có thể

12


nói, nhờ có pháp luật mà công lý đƣợc bảo vệ, tuân thủ và thực thi. Tuy nhiên,
trên thực tế, trong một số trƣờng hợp công lý không thể đạt đƣợc do những
nguyên tắc nhất định của pháp luật và chúng ta phải chấp nhận Toà án đã làm
hết trách nhiệm của mình. Ví dụ: Một ngƣời có hành vi trộm cắp, nhƣng toà
án không thể tìm đƣợc bằng chứng để kết tội ngƣời đó thì toà án buộc phải
tuyên bố ngƣời đó không có tội. Ở đây, Toà án đã tuân thủ luật pháp để đƣa ra
phán quyết, phán quyết này không đem lại công lý cho số đông nhƣng lại đảm
bảo đƣợc công lý cho một cá nhân và Toà án đã làm hết trách nhiệm của mình
trong việc xét xử.
Ngược lại, công lý giúp cho luật pháp luôn là những luật lệ đúng đắn.
Nếu không có công lý, luật pháp sẽ trở nên tàn bạo, hà khắc. Bởi lẽ, pháp luật
đƣợc xây dựng, ban hành bởi một hệ thống cơ quan quyền lực. Nếu pháp luật
chỉ hoàn toàn dựa trên lợi ích của giai cấp thống trị thì nhiều khi không đảm
bảo đƣợc nhu cầu của ngƣời dân đối với sự công bằng. Do đó, để pháp luật

quyền đƣợc xét xử công bằng (The right for trial). Quan điểm này không chỉ
đƣợc sử dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia mà nó đã đƣợc pháp điển hoá trong
luật quốc tế kể từ Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con ngƣời năm 1948.
Theo đó, quyền tiếp cận công lý là một quyền cơ bản của con ngƣời và đƣợc
quy định nhƣ sau: “Ai cũng có quyền yêu cầu tòa án quốc gia có thẩm quyền
can thiệp chống lại những hành động vi phạm những quyền căn bản được
hiến pháp và luật pháp thừa nhận”. Cách tiếp cận truyền thống này có những
đặc điểm cơ bản là: (i) Coi mục tiêu của tiếp cận công lý là đƣợc xét xử công
bằng thông qua việc sử dụng hệ thống tƣ pháp; (ii) Đối tƣợng hƣớng tới là tất
cả mọi ngƣời; (iii) Phạm vi tác động chủ yếu là các thiết chế tƣ pháp, nhằm
bảo đảm đƣợc quyền xét xử công bằng; (iv) Tập trung phát triển năng lực, thể
chế, đặc biệt là về quản lý và cơ sở hạ tầng của toà án, kỹ năng xây dựng pháp
luật và nghiệp vụ tƣ pháp.

14


Ở góc độ rộng hơn, các chuyên gia của Ủy ban về Đảm bảo pháp lý cho
ngƣời nghèo của (UNDP) đã đƣa ra một định nghĩa mới về quyền tiếp cận
công lý. Theo đó, quyền tiếp cận công lý là “quyền của người dân được tìm
kiếm và đạt được sự đền bù hoặc khắc phục thông qua các cơ quan tư pháp
chính thức và không chính thức phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế về quyền
con người” [22]. Cách tiếp cận này dựa trên nền tảng cách tiếp cận truyền
thống nhƣng có sự mở rộng hơn. Theo đó, quyền tiếp cận công lý đƣợc hiểu
là quyền tìm kiếm sự đền bù hoặc sự khắc phục cho những bất công hay thiệt
hại mà một cá nhân hay một nhóm cá nhân, đặc biệt là cho những nhóm xã
hội dễ bị tổn thƣơng (ngƣời nghèo, ngƣời lao động nhập cƣ, ngƣời tị nạn, các
nhóm thiểu số...), phải gánh chịu. Những bất công/thiệt hại này có thể do cá
nhân hay pháp nhân gây ra, trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội chứ
không giới hạn ở trong tố tụng hình sự, và việc tìm kiếm sự đền bù/khắc phục

thƣờng tập trung vào các nhóm ngƣời dễ bị tổn thƣơng (vulnerable group),
bao gồm: phụ nữ, trẻ em, ngƣời khuyết tật, ngƣời sống chung với HIV, ngƣời
di tản hoặc tìm kiến nơi lánh nạn, ngƣời không có quốc tịch, ngƣời lao động
di trú, ngƣời thiểu số (về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo), ngƣời bản địa, nạn
nhân chiến tranh, những ngƣời bị tƣớc tự do, ngƣời cao tuổi…và những nhóm
ngƣời khác gặp những nguy cơ cao về quyền tiếp cận công lý trong nhiều
hoàn cảnh, bối cảnh (xét cả trên phạm vi quốc tế, khu vực, quốc gia, ở trong
gia đình, nơi làm việc và ngoài xã hội). Sở dĩ nhóm ngƣời dễ bị tổn thƣơng là
chủ thể trọng yếu của quyền tiếp cận công lý là bởi họ bao gồm những cá
nhân có vị thế về chính trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hơn, từ đó khiến họ có
nguy cơ cao hơn bị tổn thƣơng, bị gánh chịu những thiệt hại, bất công trong
cuộc sống.
Ngƣợc lại, chủ thể gây ra các thiệt hại, bất công có thể là cá nhân, cơ
quan nhà nƣớc, doanh nghiệp, tổ chức…Đối với nhóm chủ thể gây ra các thiệt
hại, bất công có thể bao gồm cả cá nhân và cơ quan, tổ chức. Chủ thể gây ra

16


thiệt hại là đối tƣợng mà quyền tiếp cận công lý hƣớng tới để chấm dứt, hạn
chế các hành vi gây ra thiệt hại, bất công cho các cá nhân khác.
- Về đối tượng: Các thiệt hại, bất công có thể xảy ra trong mọi lĩnh vực
của đời sống từ hình sự, dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội; tuy nhiên
chủ yếu là trong lĩnh vực tố tụng và nhằm vào ba lĩnh vực chính: (i) thừa nhận
sự đền bù/khắc phục cho những bất công/thiệt hại; (ii) tăng cƣờng khả năng
của ngƣời dân trong việc nhận biết và theo đuổi sự đền bù/khắc phục; (iii)
tăng cƣờng khả năng cung cấp sự đền bù/khắc phục của các cơ quan tƣ pháp
chính thức và không chính thức.
- Về phạm vi: Bao gồm các cơ quan tƣ pháp, trong đó trọng tâm là Toà
án để giúp cho việc giải quyết vấn đề đƣợc thuận lợi và có nhiều cơ hội hơn.

thế” theo cách gọi của UNDP) là nền tảng thứ hai của việc bảo đảm tiếp cận
công lý. Mỗi cơ quan trong từng hệ thống kể trên có những chức năng, nhiệm
vụ khác nhau, và do đó, có vai trò khác nhau trong việc bảo đảm tiếp cận
công lý.
- Hệ thống các cơ quan tư pháp bao gồm tòa án, cơ quan công tố, cơ
quan điều tra...; trong đó Toà án giữ vai trò trung tâm, có trách nhiệm quan
trọng trong việc đảm bảo quyền tiếp cận công lý của ngƣời dân thông qua
hoạt động xét xử của mình.
Trong nhiều trƣờng hợp, luật tục cũng đƣợc áp dụng nhƣ một phƣơng
thức hỗ trợ các cơ quan tƣ pháp. Đối với nhiều cộng đồng dân cƣ, đặc biệt là
nhóm dân tộc thiểu số, các luật tục luôn đóng vai trò quan trọng, trở thành
chuẩn mực và công cụ để giải quyết các tranh chấp giữa các thành viên trong
cộng đồng. Ở những khu vực này, luật tục dễ dàng đƣợc ngƣời dân chấp nhận
khi giải quyết các tranh chấp hơn là áp dụng hệ thống tƣ pháp chính thức. Tuy
vậy, không phải luật tục nào cũng phù hợp với pháp luật quốc gia và quốc tế.
Do đó, khi áp dụng luật tục, cần lựa chọn và sàng lọc các luật tục phù hợp về

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status