ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN NGỌC QUÝ
HOµN THIÖN PH¸P LUËT VÒ QUYÒN Tù DO HéI HäP
ë VIÖT NAM HIÖN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN NGỌC QUÝ
HOµN THIÖN PH¸P LUËT VÒ QUYÒN Tù DO HéI HäP
ë VIÖT NAM HIÖN NAY
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp - Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐĂNG MINH TUẤN
HÀ NỘI - 2018
LỜI CAM ĐOAN
QUYỀN TỰ DO HỘI HỌP .......................................................................... 82
3.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật về quyền tự do hội họp ................ 82
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền tự do hội họp .................. 84
KẾT LUẬN .................................................................................................... 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 92
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
Bộ luật hình sự
GRTTCC
Gây rối trật tự công cộng
ICCPR
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966
ILO
Tổ chức lao động quốc tế
TAND
Tòa án nhân dân
UDHR
2
2. Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian gần đây nên chỉ có một số ít công trình nghiên cứu
khoa học pháp lý đề cập tới đề tài này như:
- PGS.TS. Vũ Công Giao, "Hội và tự do hiệp hội ở Việt Nam: Lịch sử
phát triển và một số vấn đề đặt ra hiện nay", "Bảo đảm quyền tự do lập hội
theo Hiến pháp 2013 – lý luận và thực tiễn" do PGS.TS. Vũ Công Giao chủ
biên, tr. 11-29.
- Nhóm tác giả Lã Khánh Tùng, Nghiêm Hoa và Vũ Công Giao; "Hội
và tự do hiệp hội - một cách tiếp cận dựa trên quyền", Nhà xuất bản Hồng
Đức xuất bản năm 2015.
- GS.TS. Nguyễn Đăng Dung, "Mối quan hệ giữa xã hội dân sự và hội và
dự thảo Luật hội ở Việt Nam", "Bảo đảm quyền tự do lập hội theo Hiến pháp
2013 – lý luận và thực tiễn" do PGS.TS. Vũ Công Giao chủ biên, tr. 30-42.
- ThS.NCS. Nguyễn Anh Đức, "Luật về Hội: Công cụ giới hạn hay
quản lí thực hiện quyền?", "Bảo đảm quyền tự do lập hội theo Hiến pháp
2013 – lý luận và thực tiễn" do PGS.TS. Vũ Công Giao chủ biên, tr. 104-112
- PGS.TS. Đặng Minh Tuấn – ThS.NCS. Nguyễn Anh Đức, "Quyền tự
do hiệp hội trong công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966 và
sự tương thích trong dự thảo Luật về Hội", "Bảo đảm quyền tự do lập hội
theo Hiến pháp 2013 – lý luận và thực tiễn" do PGS.TS. Vũ Công Giao chủ
biên, tr. 122-135.
- ThS.Lê Thị Thúy Hương – PGS.TS.Vũ Công Giao, "Tự do hiệp hội
trong luật quốc tế, pháp luật của một số quốc gia và kinh nghiệm cho Việt
Nam.", "Bảo đảm quyền tự do lập hội theo Hiến pháp 2013 – lý luận và thực
tiễn" do PGS.TS. Vũ Công Giao chủ biên, tr.135.157.
- PGS.TS. Nguyễn Hoàng Anh, "Mối quan hệ giữa nhà nước và hiệp
Nam hiện nay. Xây dựng hệ thống các định nghĩa liên quan đến quyền Tự
do hội họp.
Đưa ra bức tranh tổng thể về quá trình phát triển, thực trạng pháp
5
luật về quyền Tự do hội họp ở Việt Nam hiện nay, đề xuất một số biện
pháp khả thi để nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền Tự do hội
họp ở Việt Nam hiện nay.
6. Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn gồm ba chương:
- Chương 1. Cơ sở lý luận về quyền tự do hội họp.
- Chương 2. Thực trạng pháp luật và thực thi quyền tự do hội họp ở
Việt Nam.
- Chương 3. Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền tự do
hội họp.
Với kiến thức lý luận còn hạn chế, thời gian nghiên cứu không dài nên
không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Chúng tôi kính mong sự đóng
góp ý kiến của các thầy cô. Xin chân thành cảm ơn.
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO HỘI HỌP
1.1. Khái quát về quyền tự do hội họp
1.1.1. Khái niệm quyền tự do hội họp
Hội họp là một vấn đề phức tạp. Hiện nay, trên thế giới chưa có một
đích với nhau, nhưng mục đích này là bạo loạn, là gây rối, áp đảo. Thậm
chí còn có sử dụng bạo lực với những vũ khí nguy hiểm mà pháp luật
không cho phép.
Theo Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người và Công ước quốc
tế về các quyền dân sự và chính trị có cho rằng: Tự do hội họp là quyền cơ
bản của con người, được công nhận và được bảo vệ nhằm thúc đẩy các quyền
con người khác cũng như thúc đẩy sự phát triển của các quốc gia.
Hiện nay, Việt Nam có ghi nhận tự do hội họp trong các bản Hiến pháp
nhưng vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào hay sự giải thích từ ngữ nào
định nghĩa thế nào là tự do hội họp. Theo quan điểm của các nhà luật gia, các
nhà ngôn ngữ học thì họ hiểu tự do hội họp thông qua việc bóc tách các cụm
từ “tự do” “hội” “họp”.
“Tự do” theo Từ điển Tiếng Việt thì đây là phạm trù triết học chỉ khả
năng biểu hiện ý chí, làm theo ý muốn của mình trên cơ sở nhận thức được
quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội.
Khái niệm “Hội” về mặt ngôn ngữ, thuật từ "hội" dùng để chỉ: i) cuộc
vui tổ chức chung cho đông đảo người tham dự, theo phong tục hoặc nhân dịp
đặc biệt; ii) tổ chức quần chúng rộng rãi của những người cùng chung một
nghề nghiệp hoặc có chung một hoạt động [21].
Khái niệm “Họp”, về mặt ngữ pháp, “họp” là một động từ chỉ sự tụ tập,
ở một nơi để làm việc gì đó, ngoài ra họp còn nghĩa là một danh từ trong cụm
“cuộc họp” để chỉ sự tập trung một nhóm người có cùng mục đích với nhau,
8
ngồi lại thảo luận, giao lưu, đưa ra để ý kiến về một vấn đề nào đó cũng như
thỏa thuận, tự nguyện giao kết thể hiện ý chí của mình về vấn đề chung.
Như vậy có thể hiểu quan điểm của các nhà ngôn ngữ Việt Nam coi tự
do hội họp là việc cá nhân có thể tụ tập người đông đảo ở một nơi làm việc gì
quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, và để bảo vệ sức khoẻ hoặc đạo đức
của công chúng hay các quyền và tự do của người khác. Là một quyền con
người cơ bản, tự do hiệp hội được ghi nhận trong hiến pháp của hầu hết quốc
gia. Đồng thời, để bảo đảm tự do hội họp, nhiều quốc gia còn ban hành một
đạo luật riêng, tuy nhiên, phạm vi điều chỉnh của luật về hội của các quốc gia
rộng hẹp khác nhau. Chẳng hạn, Luật về Hội của Pháp (1901) và Hungary
(1989) điều chỉnh hoạt động của các tổ chức phi chính phủ, tổ chức phi lợi
nhuận, và cả các tổ chức công đoàn và đảng phái chính trị [16]. Trong khi đó,
luật về hội của một số quốc gia khác lại chỉ điều chỉnh hoạt động của các tổ
chức phi chính phủ, tổ chức phi lợi nhuận, các quỹ, còn các tổ chức công
đoàn và các đảng chính trị được điều chỉnh bằng các luật về đảng phái chính
trị, luật doanh nghiệp, luật công ty,...
Những cuộc họp đóng vai trò rất quan trọng, vì đó là nơi mà bầu không
khí và văn hoá của tổ chức được duy trì, là một trong những cách thức để các
tổ chức nói với đội ngũ nhân viên của mình rằng: “Bạn là một thành viên của
tập thể”. Các cuộc họp còn là nơi để bản thân những thành viên tham gia trao
đồi đưa ra những ý kiến của mình, nêu lên quan điểm, ý tưởng đóng góp cho
tập thể. Những cuộc họp cũng là nơi cái “tôi” được thể hiện tương đối lớn khi
các vấn đề được đưa ra.
Hội họp góp phần phổ biến thông tin, thành tựu mới trong nhiều lĩnh
vực. Góp phần xây dựng mối quan hệ trao đổi giữa các thành phần liên quan
đến hoạt động thư viện thông tin.
Hội họp, hội nghị là một yếu tố quan trọng trong cuộc sống của doanh
10
nghiệp. Đây là phương pháp tốt nhất để lấy được tư tưởng, ý kiến, quan điểm
của nhiều người cùng một lúc. Là cơ hội cho các thành viên thảo luận các vấn
đề chung và cùng tham gia quyết định. Tuy nhiên, các cuộc họp thường làm
cuộc hành lễ thường lệ của các tôn giáo tổ chức trong những nơi thờ cúng, các
cuộc hội họp còn được sử dụng để thảo luận, giải quyết các công việc nội bộ
trong cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hay ở khu vực dân sư. Quyền hội họp
cũng là quyền của công dân được họp mặt để thảo luận, bàn bạc góp ý kiến về
các vấn đề chung của Nhà nước, của xã hội.
Có thể hiểu quyền tự do lập hội là quyền của công dân có thể tự do
tham gia vào các hội, hội liên hiệp, liên hiệp hội, tổng hội, câu lạc bộ…theo
quy định của pháp luật.Quyền tự do lập hội là quyền mà pháp luật trao cho
mỗi cá nhân và được pháp luật bảo vệ, bảo đảm thực hiện.
Như vậy, tự do lập hội là một đặc tính tự nhiên của con người. Những
người theo quan điểm pháp luật tự nhiên cũng coi tự do lập hội là một quyền tự
nhiên của con người, có trước bất kỳ sự chấp thuận nào của nhà nước. Từ góc
độ pháp lý, quyền tự do lập hội từng bước, đặc biệt là từ sau năm 1945, được
pháp luật các quốc gia và luật nhân quyền quốc tế ghi nhận và bảo vệ [16].
Quyền tự do lập hội là quyền của công dân hội họp với nhau để đảm
bảo các quyền học tập trao đổi thông tin, quyền trao đổi thông tin nhằm nâng
cao dân trí, giúp nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ… với
mục đích ích nước lợi nhà.
Quyền tự do lập hội với mục đích để phản đối thì thường trái luật bảo
vệ sự an toàn công cộng, ngay cả ở những nước dân chủ: ở nhiều thành phố,
cảnh sát có quyền giải tán bất cứ đám đông nào (ngay cả những đám đông
những người phản đối chính trị) đe dọa sự an toàn công cộng hoặc những đám
đông mà cảnh sát không kiểm soát được. Đó là ý tưởng nhằm ngăn ngừa bạo
động. Thông thường, luật địa phương yêu cầu các nhà tổ chức phản đối phải
được sự cho phép trước nếu cuộc diễu hành đã được định liệu. Tuy nhiên, đơn
12
xin cho phép đó có thể bị từ chối. Quyền này thường bị các nhà làm luật lạm
(Điều 11 Công ước châu Âu về quyền con người). Tuy nhiên trong Hiến pháp
Hoa Kỳ, cụ thể là Tu chính án thứ nhất lại chỉ đề cập đến quyền hội họp hòa
bình. Dường như hai quy phạm này có phần nào giới hạn nhau. Nếu như trong
công ước về quyền con người thì mọi hoạt động hội họp đều được cho phép và
được coi là hợp pháp vì đó là quyền thì đến Hiến pháp của Hoa Kỳ đã giới hạn
sự hợp pháp đó bằng việc quy định chỉ có hội họp hòa bình mới được coi là
hợp pháp còn những hình thức hội họp khác thì không. Đây chính là một minh
chứng rất rõ ràng cho luận điểm “tự do hội họp là không tuyệt đối” ở trên.
Tự do lập hội là quyền tự do kết giao, tổ chức bất kỳ các nhóm, tập
hợp, câu lạc bộ, hay các tổ chức mà con người muốn. Đây là một quyền quan
trọng của chế độ dân chủ tự do, nơi công dân có thể thành lập hay gia nhập
bất kỳ đảng chính trị, nhóm có chung sở thích, hay công đoàn nào mà không
bị chính quyền ngăn cản hay giới hạn. Trong những hệ thống pháp luật không
có quyền tự do lập hội thì các đảng hay nhóm chính trị nào đó có thể bị cấm
bằng những hình phạt tàn bạo đối với các thành viên. Các cuộc phản đối của
nhân dân chống lại chính phủ cũng thường bị cấm.
Tự do hội họp và tự do lập hội là những quyền quan trọng giúp thực thi
nhiều quyền dân sự, chính trị, cũng như các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa
khác. Hai quyền này là "những thành tố thiết yếu của một xã hội dân chủ" vì
nó cho phép các thành viên "bày tỏ quan điểm chính trị, tham gia vào các mục
tiêu văn học và nghệ thuật và các hoạt động kinh tế, xã hội và văn hóa khác,
tham gia vào việc thờ phụng tôn giáo và các niềm tin khác, hình thành và gia
nhập các tổ chức công đoàn và hợp tác xã, bầu chọn những người lãnh đạo đại
diện cho mình và buộc họ phải chịu trách nhiệm" (Lời nói đầu của Nghị quyết
15/21 của Hội đồng Nhân quyền [30]).
Quyền tự do hội họp và quyền tự do lập hội có mối quan hệ mật thiết
và khăng khít với nhau. Cụ thể:
Tự do lập hội chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở của một số quyền –
14
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam rằng “Công dân nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội
và biểu tình. Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân
được hưởng các quyền đó” [25]. Hiến pháp năm 1980 quy định tại Điều 67
Chương IV Quyền và nghĩa vụ của công dân có ghi nhận rằng “Công dân có các
quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu
tình, phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và của nhân dân” [26]. Hiến
pháp năm 1992 quy định tại Điều 69 Chương V có ghi nhận rằng: “Công dân
có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền
hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật” [27]. Đến năm 2013,
Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vẫn tiếp tục ghi nhận
quyền biểu tình tại Điều 25 Chương II rằng: “Công dân có quyền tự do ngôn
luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực
hiện các quyền này do pháp luật quy định” [28]. Hiến pháp năm 1946 tuy
không ghi nhận trực tiếp quyền này, nhưng có thể hiểu quyền biểu tình là nội
hàm của quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp theo quy định tại Điều thứ 10
của bản Hiến pháp này.
Quyền biểu tình được hiểu là một quyền con người, một quyền dân sự,
chính trị quan trọng. Mặc dù trong Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới năm
1948 và trong Công ước quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị năm 1966
(Công ước 1966), không có quy định nào trực tiếp nhắc đến quyền biểu tình,
nhưng quyền biểu tình được hiểu là nội hàm quan trọng của quyền hội họp
hòa bình và quyền tự do ngôn luận (Điều 19, 20 Tuyên ngôn 1948 và Điều 19,
21 Công ước 1966).
Biểu tình được hiểu là hành động tập hợp đông người, có tổ chức và
được diễn ra tại nơi công cộng (trên đường giao thông, quảng trường, công
viên, vườn hoa …) với mục đích là bộc lộ thái độ của người đi biểu tình đối
17
thiên tai, nguy cơ chiến tranh, dịch bệnh … và các điều kiện tạm đình chỉ thực
hiện quyền này phải được quy định trong luật. Vì quyền biểu tình là một
quyền có giới hạn và có thể bị đình chỉ thực hiện nên mới cần có luật để điều
chỉnh quyền này.
Từ đây có thể đưa ra một khái niệm về quyền biểu tình đó là quyền của
cá nhân, công dân được tự do bày tỏ quan điểm, ý kiến của mình về một vấn
đề nào đó của xã hội, sự bày tỏ đó thể hiện dưới dạng ủng hộ hoặc phản đối
nhằm đòi hỏi quyền lợi cho cá nhân, cho cộng đồng hoặc cho xã hội.
Biểu tình là một hình thức để công dân có thể thực hiện quyền của
mình thông qua biểu tình công dân gửi đến chủ thể một thông điệp mạnh
mẽ. Thông qua biểu dương lực lượng đông đảo buộc chủ thể hướng tới phải
thực hiện nguyện vọng của mình. Vì vậy, công dân thực hiện quyền biểu
tình thông qua việc tổ chức, tham gia vào các cuộc biểu tình có vị trí, vai trò
hết sức to lớn.
Là thước đo trình độ dân trí của một xã hội dân chủ, dân quyền.
Quyền biểu tình có những đặc điểm [58] sau:
Đầu tiên, quyền biểu tình là một quyền dân chủ của công chúng. Đó là
quyền mà công chúng được tự do bày tỏ quan điểm, ý kiến của mình về một
vấn đề nó của xã hội, đó có thể là một vấn đề của quốc gia (chủ trương,
chính sách của Nhà nước) hoặc một vấn đề của quốc tế (chiến tranh, biến
đổi khí hậu…).
Thứ hai, chủ thể của quyền biểu tình rất phong phú và đa dạng, đó có
thể là công dân của nước sở tại, cũng có thể là công dân nước ngoài, người
không quốc tịch… Chính vì vậy, Khoản I, Điều 20, UHDR 1948 quy định:
“Mọi người đều có quyền tự do hội họp và tham gia hội họp một cách hòa
bình”. Mọi người ở đây dùng để chỉ tất cả không phân biệt giới tính, quốc
cơ chế quản lý nhà nước, giám sát xã hội bằng pháp luật. Mặt khác biểu tình
khi đã được thể chế hóa một cách rõ ràng, căn cứ mạch lạc thì nhân dân sẽ dễ
19
dàng hơn trong việc thực hiện quyền biểu tình mà nhà nước cũng sẽ dễ dàng
hơn trong việc quản lý, vì tất cả đã được quy định trong luật.
Thêm một cách thức để quản lý nhà nước
Nhà nước nắm trong tay quyền lực của nhân dân vì nhân dân không thể
trực tiếp sử dụng quyền của mình, nắm trong tay quyền lực của nhân dân lẽ dĩ
nhiên phải phục vụ nhân dân. Nhưng khi có quyền lực mà không có hoặc cơ
chế kiểm soát yếu thì hiện tượng lạm quyền dễ xảy ra. Thiết lập các cơ chế
giám sát việc quản lý nhà nước là các cơ quan này thực hiện tốt hơn nhiệm vụ
của mình. Qua biểu tình, nhà nước có thể nhìn thấy những sai phạm của
những người cầm quyền, những vấn đề mà nhà nước chưa giải quyết thấu
đáo, điều chỉnh để tạo được sự đồng thuận xã hội cao.
Biểu tình cũng chính là một hình thức phản biện xã hội, phản ảnh thực
trạng của xã hội để nhà nước có thể quản lý xã hội hiệu quả hơn
Phân tích xã hội là các hoạt động của các chủ thể khác nhau trong xã
hội sử dụng các lập luận phân tích, hoặc các công cụ tư duy logic để khẳng
định, bổ sung hoặc bác bỏ khuynh hướng, phương án kinh tế, chính trị, văn
hóa xã hội (gọi chung là đối tượng của phản biện xã hội). Đây là một hoạt
động nằm trong khuôn khổ pháp luật, mang tính tích cực xây dựng, nhằm
hướng tới các mục tiêu chung của xã hội (công bằng, dân chủ, pháp chế, phát
triển đất nước). Thông qua biểu tình, nhân dân có thể phản ảnh ý chí của mình
đến với xã hội, đến với Nhà nước về những chủ trương, chính sách của Nhà
nước chưa đúng, chưa hợp lý để kịp thời có những điều chỉnh thích hợp.
Biểu tình là một hoạt động hết sức phổ biến trên thế giới. Nhằm tạo
một hướng nhìn đầy đủ và hoàn thiện hơn thì dựa theo bản chất của biểu tình