BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
================
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ SỞ GIAO DỊCH
HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
NGUYỄN NGỌC NGHỊ
HÀ NỘI- 2016
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
================
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ SỞ GIAO DỊCH
HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
NGUYỄN NGỌC NGHỊ
HÀ NỘI- 2016
2
Pháp luật về SGDHH đã được nghiên cứu và vận dụng một cách cụ thể vào
Việt Nam, nhưng vẫn chưa được quan tâm và đánh giá đúng mức. Vì vậy cần
phải có nghiên cứu toàn diện để phát huy thế mạnh và áp dụng đúng, hiệu quả
hơn nữa về SGDHH. Trước yêu cầu bức thiết và nhiệm vụ quan trọng đang đặt
ra trong tình hình mới của đất nước và xu thế hội nhập toàn cầu hóa, tác giả
chọn vấn đề: “Hoàn thiện pháp luật về Sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam
hiện nay” làm đề tài nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau liên quan
đến Sở giao dịch hàng hóa. Các nghiên cứu này mới chỉ nghiên cứu dưới góc độ
kinh tế và hầu như chỉ giới thiệu về hợp đồng tương lai, thị trường hàng hóa
giao sau...Có thể khái quát các công trình nghiên cứu đó theo hai nhóm vấn đề
sau:
Nhóm 1: Nghiên cứu về SGDHH và hợp đồng mua bán qua SGDHH
•
Bài viết: Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn để hình thành thị trường
hàng hóa giao sau ở Việt Nam, Bộ Thương Mại, 2000.
•
Bài viết: Thị trường hàng hóa giao sau, PGS.TS Nguyễn Văn Nam, Nxb
Lao động, Hà Nội 2002.
•
Bài viết: Hợp đồng mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá (hợp
đồng giao dịch) nhìn từ góc độ Luật dân sự, Phạm Văn Tuyết, Luật học. Trường
Luật Hà Nội, Số 1/2010, tr. 58 – 65.
•
Bài viết: Một số bình luận về thực thi pháp luật mua bán hàng hoá qua
sở giao dịch hàng hoá, Nguyễn Thị Dung, Luật học. Trường Đại học Luật Hà
Nội, Số 1/2011, tr. 12 – 18.
•
Khoá luận tốt nghiệp: Tìm hiểu vấn đề mua bán hàng hoá qua sở giao
dịch hàng hoá của Phạm Ngọc Khánh năm 2005, 62 trang .
•
Khoá luận tốt nghiệp: Mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá
theo pháp luật Việt Nam hiện hành của Phạm Chí Dũng năm 2008, 53 tr.
•
Khoá luận tốt nghiệp: Tìm hiểu các quy định của pháp luật về hợp đồng
mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá của Hoàng Thị Thu Hằng 2012,
52 tr.
•
Luận văn thạc sĩ: Pháp luật hiện hành về các hợp đồng có liên quan đến
hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa của Nguyễn Thị
Hương, 2013, 73 tr.
•
Khoá luận tốt nghiệp: Sở giao dịch hàng hóa theo quy định của pháp
luật Việt Nam hiện hành của Mai Nguyệt Minh, 2012, 57 tr.
•
Luận văn thạc sĩ: Những vấn đề pháp lý về mua bán hàng hoá qua sở
giao dịch hàng hoá, Nguyễn Quỳnh Liên, 2006, 70 tr.
•
Luận văn thạc sĩ: Pháp luật hiện hành về Sở giao dịch hàng hóa của
Đinh Văn Liêm, 2012, 69 tr.
•
Luận văn thạc sĩ: Pháp luật về sở giao dịch hàng hóa - Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn, Đinh Nguyệt Hà, 2014, 73 tr.
Đề tài “Hoàn thiện pháp luật về Sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam hiện
nay.” ở cấp độ luận văn thạc sĩ sẽ được nghiên cứu chuyên sâu, đầy đủ, có tính
hệ thống về SGDHH trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó, tác giả có ý thức kế
thừa kết quả khoa học của những công trình đã công bố và kinh nghiệm thực
tiễn có liên quan.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ luật học, tác giả chủ yếu tập
trung đi vào nghiên cứu những vấn đề lí luận cơ bản về SGDHH, phân tích,
đánh giá một cách toàn diện về quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp
dụng pháp luật Việt Nam về SGDHH.
4. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
4.1. Mục đích nghiên cứu
pháp so sánh. Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác – Lê Nin với phép biện chứng duy vật khoa học và biện chứng khoa học
lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam trong xây dựng Nhà nước pháp quyền.
Trong số các phương pháp được sử dụng để nghiên cứu thì phương pháp
phân tích, phương pháp thống kê được sử dụng chủ yếu.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống và tương đối toàn diện ở góc
độ lí luận và thực tiễn về SGDHH, vì vậy kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ có
đóng góp về mặt khoa học.
Luận văn đã góp phần làm rõ khái niệm về SGDHH, đưa ra được những
yêu cầu cụ thể đối với việc quy định về tổ chức và hoạt động của SGDHH.
Tác giả đưa ra được các giải pháp mang tính khả thi sẽ góp phần vào việc
hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về SGDHH. Kết quả nghiên cứu trong
luận văn có thể được sử dụng cho việc xây dựng Luật về SGDHH.
Đề tài nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên
cứu, giảng dạy, học tập, đồng thời giúp ích phần nào cho quá trình xây dựng thị
trường vững mạnh và phát triển SGDHH ở Việt Nam.
7
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu, ba chương, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo
và mục lục.
Chương 1. Cơ sở lý luận về Sở giao dịch hàng hóa
Chương 2. Thực trạng pháp luật về Sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam
Hiện nay
Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về Sở
giao dịch hàng hóa ở Việt Nam hiện nay.
[23]. Điều này phần nào chứng tỏ được sự ưu việt và nổi trội của loại hình mua
bán hàng hóa này. Chúng ta có thể kể đến các sàn giao dịch lớn trên thế giới
như: SGDHH Chicago (Chicago Mercantile Exchange – CME), Sở giao dịch
New York (NYBOT), Sở giao dịch Kim loại Luân Đôn (London Metal Exchange
– LME), SGDHH Luân Đôn (Liffe), SGDHH TOCOM (Tokyo Commodity
Exchange – TOCOM), SGDHH Osaka, SGDHH ICE (Intercontinetal Exchange
– ICE), SGDHH Singapore (Sicom), SGDHH Đại Liên, Sở Giao dịch Kỳ hạn
Thượng Hải, SGDHH Trịnh Châu…[23]
9
Vào những năm 1840, khi mà việc sản xuất ngũ cốc ngày càng phát triển
nhờ sự cải tiến về công nghệ thì những người nông dân ở phía Tây nước Mĩ
thường đến Chicago để bán ngũ cốc cho các thương gia, rồi sau đó những người
này sẽ đưa lượng hàng hoá này đi khắp cả nước. Dần dần, hoạt động này trở nên
sôi nổi đến mức hầu như không đủ nhà kho chứa lúa mì của nông dân. Khối
lượng sản xuất ngày càng lớn trong khi hệ thống vận tải chưa phát triển phù hợp
không thể đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hóa. Khi những người nông
dân này đến Chicago họ không hề biết trước giá cả thị trường, hơn nữa ở
Chicago lúc này có rất ít các công cụ để cất trữ hàng hoá và cũng không có một
quy trình chuẩn nào để cân và đánh giá chất lượng ngũ cốc, khiến cho nông dân
rơi vào thế bị động và phụ thuộc vào thương nhân. Thị trường tiêu thụ hỗn loạn,
các nhà đầu cơ lợi dụng tình trạng này ép giálàm giá ngũ cốc giảm mạnh sau vụ
thu hoạch rồi sau đó lại tăng lên khi nguồn cung đã được giải toả. Những hiện
tượng mang tính chu kỳ như vậy đã gây nên những thiệt hại nghiêm trọng cho
người sản xuất lương thực, do đó những người nông dân đã tìm cách tránh rủi ro
bằng cách bán ngũ cốc trước khi vận chuyển đến nơi tiêu thụ, kể cả với mức giá
thấp hơn một ít so với giá dự kiến khi ngũ cốc được đưa đến thị trường. Người
mua và người bán lúc này phải thoả thuận với nhau về số lượng ngũ cốc, chất
lượng, giá cả, thời gian, địa điểm giao hàng và nhận tiền. Ban đầu, những hoạt
hành độc lập, đại diện duy nhất của Chính phủ quản lý các hoạt động của thị
trường kỳ hạn.
Các sở giao dịch hàng hóa ngày nay đã trải qua một số giai đoạn sáp
nhập. Ở Nhật Bản số lượng các cuộc sáp nhập đã làm cho số lượng các sở giao
dịch ở nước này giảm xuống hơn một nửa từ 17 sở giao dịch năm 1993 xuống
còn 8 năm 1997. ở Anh, Liffe đã sáp nhập với Sở giao dịch hàng hóa Luân Ðôn
vào tháng 9/1996. Tại Mỹ, NYMEX sàn giao dịch týõng lai nãng lýợng lớn nhất
thế giới lúc bấy giờðã sáp nhập với Comex (Comex hiện nay đang hoạt động
như là một công ty con của Nymex), và các thành viên của cả NYCE và CSCE
đãđều bỏ phiếu đồng ý sáp nhập và thành lập NYBT (Board of Trade of city
New York). Xu hướng sáp nhập các sở giao dịch hàng hóa trên thế giới được dự
11
đoán là sẽ tiếp tục kéo dài,điển hình là vụ sáp nhập giữa hai sở giao dịch lớn
nhất của Mỹ là CBOT và CME để hình thành một sở giao dịch lớn nhất thế giới.
Hiện tại, theo thống kê của các sở giao dịch trên thế giới, số lượng hợp
đồng giao dịch hàng hóa các loại đã tăng trưởng mạnh trở lại, đặc biệt trong
năm 2010 (tăng hơn 47% trong vòng 3 năm từ 2008 - 2010 so với 3 năm trước).
Đồng thời, tài sản được quản lý tại các SGDHH trên thế giới đã tăng mạnh và
tổng dòng vốn đạt hơn 60 tỷ USD trong năm 2010. Các quỹ đầu tư đã đầu tư
khá nhiều vào các kênh an toàn như hàng hóa, nguyên vật liệu…Trong các châu
lục thì Châu Á - Thái Bình Dương là châu lục có khối lượng hợp đồng được
giao dịch cao nhất. Sự tăng trưởng này thể hiện tâm lý của các nhà đầu tư xem
hàng hóa như một loại tài sản an toàn và là sự lựa chọn đầu tư phổ biến vì đặc
tính dễ dàng khi tham gia giao dịch. [23]
Ngày nay, tất cả mọi người có đủ điều kiện có thể tham gia vào thị trường
này ở bất cứ đâu, và bất cứ khi nào thông qua hệ thống Globex nối liền 12 trung
tâm tài chính lớn của thế giới như Lodon, NewYork, Tokyo, Bermuda, Boca
Raton, Chicago, Geneva, Hamburg, Hongkong, Paris, Singapore, Zurich.
Tương Lai (Commodity Futures Trading Commission), một cơ quan độc lập của
Chính phủ Hoa Kỳ. NYMEX là một trong số rất ít sàn trên thế giới còn duy trì
hệ thống Open Outcry, ở đó người giao dịch được dùng lời nói và dấu hiệu bằng
tay trên sàn giao dịch.
- Sàn giao dịch trực tuyến FxPro
Sàn giao dịch Châu Âu, FxPro thuộc sở hữu của công ty FxPro Financial
services Ltd thành lập từ năm 2006 là một công ty đầu tư được cấp phép bởi
Cyprus Securities and Exchange Commission (Số giấy phép 078/07).
Công ty này là thành viên của các tổ chức chuyên nghiệp như : CIFSA (Cyprus
International Financial Services Association,CIFSA Home Page), CCCI
(Cyprus Chamber of Commerce and Industry, ), CFSFA
(Cyprus Financial Services Firms Association, CSFSA ) và đặc trưng của công
ty Fxpro.com là xác định các giá trị và nguyên tắc đạo đức trong tất cả các giao
dịch từng ngày.
13
Fxpro được tạo ra để đáp ứng cho cả hai : nhà đầu tư và các tổ chức đầu
tư trong thị trường ngoại hối, tương lai, chứng khoán hoặc hàng hóa (vàng,
dầu...). FXPro sẽ cung ứng những điều kiện tốt nhất cho từng đối tượng khách
hàng. Nét độc đáo của Fxpro là môi giới trực tuyến, nên các khách hàng có thể
giao dịch trực tiếp trên phần mềm giao dịch mà không cần phải thao tác các thủ
tục giao dịch phức tạp.
Được thành lập từ khá sớm và có quy mô tổ chức chặt chẽ, cách thức hoạt
động tiên tiến, phù hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ, các sàn giao
dịch trên thị trường là những điển hình để Việt Nam ta học tập. Phong phú đa
dạng về hình thức và sản phẩm giao dịch, các sàn giao dịch hàng hóa trên thế
giới còn có cách thức tổ chức chuyên nghiệp, hỗ trợ nhiều phương thức giao
dịch thuận tiện cho người bán và người mua.
1.1.2. Sự hình thành, phát triển Sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam.
Thương). Tuy nhiên, do có nhiều nguyên nhân (quy mô thị trường, hệ thống
ngân hàng thanh toán…) nên chưa thể ra đời. Tháng 3/2002 Sàn giao dịch hạt
điều do Hiệp hội điều Việt Nam mở tại Trung tâm giao dịch chứng khoán
TPHCM ra đời. Tuy nhiên, sàn giao dịch này chỉ giao dịch đúng một phiên rồi
“chết yểu”. Tiếp theo là sự ra đời của Trung tâm giao dịch thủy sản Cần Giờ
(Cangio ATC) vào tháng 5/2002.
Trung tâm giao dịch cà phê Buôn Mê Thuột (BCEC) được khai trương và
hoạt động ngày 11/12/2008. BCEC là chương trình thí điểm xây dựng chợ đầu
mối của ba vùng nguyên liệu tập trung, đó là Chợ lạc của Nghệ An, Chợ gạo
của Cần Thơ và Chợ cà phê của Đắk Lắk, sau đó thông qua đề xuất của UBND
tỉnh Đắk Lắk đã nâng cấp BCEC thành sàn giao dịch cà phê. Ngân hàng
Techcombank đảm bảo vai trò là ngân hàng ủy thác thanh toán cho hoạt động
giao dịch tại Trung tâm; tập đoàn cà phê Thái Hòa là công ty đảm nhận vai trò
quản lý kho hàng, tổ chức vận hành hệ thống kho và nhà máy chế biến cà phê
thô cho người gửi; công ty giám định hàng hóa Cafecontrol thực hiện nhiệm vụ
kiểm định chất lượng hàng hóa đối với người có hàng đến gửi ở trung tâm và
cùng với đơn vị quản lý thực hiện việc phân cấp chất lượng cà phê.
15
Cuối năm 2009, ngân hàng Sacombank cũng chính thức ra mắt sàn giao
dịch hàng hóa với tên gọi Sacom – STE, hàng chủ lực được giao dịch là thép và
đường. Sacombank cũng đã mở lại Sàn giao dịch hạt điều tại Bình Phước với hệ
thống giao dịch hiện đại, với kỳ vọng việc khai trương sàn giao dịch điện tử.
Hiện tại, Sacom – STE là đơn vị đi đầu trong triển khai và hoạt động sàn giao
dịch hàng hóa tại Việt Nam.
Tháng 9/2010, SGDHH Việt Nam (VNX) cũng đã được Bộ Công Thương
cấp phép hoạt động tại Việt Nam với vốn điều lệ 150 tỷ đồng. Cà phê, cao su và
thép là những mặt hàng giao dịch đầu tiên. VNX là nơi cung cấp địa điểm,
sở giao dịch không phải là cơ quan Nhà nước và doanh nghiệp Nhà nước”.
[15].
Theo Đại từ điển Tiếng Việt: “SGDHH là một loại thị trường hàng hóa
đặc biệt, có tổ chức và có quy chế chặt chẽ tại đó hàng hóa mua bán là những
hàng hóa có phẩm cấp rõ ràng (như nguyên liệu và ngũ cốc) và được mua bán
với khối lượng lớn, bằng những phương thức đặc biệt như giao ngay, giao kỳ
hạn…”. [44]. Từ điển Bách khoa toàn thư điện tử định nghĩa về SGDHH một
cách khá chi tiết: “SGDHH là hình thức thị trường đặc biệt, thực hiện việc mua
bán quy mô lớn, theo mẫu và quy cách hàng hóa. SGDHH có đặc điểm: ở đó
không có hàng hóa bán ra mà chỉ mua bán hàng hóa theo mẫu và quy cách; đối
tượng giao dịch không phải là những hàng hóa khác nhau nhiều, mà thường là
những hàng hóa cùng chất lượng, quy cách. Việc giao dịch ở SGDHH được
thực hiện chủ yếu theo giao dịch kỳ hạn, sau khi thành giá, qua một thời gian
nhất định mới giao hàng cho người mua. Ở SGDHH, việc mua bán không gắn
liền với việc di chuyển thực tế của hàng hóa, mà chỉ là mua bán quyền sở hữu
hàng hóa. Do đó, SGDHH mở rộng và đẩy mạnh hoạt động của thị trường,
đồng thời tạo điều kiện cho hoạt động đầu cơ của các nhà tư bản. Ở những
SGDHH lớn trong các nước tư bản chủ nghĩa, thường tập trung cung cầu của
nhiều nước, thậm chí của cả thị trường tư bản chủ nghĩa”. [44]
Theo Hà Thị Thanh Bình thì “ Sở giao dịch hàng hóa là nơi thỏa thuận
va ký kết những hợp đồng để thực hiện việc mua bán hàng hóa không trực tiếp
17
giao ngay mà là cam kết việc mua bán hàng hóa. Còn việc giao hàng và nhận
tiền sẽ được thực hiện trong tương lai”. Theo TS. Phạm Duy Liên: “Thị trường
SGD hàng hóa là thị trường ở đó người ta buôn bán, trao đổi với nhau không
phải là hàng hóa, sản phẩm trực tiếp giao ngay mà là thông qua các hợp đồng
cam kết mua bán, còn việc giao hàng và nhận tiền sẽ được thực hiện trong
tương lai”. Đối với khái niệm của TS Phạm Duy Liên chúng ta chưa thấy được
chẽ, cho phép sự cạnh tranh hiệu quả giữa những người mua và những người
bán. Do đó giao dịch qua sở giao dịch hàng hóa là một phương thức giao dịch
đặc biệt so với các phương thức giao dịch khác như mua bán trực tiếp, mua bán
qua trung gian, mua bán đối lưu.
SGDHH - một thị trường hàng hóa đặc biệt có quy chế tổ chức chặt
chẽ.
Đặc điểm đặc thù của hàng hóa mua bán qua Sở giao dịch hàng hóa so
với mua bán hàng hóa thông thường, cụ thể như sau:
Thứ nhất, Sở giao dịch hàng hóa có tư cách là trung gian giữa các bên
trong giao dịch.
Thứ hai, đối tượng giao dịch là hàng hóa có cung cầu lớn và thường
xuyên có sự biến động về giá trên trường
Thứ ba, việc mua bán hàng hóa được thực hiện theo các tiêu chuẩn nhất
định do Sở giao dịch hàng hóa quy định, gồm các tiêu chuẩn về loại hàng, số
lượng, phẩm cấp hàng, giá cả, thời hạn giao kết hợp đồng và thời hạn giao hàng
tại một thời điểm trong tương lai.
Thứ tư, mục đích của mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa là
tìm kiếm lợi nhuận do sự chênh lệch giá giữa lúc ký kết và lúc giao hàng và bảo
hiểm rủi ro về giá.
SGDHH - khâu trung gian kết nối người mua và người bán
SGDHH không phải là một bên trong các giao dịch mua bán hàng hóa,
mà là trung gian kết nối và cung cấp các dịch vụ cho các chủ thể tham gia mua
bán tại Sở với nhau.
19
Các dịch vụ cơ bản mà Sở cung cấp bao gồm: nhận lệnh - khớp lệnh tập
trung, thanh toán và giao nhận hàng hóa. Phần lớn các SGDHH hiện nay đều sử
dụng hệ thống máy tính điện tử để việc nhận lệnh – khớp lệnh được dễ dàng,
chính xác. Do hoạt động giao kết hợp đồng được thực hiện qua trung gian nên
hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn và hợp đồng có tiền bảo chứng.
Tiền bảo chứng (hay mức ký quỹ) là biện pháp bảo đảm thực hiện hợp
đồng, bắt buộc đối với cả bên bán và bên mua. Thay vì phải bỏ ra một khoản
tiền lớn để đặt cọc hoặc một lượng tiền bằng với giá trị hàng hóa (thế chấp) để
bảo đảm cho việc mua bán thì sở giao dịch chỉ quy định một mức bảo chứng rất
thấp, tùy vào loại hàng hóa. Mức yêu cầu về tiền bảo chứng thấp khi tham gia
vào các hợp đồng tại sở giao dịch là một trong những nguyên nhân làm cho
chúng trở thành những công cụđòn bẩy tài chính mạnh mẽ. Các loại tiền bảo
chứng trên sở giao dịch gồm : Tiền bảo chứng ban đầu; tiền bảo chứng duy trì;
tiền bảo chứng biến đổi.
- Tiền bảo chứng ban đầu: Tiền bảo chứng ban đầu là khoản tiền ký quỹ
vào tài khoản bảo chứng để bảo đảm trang trải bất cứ khoản lỗ nào do những
biến động xấu trên thị trường.
- Tiền bảo chứng duy trì: Khi tiền bảo chứng đạt mức duy trì tối thiểu,
nhà đầu tư cần phải nộp tiền để đảm bảo đưa mức tiền bảo chứng trở lại tiền bảo
chứng ban đầu (Initial margin).
- Tiền bảo chứng biến đổi: Những khoản lỗ và lãi của những khách hàng
của các thành viên được kết toán thông qua trung tâm thanh toán bù trừ.
Đa số các hợp đồng tại SGDHH được thanh lý trước thời hạn
Thông thường, khi các bên muốn thanh lý hợp đồng trước ngày giao hàng
đồng nghĩa với việc thỏa thuận để chấm dứt hợp đồng hoặc thoả thuận chuyển
nghĩa vụ của mình cho người khác, khi đó các bên sẽ thoát khỏi sự ràng buộc về
nghĩa vụ với nhau. Nhưng trong hợp đồng giao sau được mua bán tại sở giao
dịch hàng hóa thì các bên có thể thanh lý hợp đồng trước ngày đáo hạn một cách
dễ dàng mà không cần phải thông qua một sự thoả thuận nào.
21
- Thanh toán hữu hình: để hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng, việc giao hàng
hữu hình đặt ra những chi phí rõ rệt: chi phí kho hàng, bảo hiểm, xếp tàu, và lệ
lập và quản lý các mức giá cả trên sở giao dịch; ghi nhận các giao dịch; giám sát
các hoạt động tại sàn; nhập và công cố các mức giá trong suốt phiên giao dịch
và các mức giá thực hiện ở cuối ngày giao dịch.
- Giám sát và quản lý các thành viên tham gia thị trường.
- Các hoạt động thanh toán bù trừ: bao gồm những công tác đảm bảo rủi
ro tín dụng; duy trì các tài khoản bảo chứng; thực hiện giao hàng đối với những
hợp đồng không được bù trừ trước hạn.
- Phát triển các loại sản phẩm mới: đưa vào áp dụng những công cụ tài
chính mới nhằm thu hút nhàđầu tư, đưa thêm các công cụ bảo hiểm.
SGDHH được coi là định chế tài chính trực tiếp.
Tại sở giao dịch, hàng hóa giao dịch sẽ có những quy định nghiêm ngặt
mà tất cả các thành viên đều phải tuân theo, qua đó làm cho thị trường hoạt
động minh bạch, công khai, chất lượng hơn. SGDHH với tư cách là thành viên
tham gia thị trường, bởi vậy bản thân SGDHH luôn tạo điều kiện thuận lợi cho
các thành viên tham gia và có những hoạt động hợp lý bảo vệ người tham gia thị
trường khác. SGDHH còn có vai trò là một trong những công cụ quản lý tài
chính của Chính phủ, thông qua SGDHH Chính phủ có thể thực thi các chính
sách kinh tế của mình dễ dàng, nhanh chóng và phát huy hiệu quả cao.
1.4. Vai trò của Sở giao dịch hàng hóa
SGDHH đã đem lại rất nhiều lợi ích như giảm các chi phí giao dịch, là
nơi tham khảo giá cả hàng hóa, và chuyển giao rủi ro. SGDHH đã thể hiện một
vai trò hết sức tích cực đối với những người tham gia cũng như toàn bộ nền kinh
tế nói chung.
1.4.1. Đối với người sản xuất:
Trong điều kiện thị trường không ngừng biến động thì vấn đề đặt ra cho
những người sản xuất đó là thị trường tiêu thụ không ổn định, thậm chí nhiều
23
lúc ở nhiều nơi các sản phẩm của người họ làm ra không tiêu thụ được. Thực
xuất để tránh rủi ro. Khi có một hợp đồng trong tay với số lượng, chất lượng,
giá cả và thời gian giao hàng đã biết trước, tức là đã nắm chắc đầu ra của sản
phẩm, người nông dân có thể vạch kế hoạch sản xuất, tiến hành huy động vốn,
mua sắm vật tư, mở rộng diện tích canh tác tiến hành áp dụng các kỹ thuật tiên
tiến để nâng cao năng suất và chất lượng. Đó là một yếu tố quan trọng để nâng
cao khối lượng nông sản, tận dụng được một cách hợp lý nguồn tài nguyên và
nhân lực.
1.4.2. Đối với người kinh doanh xuất khẩu:
Người kinh doanh xuất khẩu thường bị động về thời gian và khối lượng,
chất lượng, giá cả nên bỏ lỡ nhiều cơ hội xuất khẩu đáng tiếc, dẫn đến hiệu quả
xuất khẩu chưa cao. Do đó, việc hình thành các sở giao dịch là một giải pháp
cho những vấn đề đó. Nó còn đóng một vai trò tích cực trong việc giảm chi phí
sau đây:
- Chi phí trước giao dịch, gồm chi phí: tìm người mua hay người bán cho
hợp đồng, đánh giá độ tin cậy của đối tác, xác định mức giá hợp lý, thẩm định
chất lượng hàng hoá, đảm bảo tài chính để thanh toán giao dịch, xác định hình
thức thanh toán giao hàng và thanh toán và các điều khoản khác của hợp đồng.
- Chi phí thực hiện sau giao dịch: quản lý tín dụng và các dòng tiền, giám
sát việc giao hàng, thẩm định chất lượng hàng hoá được giao, những tranh cãi
trong quá trình mua bán, bảo hiểm, hoặc đền bù rủi ro vỡ nợ, v.v….
Kết hợp lại với nhau thì những chi phí này có thể là một khoản chi phí
đáng kể, đòi hỏi một khoản tiền, thời gian cũng như công sức đáng kể. Do đó sở
giao dịch với những chức năng của mình sẽ góp phần đáng kể vào việc giảm chi
phí này.
1.4.3. Đối với những nhà đầu cơ trên sở giao dịch hàng hóa
Hoạt động mua bán tại sở giao dịch chủ yếu diễn ra là nhằm mục đích thu
lợi nhuận thông qua hoạt động đầu cơ giá cả dựa trên những biến động về giá
cả. Bên cạnh những người lo sợ rủi ro giá cả biến động không có lợi thì cũng có
25