PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc
biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố
cac khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc
phòng. Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn về số lượng, cố định về vị trí, do vậy
việc sử dụng đất phải tuân theo quy hoạch cụ thể và có sự quản lý hợp lý.
Quản lý đất đai là một trong những nhiệm vụ quan trọng ở nước ta, nhằm
bảo vệ quyền sở hữu ở mọi chế độ, đảm bảo sử dụng đất đai có hiệu quả, đúng
mục đích, đúng chủ sử dụng. Bất cứ chế độ nhà nước nào ở nước ta cũng đều có
các hình thức sở hữu về đất đai. Đối với đất nước Việt Nam có nền kinh tế chủ
yếu là sản xuất nông nghiệp thì tầm quan trọng của đất đai vô cùng lớn. Do đó,
ngay từ khi ra đời Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã xóa bỏ các luật lệ
của nhà nước trước đó và chú trọng xây dựng chủ trương, chinh sách pháp luật
mới đối với đất đai.
Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 quy định một hình thức sở hữu đất
đai. Điều 19 Hiến pháp 1980 quy định: “ Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài
nguyên thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa, các xí nghiệp
công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thương nghiệp quốc doanh;
ngân hàng và tổ chức bảo hiểm; công trình phục vụ lợi ích công cộng; hệ thống
đường sắt, đường bộ, đường sông, đường biển, đường không; đê điều và công
trình thủy lợi quan trọng; cơ sở phục vụ quốc phòng; hệ thống thông tin liên lạc,
phát thanh, truyền hình, điện ảnh; cơ sở nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, cơ sở
văn hóa và xã hội cùng các tài sẳn khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước
– đều thuộc sở hữu toàn dân”.
1
Điều 17 Hiến pháp 1992 quy định: “ Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ,
1.2.1 Mục đích
- Nghiên cứu những quy định của Nhà nước và của ngành về đăng ký, cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và lập hồ sơ địa chính.
- Tìm hiểu kết quả đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và
lập hồ sơ địa chính của cả nước và Thành phố Hà Nội trong những năm qua.
- Tìm hiểu và đánh giá kết quả đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất và lập hồ sơ địa chính của Quận Tây Hồ - Thành phố Hà Nội từ khi có
luật đất đai 2003 đến nay.
- Tìm ra nguyên nhân và hạn chế trong công tác cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.
- Đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện công tác đăng ký, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và lập hồ sơ địa chính.
1.2.2 Yêu cầu
- Nắm vững hệ thống các văn bản pháp luật về đất đai mà Nhà nước đã
ban hành, đặc biệt là các văn bản có liên quan đến công tác đăng ký, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và lập hồ sơ địa chính.
- Số liệu, tài liệu điều tra phải chính xác, đầy đủ, đảm bảo cơ sở pháp lý,
đảm bảo tính khách quan.
- Hiểu và vận dụng tốt các quy trình, quy phạm, văn bản về đăng ký, cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hồ sơ địa chính.
- Đối chiếu, so sánh được giữa lý thuyết đã học với thực tế, vận dụng để
củng cố và nâng cao kiến thức.
- Những giải pháp và kiến nghị đưa ra phải phù hợp với điều kiện địa
phương.
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
chứng nhận quyền sử dụng đất. Thông qua công tác đăng ký đất đai, Nhà nước
nắm bắt được các thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và pháp lý của
thửa đất thì mới thực sự nắm chắc được tình hình sử dụng đất và quản lý chặt
chẽ mọi biến động đất đai theo đúng pháp luật.
2.1.2. Cơ sở pháp lý của công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất và lập hồ sơ địa chính
Ở nước ta, công tác đạc điền và quản lý điền địa được bắt đầu từ thế kỷ
thứ VI. Thời kỳ nhà Nguyễn, sau 31 năm ( 1805 – 1836 ), đã tiến hành lập xong
sổ Địa bạ cho 18.000 làng xã từ Mục Nam Quan tới mũi Cà Mau, bao gồm
10.044 tập. Sổ này phân biệt rõ đất công điền, tư điền của mỗi xã.
Thời kỳ Pháp thuộc và Mỹ ngụy ở miền Nam, mỗi thời kỳ Nhà nước có
những chính sách quản lý đất đai khác nhau. Dưới thời Pháp thuộc, do chính
sách cai trị của thực dân Pháp, việc đăng ký đất đai trên lãnh thổ Việt Nam được
thực hiện theo nhiều chế độ khác nhau cho từng miền như: Chế độ quản thủ địa
bộ tại Nam Kỳ; chế độ bảo tồn điền trạch, sau đổi thành quản thủ địa chính tại
Trung Kỳ; chế độ bảo thủ áp dụng với bất động sản của người Pháp và kiều dân
kết ước theo luật lệ Pháp quốc; chế độ điền thổ theo Sắc lệnh 29/3/1939 áp dụng
tại Bắc Kỳ; chế độ điền thổ theo Sắc lệnh 21/7/1925 áp dụng tại Nam Kỳ và các
nhượng địa của Pháp ở Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng.
Sau năm 1954, miền Nam Việt Nam bị chia cắt và từ phía Nam vĩ tuyến
17 bị đặt dưới ách cai trị của chính quyền Sài Gòn, việc đăng ký đất đai chủ yếu
kế thừa các hệ thống đăng ký đất đai đã được thực hiện theo 3 chế độ quản thủ
điền địa được thực hiện dưới thời Pháp thuộc trước đây ở Nam Bộ gồm: Chế độ
quản thủ địa chính áp dụng ở một số địa phương thuộc Trung Kỳ, chế độ quản
thủ địa bộ ở những địa phương thuộc Nam Kỳ đã thực hiện từ trước năm 1925,
tân chế độ điền thổ theo Sắc lệnh 1925. Tuy nhiên từ năm 1962, chính quyền Sài
5
quản lý ruộng đất trong cả nước. Trong Quyết định có nêu: “Để tăng cường và
thống nhất quản lý ruộng đất, tất cả các cá nhân, tổ chức sử dụng đất đều phải
khai báo chính xác và đăng ký các loại ruộng đất của chủ sử dụng vào sổ địa
chính của Nhà nước, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải kiểm tra báo cáo
này. Sau khi kê khai đăng ký các tổ chức hay cá nhân mà được xác nhận là sử
dụng đất hợp pháp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Ngày
10/11/1980 Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 299/TTg về công tác đo
đạc phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước.
Ngày 08/01/1988 Luật Đất đai đầu tiên của nước ta ra đời, đánh dấu sự
phát triển trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Tại Điều 9 Luật Đất đai
1988 quy định đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, quản lý các hợp
đồng sử dụng đất là một trong bảy nội dung quản lý Nhà nước về đất đai.
Ngày 23/03/1989 Chỉ thị số 67/CT-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về
một số biện pháp cần tiếp tục triển khai thực hiện để thi hành Luật Đất đai. Tại
khoản 2 Điều 6 của Chỉ thị có nêu rõ: chỉ đạo hoàn thành việc đo đạc, phân
hạng và đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính làm cơ sở cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Ngày 14/07/1989 Tổng
cục Quản lý ruộng đất ban hành Quyết định số 201/QĐ-ĐKTK vế việc ban hành
quy định cấp GCN quyền sử dụng đất. Tiếp đó, Tổng cục Quản lý ruộng đất ban
hành Thông tư 302/TT-ĐKTK hướng dẫn thi hành Quyết định số 201/QĐĐKTK. Kể từ khi có Luật Đất đai năm 1988 ra đời, nhìn chung công tác quản lý
đất đai dần dần đi vào ổn định. Nhà nước quản lý đất đai được chặt chẽ hơn,
hiệu quả hơn. Tuy nhiên, sau 5 năm thực hiện Luật Đất đai, cùng với sự phát
triển của nền kinh tế, nó đã bộc lộ nhiều nhược điểm, chưa phát huy hết vai trò
của đất đai trong sự nghiệp phát triển của đất nước. Năm 1992, Hiến pháp mới
ra đời, thay thế cho Hiến pháp 1980 thì Luật Đất đai cũng thay đổi. Ngày
14/07/1993 Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua
Luật Đất đai gồm 7 chương với 89 điều. Tại Điều 13 của Luật Đất đai 1993 tiếp
8
- Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/03/1998 về hướng dẫn thủ tục
đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/03/1999 của Chính phủ về thủ
tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế sử dụng đất, thế
chấp, góp vốn bằng giá trị sử dụng đất.
- Chỉ thị số 18/1999/CT-TTg ngày 01/01/1999 của Thủ tướng Chính phủ
về một số biện pháp đẩy mạnh việc hoàn thành cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất ở nông thôn vào năm 2000.
- Công văn số 767/CP-NN ngày 28/07/1999 của Chính phủ về việc cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu đất ở đô thị.
- Thông tư số 1442/1999/TTLT-TCĐC-BTC ngày 21/09/1999 của Tổng
cục Địa chính – Bộ Tài chính hướng dẫn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất theo Chỉ thị số 18/1999/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
- Thông tư số 1417/1999/TT-TCDDC ngày 18/09/1999 của Tổng cục Địa
chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/03/1999 của
Chính phủ về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế
quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất.
- Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về giao
đất, cho thuê đất nông nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn
định, lâu dài vào mục đích nông nghiệp (thay thế Nghị định số 02/CP ngày
15/01/1994 của Chính phủ).
- Nghị định số 66/2001/NĐ-CP ngày 28/09/2001 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định số 04/2000/NĐ-CP ngày 11/02/2000 về thi hành Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai.
- Nghị định số 79/2001/NĐ-CP ngày 01/11/2000 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/03/1999 về thủ tục chuyển đổi,
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về việc
thi hành Luật Đất đai.
- Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về xử
phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai.
10
- Quyết định số 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Thông tư số 29/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường về việc hướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính.
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
- Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu
tiền sử dụng đất khi cấp giấy chứng nhận.
- Thông tư số 01/TT-BTNMT ngày 13/04/2005 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP.
- Thông tư số 30/2005/TTLT/BTC-BTNMT ngày 18/04/2005 của liên bộ
Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc luân chuyển hồ sơ
của người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính.
- Thông tư số 05/2005/TTLT/BTP-BTNMT ngày 16/06/2005 thuộc liên
Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành hướng dẫn về trình tự,
thủ tục đăng ký và cung cấp thông tin về thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng
đất, tài sản gắn liền với đất.
- Nghị định số 127/2005/NĐ-CP ngày 10/10/2005 của Chính phủ hướng
dẫn giải quyết đối với một số trường hợp cụ thể về nhà đất trong quá trình thực
hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước
ngày 01/07/1991.
- Thông tư số 95/2005/TT-BTC ngày 26/10/2005 của Bộ Tài chính hướng
đính chính Thông tư số 70/2006/TT-BTC ngày 02/08/2006 của Bộ Tài chính.
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ quy định
bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện
quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai.
- Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15/06/2007 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-
12
CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ
tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu
nại về đất đai
- Thông tư số 09/2007/TT-BTNMT ngày 02/08/2007 hướng dẫn việc lập,
chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính.
- Thông tư liên tịch số 14/2008/TTLT/BTC-BTNMT ngày 31/01/2008
của Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số
điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 quy định bổ sung về
việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử
dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi
đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 của Chính phủ quy định
bổ sung về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư.
- Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất.
- Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 của Bộ Tài nguyên
thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách để chấn chỉnh việc cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai
2.1.3 Khái quát về đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
và lập hồ sơ địa chính
2.1.3.1 Đăng ký đất đai
a. Hồ sơ đăng ký đất đai ban đầu
Hồ sơ đăng ký đất đai ban đầu là toàn bộ các tài liệu được thiết lập trong
quá trình thực hiện thủ tục đăng ký đất đai ban đầu, phản ánh nội dung về mặt tự
nhiên, xã hội và pháp lý. Lập hồ sơ đăng ký đất đai ban đầu bao gồm rất nhiều
nội dung như: Điều tra cơ bản, kiểm tra các giấy tờ, các thủ tục giao đất.
14
Công tác lập hồ sơ đăng ký đất đai ban đầu là một hoạt động chuyên môn
của ngành quản lý đất đai, tạo cơ sở cho việc quản lý đất đai thường xuyên. Do
vậy, hồ sơ đăng ký đất đai ban đầu được coi là căn cứ pháp lý đầy đủ nhất để Nhà
nước quản lý đất đai một cách chặt chẽ nhất trên tất cả các mặt của thửa đất.
b. Đăng ký quyền sử dụng đất
Đăng ký quyền sử dụng đất là việc ghi nhận quyền sử dụng đất hợp pháp
đối với một thửa đất xác định vào hồ sơ địa chính nhằm xác lập quyền và nghĩa
vụ của người sử dụng đất.
Điều 38 Nghị định 181/NĐ-CP ngày 29/10/2004 quy định:
1. Đăng ký quyền sử dụng đất gồm đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu và
đăng ký biến động về sử dụng đất.
2. Đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu được thực hiện trong các trường
hợp sau:
- Được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng.
- Người đang sử dụng đất mà thứ đất đó chưa được cấp giấy chứng nhận
a) Trang 1 gồm Quốc hiệu, Quốc huy và dòng chữ "Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất" in màu
đỏ; mục "I. Tên người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất" và số phát hành Giấy chứng nhận gồm 2 chữ cái tiếng Việt và 6 chữ số, bắt
đầu từ BA 000001, được in màu đen; dấu nổi của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
b) Trang 2 in chữ màu đen gồm mục "II. Thửa đất, nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất", trong đó, có các thông tin về thửa đất, nhà ở, công trình xây
dựng khác, rừng sản xuất là rừng trồng, cây lâu năm và ghi chú; ngày tháng năm
ký Giấy chứng nhận và cơ quan ký cấp Giấy chứng nhận; số vào sổ cấp Giấy
chứng nhận;
c) Trang 3 in chữ màu đen gồm mục "III. Sơ đồ thửa đất, nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất" và mục "IV. Những thay đổi sau khi cấp Giấy chứng
nhận";
16
d) Trang 4 in chữ màu đen gồm nội dung tiếp theo của mục "IV. Những
thay đổi sau khi cấp Giấy chứng nhận"; những vấn đề cần lưu ý đối với người
được cấp Giấy chứng nhận; mã vạch.
*Đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Theo quy định tại các Điều 49, Điều 50 và Điều 51 của Luật Đất đai
2003, đối tượng được cấp giấy chứng nhận bao gồm hộ gia đình, cá nhân, cộng
đồng dân cư, tổ chức và cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất được Nhà nước giao
đất, cho thuê đất hoặc được công nhận quyền sử dụng đất.
*Căn cứ xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Sau khi người sử dụng đất nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận, cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét từng trường hượp cụ thể để
cấp giấy chứng nhận. Căn cứ để xét cấp giấy chứng nhận được quy định tại Điều
49 Luật Đất đai 2003, cụ thể như sau:
c. UBND cấp tỉnh ủy quyền cho Sở Tài nguyên và Môi trường cấp GCN cho tổ
chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân
nước ngoài trong các trường hợp sau:
- Cấp GCN cho nguời sử dụng đất đã có quyết định giao đất, cho thuê đất
của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà chưa được cấp GCN; có quyết định
giao lại đất hoặc hợp đồng thuê đất của Ban quản lý Khu công nghệ cao, Ban
quản lý Khu kinh tế; có văn bản công nhận kết quả đấu giá quyền sử dụng đát
phù hợp với pháp luật; có kết quả hòa giải tranh chấp đất đai được UBND tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương công nhận; có quyết định của cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền về việc chia tách hoặc sát nhập tổ chức; có văn bản về việc chia
tách hoặc sát nhập tổ chức kinh tế phù hợp với pháp luật; có thỏa thuận về xử lý
quyền sử dụng đất đã thế chấp, bảo lãnh để thu hồi nợ theo quy định của pháp
luật; có quyết định hành chính về giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại tố cáo
về đất đai, có bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định của cơ
quan thi hành án đã được thi hành.
18
- Cấp GCN cho người sử dụng đất thực hiện đăng ký biến động về sử
dụng đất khi hợp thửa, tách thửa mà thửa đất trước khi hợp thửa, tách thửa đã
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Cấp đổi GCN đã cấp bị ố, nhòe, rách, hư hại hoặc cấp lại GCN do bị mất.
- Cấp đổi GCN đối với các loại GCN về quyền sử dụng đất đã cấp theo
pháp luật về đất đai trước ngày 01/07/2004.
2.1.3.3 Hồ sơ địa chính
* Khái niệm về hồ sơ địa chính:
“Hồ sơ địa chính là hồ sơ phục vụ quản lý Nhà nước đối với việc sử dụng
đất”, là tập hợp các tài liệu cơ bản thể hiện chi tiết tới từng thứ đất, từng chủ sử
dụng và các nội dung khác theo yêu cầu quản lý Nhà nước đối với đất đai.
- Danh sách các chủ sử dụng đất đủ điều kiện cấp GCN quyền sử dụng đất
- Hồ sơ trình của UBND xã về việc cấp GCN quyền sử dụng đất gồm:
+ Biên bản kiểm tra hồ sơ
+ Kết quả kiểm tra hồ sơ
+ Kết quả đối chiếu tài liệu hồ sơ
+ Quyết định cấp GCN quyền sử dụng đất
Tại thông tư số 09/2007/TT-BTNMT ngày 02/08/2007 hướng dẫn
việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính nêu chi tiết hơn về nội dung hồ
sơ địa chính:
1. Hồ sơ địa chính gồm Bản đồ địa chính, Sổ địa chính, Sổ mục kê
đất đai, Sổ theo dõi biến động đất đai và bản lưu Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất.
Bản đồ địa chính, Sổ địa chính, Sổ mục kê đất đai, Sổ theo dõi biến động
đất đai có nội dung được lập và quản lý trên máy tính dưới dạng số (gọi là cơ sở
dữ liệu địa chính) để phục vụ cho quản lý đất đai ở cấp xã.
Cơ sở dữ liệu địa chính bao gồm dữ liệu Bản đồ địa chính và các dữ liệu
thuộc tính địa chính.
2. Dữ liệu bản đồ địa chính được lập để mô tả các yếu tố gồm tự nhiên có
liên quan đến việc sử dụng đất bao gồm các thông tin:
20
a. Vị trí, hình dạng, kích thước, tọa độ đỉnh thửa, số thứ tự, diện tích, mục
đích sử dụng của các thửa đất.
b. Vị trí, hình dạng, diện tích của hệ thống thủy văn gồm sông, ngòi, kênh,
rạch, suối; hệ thống thủy lợi gồm hệ thống dẫn nước, đê, đập, cống; hệ thốn
đường giao thông gồm đường bộ, đường sắt, cầu và các khu vực đất chưa sử
dụng không có ranh giới thửa khép kín.
c. Vị trí, tọa độ các mốc giới và đường địa giới hành chính các cấp, mốc
Nhà ở (sau đây goi chung là bản lưu Giấy chứng nhận).
Đối với GCN quyền sử dụng đất đã cấp mà không có bản lưu thì Văn
phòng đăng ký quyền sử dụng đất phải sao GCN đó (sao y bản chính) khi thực
hiện đăng ký biến động về sử dụng đất; bản sao GCN này được coi là bản lưu
GCN để sử dụng trong quản lý.
2.2 Kết quả công tác quản lý đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất và lập hồ sơ địa chính trong những năm qua trên cả nước và của Thành
phố Hà Nội.
2.2.1 Kết quả công tác quản lý đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất trên địa bàn cả nước.
2.2.1.1 Kết quả đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận trước khi có Luật Đất đai
2003
Việc cấp GCN quyền sử dụng đất được thực hiện từ năm 1990 theo quy
định của Luật Đất đai 1988 và Quyết định số 201/QĐ/ĐKTK ngày 14/07/1989
của Tổng cục Quản lý ruộng đất (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) về việc
cấp GCN quyền sử dụng đất. Song trong những năm trước khi có Luật Đất đai
1993, kết quả cấp giấy chứng nhận đạt được chưa đáng kể. Phần lớn các địa
phương mới triển khai thí điểm hoặc thực hiện cấp GCN quyền sử dụng đất tạm
thời cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp.
Từ khi có Luật Đất đai 1993, việc cấp GCN quyền sử dụng đất mới được
các địa phương coi trọng và triển khai mạnh. Tuy nhiên do còn nhiều khó khăn
về các điều kiện thực hiện (chủ yếu là thiếu kinh phí, lực lượng chuyên môn
thiếu và yếu về năng lực) và còn nhiều vướng mắc trong các quy định về cấp
22
GCN quyền sử dụng đất nên tiến độ cấp GCN trong cả nước còn chậm. Kết quả
cấp GCN các loại đất đến hết năm 2003 của cả nước như sau:
- Đất sản xuất nông nghiệp cấp được 12.194.911 giấy với diện tích
TT
chính
Đất nông nghiệp
Số giấy
(giấy)
1
2
3
4
5
6
7
8
Diện tích
(ha)
Cả nước
8.316.52
9
16,173,096
Miền núi phía
1.079.07
Bắc
7
2,186,396
Đồng bằng
Số giấy Số giấy Diện tích
tích
giấy
(giấy)
(ha)
(giấy)
(giấy)
(giấy)
(ha)
(ha)
(giấy)
10.371.48 961.75 596.17 11.671.55 435.96
83.10
2.629.232
3.685.259
2
9
7
3
7
9
11.70
1.068.558 4.312.110 98.908 19.460 1.997.909 98.591 525.546
9
356.43
10.912
25.923
18.867 2.952.270 87.280 751.014 12.487
8
10.30
863.678 15.790 24.066 84.335 1.901
42.887 19.362
2.545.251
303.476
337.78
514.571 2.245.494 85.571
5
532.934
723
22.386 52.760 8.426 2.192
642.834
720.056
53.992
29.241 80.928
1.839
1.273.728 153.898
(Nguồn số liệu do Phòng Tài nguyên và Môi trường quận Tây Hồ cung cấp)
24
* Đối với đất sản xuất nông nghiệp:
Đã cấp 16.173.096 giấy với diện tích 8.316.529 ha, đạt 85,1% diện tích
cần cấp. Trong đó có 29 tỉnh đạt trên 90%, 11 tỉnh đạt 80% - 90%, 4 tỉnh đạt
70% - 80%, 17 tỉnh đạt 50% - 70% và 2 tỉnh đạt dưới 50%.
* Đối với đất lâm nghiệp:
Đã cấp 2.629.232 giấy với diện tích 1..371.482 ha, đạt 86,3% diện tích
cần cấp. Trong đó có 21 tỉnh đạt trên 90%, 6 tỉnh đạt 80% - 90%, 7 tỉnh đạt 70%
- 80%, 9 tỉnh đạt 50% - 70% và 15 tỉnh đạt dưới 50%.
Việc cấp GCN cho đất lâm nghiệp trong thời gian dài gặp khó khăn do
không có bản đồ địa chính. Chính phủ đã quyết định đầu tư để lập bản đồ địa
chính mới cho toàn bộ đất lâm nghiệp nên đã đẩy nhanh được tiến độ cấp GCN
cho đất lâm nghiệp.
* Đối với đất nuôi trồng thủy sản:
Đã cấp 961.759 giấy với diện tích 596.177 ha, đạt 57,1% diện tích cần
cấp. Trong đó số giấy được cấp chủ yếu là ở miền Tây Nam Bộ.
* Đối với đất ở tại nông thôn:
Đã cấp 11.671.553 giấy với diện tích 435.967 ha, đạt 79,3% diện tích đất
cần cấp. Trong đó có21 tỉnh đạt trên 90%, 16 tỉnh đạt 80% - 90%, 7 tỉnh đạt
70% - 80%, 13 tỉnh đạt 50% - 70% và 6 tỉnh đạt dưới 50%. Từ ngày 01/07/2006,
các địa phương đã thực hiện quyền sở hữu nhà ở gắn liền với đất ở cho người có
nhu cầu theo quy định của Luật Nhà ở.
* Đối với đất ở tại đô thị:
Đã cấp 3.685.259 giấy với diện tích 83.109 ha, đạt 63,5% diện tích cần
cấp. Trong đó có 15 tỉnh đạt trên 90%, 9 tỉnh đạt 80% - 90%, 12 tỉnh đạt 70% 80%, 14 tỉnh đạt 50% - 70% và 13 tỉnh đạt dưới 50%. Từ ngày 01/07/2006, các
địa phương đã thực hiện quyền sở hữu nhà ở gắn liền với đất ở cho người có nhu