BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-----------------
NGUYỄN HỒNG THANH
ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG
PHÂN PHỐI HÀNG HÓA TRONG NƯỚC TRONG
BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Hµ Néi – 2008
B GIO DC V O TO
TRNG I HC NGOI THNG
NGUYN HNG THANH
đổi mới tổ chức và hoạt động của
hệ thống phân hàng hoá trong n-ớc
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Chuyờn ngnh : Kinh t th gii v Quan h Kinh t Quc t
Mó s
: 60.31.07
luận văn thạc sỹ kinh tế
mặt hàng như cà phê (thứ 2 thế giới), hạt điều (số 1 thế giới), gạo (thứ 2 thế giới),
hạt tiêu (số 1 thế giới). Năng lực sản xuất gia tăng mạnh mẽ trong khi khả năng xuất
khẩu chỉ đáp ứng được một phần khiến việc tiêu thụ hàng hóa và tổ chức hoạt động
của hệ thống phân phối hàng hóa trong nước trở thành một trong những vấn đề thu
hút được sự quan tâm và trở thành những trọng tâm của phát triển thương mại trong
nước trong bối cảnh hiện nay. Chỉ có trên cơ sở tổ chức tốt hệ thống phân phối hàng
hóa trong nước thì việc tiêu thụ hàng hóa mới được đẩy mạnh, qua đó góp phần
phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả của hoạt động thương mại.
Từ ngày 12/1/2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO). Theo lộ trình cam kết mở cửa thị trường dịch
vụ, Việt Nam đã đưa vào phạm vi cam kết ngành dịch vụ phân phối. Đây là một
ngành kinh tế quan trọng, có đóng góp lớn trong tổng thu nhập quốc dân đồng thời
cũng có mức độ nhạy cảm cao với ổn định kinh tế xã hội trong nước. Nếu tính cả
hoạt động sửa chữa động cơ ô tô, xe gắn máy, đồ dùng cá nhân và gia đình thì từ
năm 2000 tới nay, dịch vụ phân phối chiếm khoảng 14% GDP <1>. Đây cũng là
một ngành thu hút nhiều lao động. Theo thống kê trong vài năm trở lại đây, lao
động trong lĩnh vực phân phối chiếm khoảng 11,5% tổng lao động của cả nước,
tương đương với ngành công nghiệp chế biến <2>.
Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung và bao cấp trước đây, việc điều tiết
hàng hóa lưu thông trong hệ thống phân phối là do sự áp đặt chủ quan của các cơ
quan quản lý Nhà nước. Hiện nay, phần lớn các mặt hàng chúng ta đang để cho cơ
chế thị trường tự điều tiết hoạt động phân phối. Việc mở cửa và hội nhập với nền
kinh tế thế giới sẽ đặt dịch vụ phân phối của nước ta và các doanh nghiệp ngành
phân phối nói riêng trước những cuộc cạnh tranh nhằm chiếm lĩnh thị phần. Họ sẽ
mất đi hàng rào bảo hộ để đương đầu cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài
không chỉ có tiềm lực mạnh về các hệ thống phân phối hàng hóa mà còn dày dạn
các kinh nghiệm và thủ pháp cạnh tranh phân phối. Từ đó, một nhu cầu đặt ra đối
với các nhà quản lý, các cơ quan chức năng là phải đổi mới tổ chức và hoạt động
triển thương mại trong nước đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” do Bộ
Công Thương biên soạn năm 2007, “Quy chế quản lý kinh doanh và tổ chức hệ
thống phân phối” đối với một số mặt hàng thiết yếu như phân bón, xăng dầu, sắt
thép, xi măng, dược phẩm, …
Tài liệu nước ngoài nghiên cứu về dịch vụ phân phối và hệ thống phân phối
gồm “Distribution services-Background note by the Secretariat” do Ban Thư ký
WTO biên soạn năm 1998, “Regulation and Performance in the Distribution
Sector” do Pilat, D. biên soạn năm 1997, “Impact on Services: Distribution, The
Single Market Review” do Ủy ban Châu Âu biên soạn năm 1997 và “Retail
Distribution Channel Barriers to International Trade” do trường Đại học Havard,
Hoa Kỳ biên soạn năm 1995.
Ngoài ra, các chủ đề liên quan tới các cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ
phân phối và công tác xây dựng hành lang pháp lý điều chỉnh các cam kết, những
tác động của sự bất ổn định trong tổ chức và hoạt động hệ thống phân phối sau khi
Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đang giành được quan
tâm trên báo chí, truyền hình, đài phát thanh và các phương tiện thông tin đại chúng
khác. Các luồng thông tin này tuy khá phong phú nhưng còn rải rác, không mang
tính tổng hợp, nhìn nhận chung. Một số ít thông tin thậm chí còn chưa đảm bảo tính
chính xác. Ngoài ra, một số cơ quan chức năng, các Tổng công ty cũng đã tiến hành
điều tra, khảo sát, đánh giá về một số kênh phân phối lẻ một số mặt hàng có tầm
quan trọng trong nền kinh tế.
Tuy nhiên xét về tổng thể, hiện chưa có nghiên cứu cụ thể nào về hệ thống phân
phối hàng hóa trong nước và đề xuất các giải pháp để hoàn thiện hoạt động của hệ
thống này, đặc biệt trong bối cảnh nước ta vừa trở thành thành viên của WTO và đang
triển khai thực hiện các cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối.
3. Mục tiêu nghiên cứu:
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ, người viết đặt mục tiêu tổng hợp
một số vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống phân phối hàng hóa, nghiên cứu các đặc
Ngoài phần Mục lục, Lời mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 Chương:
CHƢƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG PHÂN
PHỐI HÀNG HÓA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG PHÂN PHỐI HÀNG HÓA
TRONG NƢỚC
CHƢƠNG III: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TỔ
CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG PHÂN PHỐI HÀNG HÓA
TRONG NƢỚC TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, PHỤ LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƢƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG PHÂN PHỐI
HÀNG HÓA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ................... 1
I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM ............................................................................................. 1
1. Khái niệm và phân loại dịch vụ phân phối hàng hóa ...................................... 1
1.1.
Khái niệm ...................................................................................... 1
1.2.
Phân loại ........................................................................................ 1
2. Khái niệm, tổ chức và phân loại hệ thống phân phối hàng hoá ..................... 2
2.1.
4.3.2. Yêu cầu đặt ra đối với hệ thống phân phối hàng hóa của
Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ....................... 23
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG CỦA HỆ THỐNG PHÂN PHỐI HÀNG HÓA
TRONG NƢỚC ............................................................................................................ 26
I. Tổng quan hệ thống phân phối hàng hóa trong nƣớc .......................................... 26
1. Hệ thống phân phối hàng hóa truyền thống .................................................. 31
2. Hệ thống phân phối hàng hóa hiện đại .......................................................... 36
II. Hành lang pháp lý điều chỉnh hệ thống phân phối hàng hóa trong nƣớc ......... 40
1. Các văn bản pháp lý điều chỉnh việc thành lập và hoạt động doanh nghiệp
(gia nhập thị trường) ..................................................................................... 40
2. Hệ thống luật pháp điều chỉnh hoạt động trên thị trường ............................ 41
3. Hệ thống chính sách khuyến khích sự phát triển trên thị trường .................. 42
4. Hệ thống các văn bản pháp lý triển khai cam kết về dịch vụ phân phối của
Việt Nam khi gia nhập WTO ........................................................................ 43
III. Cơ hội và thách thức đối với hệ thống phân phối hàng hóa trong nƣớc trong
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế............................................................................... 46
1. Cam kết quốc tế về mở cửa dịch vụ phân phối của Việt Nam ..................... 46
2. Cơ hội đối với hệ thống phân phối hàng hóa trong nước trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế ...................................................................................... 49
3. Thách thức đối với hệ thống phân phối hàng hóa trong nước trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ........................................................................ 51
CHƢƠNG III: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ
HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG PHÂN PHỐI HÀNG HÓA TRONG NƢỚC
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ......................................... 55
I. Kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng hệ thống phân phối hàng hóa trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ..................................................................................... 55
1. Kinh nghiệm của Thái lan ............................................................................. 55
2. Kinh nghiệm của Trung Quốc ....................................................................... 57
2.9. Nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý Nhà nước đối với hệ thống
phân phối hàng hóa trong nước..................................................................... 82
KẾT LUẬN
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, PHỤ LỤC
BẢNG BIỂU
Bảng II.1.: Tỷ trọng các ngành trong nền kinh tế năm 2007
Trang 27
Bảng II.2.: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ trên thị trường trong
Trang 28
nước giai đoạn 2003-2007
Bảng II.3.: Việt Nam-Thị trường bán lẻ hấp dẫn thứ 4 thế giới
Trang 30
Biểu đồ II.4.: Tỷ trọng các loại hình phân phối trong hệ thống phân phối
Trang 31
trong nước
Biểu đồ II.5.: Tỷ trọng đầu tư các ngành trong nền kinh tế
Trang 31
Trang 7
Sơ đồ I.2: Các dòng lưu chuyển trong hệ thống phân phối hàng hoá
Trang 11
Sơ đồ I.3.: Các cấp độ hội nhập kinh tế khác nhau
Trang 19
Sơ đồ II.1: Hệ thống phân phối hàng nông sản, thực phẩm
Trang 29
Sơ đồ II.2.: Hệ thống phân phối hàng tiêu dùng thông thường
Trang 29
Sơ đồ II.3.:Hệ thống phân phối hàng công nghiệp tiêu dùng lâu bền
Trang 30
Sơ đồ II.4.:Hệ thống phân phối hàng chuyên ngành
Trang 30
Sơ đồ II.5.: Hệ thống phân phối xi măng của Tổng Công ty Xi măng Việt Nam Trang 32
Sơ đồ II.6.: Hệ thống phân phối thép của Tổng Công ty thép Việt Nam
Trang 33
có mối quan hệ biện chứng với nhau. Có rất nhiều loại dịch vụ khác nhau như dịch vụ
vận tải, dịch vụ logistics, dịch vụ viễn thông, dịch vụ tài chính, dịch vụ pháp lý, … đã
và đang được cung cấp để phục vụ nhu cầu của nền kinh tế, trong đó có một dịch vụ
quan trọng là dịch vụ phân phối. Theo định nghĩa đơn giản nhất trong lĩnh vực
marketing, dịch vụ phân phối hàng hóa là quá trình đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến
với người tiêu dùng cuối cùng. Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, dịch vụ phân phối
không chỉ đơn thuần là mang tính chất của dịch vụ vận tải mà còn gắn liền với các
phân ngành dịch vụ khác như đóng gói, quảng cáo, logistics, … và có đóng góp giá trị
gia tăng đáng kể vào sản phẩm. Dịch vụ phân phối còn mang ý nghĩa thuận lợi hóa
thương mại, thúc đẩy dòng lưu chuyển hàng hóa, tăng tốc độ quay vòng vốn cho doanh
nghiệp cũng như đáp ứng kịp thời nhu cầu của người tiêu dùng.
1.2.
Phân loại
Dịch vụ phân phối hàng hóa được phân loại chính thức trong tài liệu mã số
MTN.GNS/W/120 (thường được gọi tắt là tài liệu W/120) do các nước thành viên
WTO xây dựng trong Vòng Uruguay và phần lớn dựa trên Danh mục Phân loại tạm
thời các sản phẩm chính của Liên hiệp Quốc (CPC), theo đó lĩnh vực dịch vụ này
được định nghĩa bao gồm bốn nhóm dịch vụ chính: dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ
bán buôn, dịch vụ bán lẻ và nhượng quyền thương mại (franchising)2. Các đại lý
hoa hồng khác với những nhóm còn lại ở chỗ họ tiến hành giao dịch thay mặt cho
người khác, ví dụ họ bán những mặt hàng được cung cấp và thông thường những
hàng này thuộc sở hữu của người khác cho những người bán buôn, bán lẻ hoặc các
cá nhân. Phân ngành dịch vụ bán buôn bao gồm việc bán hàng cho những người bán
lẻ, những doanh nghiệp sử dụng của các ngành công nghiệp, thương mại, các tổ
chức hoặc các đơn vị chuyên môn, hoặc cho những người bán buôn khác. Những
2
Mặc dù việc sử dụng Danh mục W/120 nói trên không có tính bắt buộc, nhưng hầu hết các thành viên WTO
Nghị định 75/CP-NĐ, ngày 27/10/1993 và Quyết định số 143 TCTK/PPCĐ, ngày
22/12/1993 về việc ban hành hệ thống ngành kinh tế quốc dân cấp II, III, IV của
Tổng cục Thống kê thì khu vực dịch vụ (không bao gồm các ngành tiện ích công
cộng và xây dựng) được chia thành 9 ngành với 16 phân ngành, trong đó có ngành
phân phối được chia thành 4 phân ngành (bán buôn, bán lẻ, đại lý, nhượng quyền
thương mại). Như vậy là cách phân loại trong Nghị định 75 là tương đương với
cách phân loại của Tổ chức Thương mại Thế giới.
2. Khái niệm, tổ chức và phân loại hệ thống phân phối hàng hoá
2.1. Khái niệm hệ thống phân phối hàng hóa
Đứng dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về hệ
thống phân phối hàng hóa. Đối với người tiêu thụ, hệ thống phân phối hàng hóa
được xem là một khâu trung gian giữa họ và người sản xuất. Đối với chính bản thân
người phân phối hàng hóa, hoạt động chuyển quyền sở hữu hàng hóa lại được họ
3
Mặc dù phân ngành nhượng quyền thương mại được phân loại trong Danh mục CPC như một nhóm dịch vụ
phân phối, nhưng nó khác về chất so với ba nhóm còn lại. Phân ngành này liên quan nhiều đến những thoả
thuận bằng hợp đồng, theo đó một nhà phân phối hàng hóa có quyền sử dụng một cơ sở bán lẻ hoặc một
thương hiệu.
3
coi là bản chất và là cốt lõi của một hệ thống phân phối. Người sản xuất lại nhấn
mạnh vào việc lựa chọn các trung gian khác nhau để đưa sản phẩm đến tay người
tiêu dùng và do vậy coi hệ thống phân phối hàng hóa là hình thức đại diện chuyển
sản phẩm qua các trung gian khác nhau.
Theo một cách hiểu chung nhất, hệ thống phân phối hàng hóa là hình thức và
cách thức thể hiện quyền phân phối nhằm lưu thông và mua bán hàng hóa qua các loại
hình thương mại: truyền thống, hiện đại, điện tử, internet và các loại hình khác trong
Hệ thống phân phối hàng hóa này bao gồm tất cả các dòng chảy hàng hóa của nền
4
kinh tế từ người sản xuất tới người tiêu dùng cuối cùng (cả tiêu dùng cá nhân và
tiêu dùng cho sản xuất) nhằm đảm bảo cung cầu phù hợp và đạt các mục tiêu của xã
hội. Toàn bộ hệ thống phân phối hàng hóa vĩ mô là đối tượng nghiên cứu để hoạch
định các chính sách tổ chức và quản lý lưu thông phân phối của nhà nước.
Kênh phân phối hàng hóa là một cấp độ thấp hơn của hệ thống phân phối
hàng hóa. Theo đó, kênh phân phối hàng hóa là bộ phận cấu thành quan trọng trong
hệ thống hàng hóa bên cạnh các nhà phân phối hàng hóa. Một kênh phân phối gồm
một nhóm các nhà phân phối có cùng cấp độ và cùng phân phối một mặt hàng nhất
định với những đặc điểm riêng. Mạng lưới các kênh phân phối hàng hóa với các
mối quan hệ hữu cơ tạo nên một hệ thống phân phối hàng hóa.
2.2. Tổ chức hệ thống phân phối hàng hóa
Là tiến hành trực tiếp hoặc gián tiếp thành lập, thiết lập, thỏa thuận, sắp xếp, sắp
đặt, chuẩn bị, lên kế hoạch cho việc hình thành một và/hoặc các hình thức và cách thức,
loại hình thương mại của hệ thống phân phối để tiến hành phân phối. Ta có thể nhận
thấy một số nguyên tắc cơ bản trong tổ chức hệ thống phân phối như sau:
Xét trên quan điểm quản lý vĩ mô, việc tổ chức một hệ thống phân phối hàng
hóa phải tuân thủ theo 4 nguyên tắc cơ bản là:
(i) Nhiều kênh, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh và kiểm soát độc quyền,
(ii) Các thành phần kinh tế được tham gia bình đẳng,
(iii) Nhiều phương thức phân phối khác nhau để thuận lợi cho người tiêu dùng,
(iv) Ít tầng nấc trung gian không cần thiết để giảm chi phí và tăng hiệu quả.
Ngoài ra tổ chức hệ thống phân phối hàng hóa phải đảm bảo thêm một số
yêu cầu sau:
Đảm bảo nguyên tắc về hiệu quả kinh tế nghĩa là phải đảm bảo phân chia
các công việc phân phối tối ưu giữa các thành viên trong hệ thống. Các hệ thống
làm thiệt hại đến lợi ích của toàn hệ thống. Bởi vậy, để tăng kết quả và hiệu quả
hoạt động của hệ thống, các thành viên của nó cần phải sử dụng một số hoặc tất cả
các cơ chế sẵn có để tạo ra sự hợp tác trong kênh phân phối. Trong tổ chức hệ thống
phân phối đòi hỏi các thành viên phải giải quyết các mối quan hệ theo nguyên tắc
bình đẳng, hai bên cùng có lợi, các bên có mục tiêu chung.
Tổ chức hệ thống phân phối hàng hóa phải năng động, linh hoạt, thích
ứng với những thay đổi không ngừng của thị trường và môi trường kinh doanh
Hệ thống phân phối hàng hóa hoạt động trong một môi trường phức tạp chịu
sự chi phối của nhiều yếu tố và lực lượng khác nhau. Khi những yếu tố môi trường
thay đổi, nhà quản lý hệ thống cũng phải thay đổi chiến lược và biện pháp quản lý
của mình để thích ứng với những hoàn cảnh thị trường mới. Những yếu tố môi
trường chủ yếu ở Việt Nam đang có nhiều biến đổi ảnh hưởng tới hoạt động của các
hệ thống phân phối. Các thành viên phải hiểu rõ những biến động trên thị trường để
tổ chức lại các kênh phân phối của mình.
Tổ chức hệ thống phân phối hàng hóa phải có sự phân biệt giữa các vị trí
thành viên trong hệ thống, theo đặc điểm kinh tế kỹ thuật của từng sản phẩm và trên
từng hoàn cảnh thị trường cụ thể, đảm bảo tính bổ trợ lẫn nhau.
Người sản xuất thường tổ chức và quản lý quá trình tiêu thụ sản phẩm xuôi
xuống phía dưới hệ thống, còn người bán lẻ khi tổ chức thì tổ chức hệ thống phân
phối hàng hóa ngược lên phía người sản xuất. Những người bán buôn đối mặt với
các quyết định thiết kế hệ thống phân phối hàng hóa từ cả hai phía. Sản phẩm khác
nhau, thị trường khác nhau tất yếu phải sử dụng những kiểu, phương thức phân phối
6
khác nhau. Đó cũng chính là nguyên tắc để tổ chức hệ thống phân phối hàng hóa
theo dạng liên kết dọc, ngang, hỗn hợp.
Việc tham gia vào hệ thống phân phối hàng hóa là trực tiếp hoặc gián tiếp
quản lý, nắm giữ vốn hoặc cổ phần, thâu tóm, kết hợp, phối hợp, liên kết, liên
- Bề rộng của hệ thống phân phối hàng hóa biểu hiện ở số lượng trung gian ở
mỗi cấp độ trung gian.
- Các loại trung gian ở mỗi cấp độ của hệ thống phân phối.
7
2.3. Phân loại hệ thống phân phối hàng hóa
Có một số các tiêu chí khác nhau để phân loại các hệ thống phân phối hàng
hóa. Nếu căn cứ trên cấu trúc của hệ thống phân phối, có thể chia hệ thống phân
phối hàng hóa thành hai loại (i) Hệ thống phân phối hàng hóa trực tiếp từ người sản
xuất đến người tiêu dùng và (ii) Hệ thống phân phối hàng hóa qua các kênh trung
gian. Trên cơ sở đó, ta có thể mô hình hóa một số hệ thống phân phối có tính đại
diện như sau:
Sơ đồ I.1.: Một số hệ thống phân phối hàng hóa đại diện
1
Ngƣời tiêu dùng
cuối cùng
Ngƣời sản xuất
2
3
Ngƣời sản xuất
Ngƣời bán buôn
Ngƣời tiêu dùng
cuối cùng
cá nhân tham gia vào hệ thống phân phối hàng hóa truyền thống không muốn phụ
thuộc lẫn nhau quá nhiều trong quá trình kinh doanh. Vì lợi ích kinh tế mà mỗi
người thường tập trung hoạt động của họ vào một số công việc cụ thể của hệ thống
phân phối hàng hóa. Những người tham gia vào hệ thống phân phối hàng hóa tự
phát tìm kiếm lợi ích bất cứ khi nào, ở đâu và bằng mọi cách có thể. Họ cũng tìm
cách cải tiến những quan hệ phân phối cho hiệu quả những không có trách nhiệm
đầy đủ trước kết quả cuối cùng của hệ thống phân phối hàng hóa. Chính cơ chế thị
8
trường tự do và tín hiệu giá cả đã tạo nên các hệ thống phân phối hàng hóa truyền
thống. Ví dụ về hệ thống phân phối hàng hóa truyền thống là các nhà trung gian
thương mại sẵn sàng tham gia vào quá trình đưa sản phẩm từ nơi có giá thấp đến
nơi có giá cao. Nhiều trung gian thương mại mua và bán bất cứ loại hàng hóa nào
nếu thấy có chênh lệch giá và lợi nhuận.
Các quan hệ buôn bán trong các hệ thống phân phối hàng hóa truyền thống
thường không liên tục và ổn định. Các thành viên chỉ tham gia vào mua bán trong
hệ thống khi họ vẫn thấy còn có thể thu được lợi nhuận. Các thành viên sẽ tự động
rời bỏ hệ thống phân phối hàng hóa nếu thấy lợi ích không còn. Bởi vậy, các hệ
thống phân phối hàng hóa truyền thống có thể bị phá vỡ nhanh chóng bởi một thành
viên nào đó nếu họ thấy quan hệ kinh doanh không còn hấp dẫn. Có thể mô tả hệ
thống phân phối hàng hóa truyền thống như một tập hợp ngẫu nhiên các doanh
nghiệp và cá nhân độc lập về chủ quyền và quản lý, mỗi người đều ít quan tâm đến
hoạt động của cả hệ thống phân phối. Đây là một mạng lưới rời rạc, kết nối một
cách lỏng lẻo các nhà sản xuất, bán buôn, bán lẻ hoạt động độc lập có buôn bán trực
tiếp với nhau, tích cực thương lượng về các điều khoản mua bán. Nhược điểm của
hệ thống phân phối hàng hóa kiểu này là thiếu sự lãnh đạo tập trung, hiệu quả hoạt
động kém và có nhiều xung đột tai hại.
(ii) Hệ thống phân phối hàng hóa liên kết dọc: