TIỂU LUẬN LICH SU DANG VÀ Chủ trương đúng đắn của Đảng quyết định đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội sau năm 1954 - Pdf 35

MỤC LỤC
1.2. Khó khăn......................................................................................................................3

KẾT LUẬN......................................................................................................25
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................26


2

MỞ ĐẦU
Trung thành với Cương lĩnh chính trị đã vạch ra từ năm 1930, sau khi cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, Đảng ta chủ trương đưa miền Bắc lên
chủ nghĩa xã hội, nhằm đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân miền
Bắc và làm hậu phương vững chắc cho việc thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân ở miền Nam, đấu tranh thống nhất nước nhà. Tuy nhiên, công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc gặp phải không ít những khó khăn, thách thức
đòi hỏi Đảng ta phải có chủ trương và sự chỉ đạo đúng đắn, khắc phục hậu quả
chiến tranh, đẩy mạnh sản xuất chi viện sức người, sức của cho chiến trường
chính miền Nam, hoàn thành nhiệm vụ chiến lược của cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân. Vì vậy, em chọn đề tài tiểu luận: “Chủ trương đúng đắn của
Đảng quyết định đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội sau năm
1954” nhằm làm rõ những chủ trương đúng đắn, sáng tạo của Đảng
trong lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc từ sau năm
1954.
1. Đặc điểm miền Bắc bước vào thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
1.1. Thuận lợi
Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc tiến hành trong hoàn cảnh đất
nước tạm thời bị chia làm hai miền, mỗi miền có chế độ chính trị, xã hội khác
nhau. Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7-5-1954) miền Bắc hoàn toàn
giải phóng, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân về cơ bản đã hoàn thành,
bước vào thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đế quốc Mỹ thay chân thực dân

độc lập tự chủ, bảo đảm vừa tranh thủ được sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ
nghĩa, góp phần đấu tranh vì sự thống nhất của phong trào cộng sản và công nhân
quốc tế, vừa giữ vững được độc lập, tự chủ trong tiến trình cách mạng.
Thứ ba, xuất phát điểm đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta rất
thấp - từ một nước nông nghiệp, sản xuất nhỏ là phổ biến, cơ sở vật chất nghèo
nàn, lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Trong khi đó, mô hình chủ nghĩa
xã hội mà Liên Xô và các nước Đông Âu áp dụng có điều kiện, hoàn cảnh, xuất
phát điểm không giống nước ta. Vì vậy, việc xác định mô hình, bước đi phải có


4

thời gian để tìm tòi, khảo nghiệm. Đây cũng là đặc điểm lớn chi phối đến đường
lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
Trong bối cảnh như vậy, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền
Bắc (1954-1975) đặt ra phải có chủ trương lãnh đạo đúng đắn, phát huy tối đa
mọi nguồn lực, tranh thủ thời cơ khoắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên phạm vi cả nước.
2. Chủ trương đúng đắn của Đảng đưa miền Bắc quá độ lên chủ
nghĩa xã hội sau năm 1954
2.1. Đường lối chung cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc sau
1954
Từ tháng 7 năm 1954 đến tháng 9 năm 1960, trong quá trình lãnh đạo
cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, Đảng ta đã tích lũy được những kinh
nghiệm bước đầu, từng bước xác lập nội dung cơ bản về đường lối cách mạng
xã hội chủ nghĩa.
Trên cơ sở đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9-1960)
đã phân tích những đặc điểm cơ bản của miền Bắc khi bước vào thời kì quá độ
lên chủ nghĩa xã hội, xác định đường lối chung cách mạng Việt Nam trong giai
đoạn mới, đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và đường

cách hợp lí, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; đẩy
mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa về tư tưởng, văn hoá và kĩ thuật, để biến nước
ta thành một nước xã hội chủ nghĩa có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện
đại, văn hóa, khoa học tiên tiến.
Về nhịp độ và bước đi của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là:
tiến nhanh , tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.
Đại hội xác định cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có vị trí quyết
định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng nước ta, đối với sự nghiệp
thống nhất nước nhà.
Đại hội đã đề ra nhiệm vụ, phương hướng kế hoạch 5 năm lần thứ nhất
(1961-1965), nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.
Thực chất đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc do Đại hội
lần thứ III của Đảng xác định là đường lối tiến hành cách mạng về quan hệ sản
xuất và lực lượng sản xuất, về xây dựng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng,
nhằm tạo ra một hình thái kinh tế - xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa.
Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Lao động Việt Nam, Văn kiện đại hội, Tập 1, Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Lao động Việt Nam, xuất bản 9-1960, tr 179-180.
1


6

Những tư tưởng cơ bản của đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền
Bắc còn được Đảng ta tiếp tục bổ sung, phát triển trong những năm tiếp theo.
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 19 (1/1971) nhấn mạnh: phải
nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân
lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng (cách mạng về quan hệ sản
xuất, cách mạng kĩ thuật và cách mạng tư tưởng, văn hoá); khẳng định thời kì
quá độ lên chủ nghĩa xã hội là lâu dài phải trải qua nhiều bước quá độ nhỏ mà
miền Bắc đang ở bước đi ban đầu của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội; kết

xây dựng thí điểm 44 hợp tác xã và 8 vạn tổ đổi công.
Về sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, được sự giúp đỡ của các
nước xã hội chủ nghĩa anh em, miền Bắc vừa khôi phục xí nghiệp cũ vừa xây
dựng thêm một số xí nghiệp mới. Hầu hết các cơ sở công nghiệp, nhà máy, xí
nghiệp quan trọng đi vào hoạt động có hiệu quả, giai cấp công nhân phấn khởi
làm chủ cơ sở sản xuất.
Thương nghiệp xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc được hình thành; giao
thông vận tải được khôi phục và phát triển; văn hoá, giáo dục, y tế phát triển
nhanh chóng.
Đồng thời, Đảng chú ý bồi dưỡng, giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ.
Hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở được xây dựng và củng cố. Công tác
xây dựng Đảng được chú trọng, Nhà nước dân chủ nhân dân được tăng cường
làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản. Khối đại đoàn kết toàn dân trong
Mặt trận được củng cố. Khuynh hướng tư tưởng tư sản và các tư tưởng văn hoá
lạc hậu bị đánh bại, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Về thực hiện nhiệm vụ cải cách ruộng đất, từ năm 1953 khi cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp đến giai đoạn quyết định, Đảng đã chủ trương phát
động quần chúng triệt để giảm tô và cải cách ruộng đất. Trong hai năm 1954
-1956, cải cách ruộng đất ở miền Bắc được tiếp tục tiến hành với 4 đợt (từ đợt 2
đến đợt 5) trên phạm vi 3.314 xã. Qua 5 đợt cải cách ruộng đất, Hội nghị lần thứ
10 (từ ngày 25 - 8 đến 18 - 10 - 1956) và Hội nghị lần thứ 14 (11-1958) của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ rõ: thắng lợi của cải cách ruộng đất là thắng
lợi to lớn và căn bản. Toàn bộ giai cấp địa chủ, phong kiến, đối tượng của cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân bị đánh đổ, 81 vạn ha ruộng đất, nhiều trâu bò,
nông cụ chia cho hơn 2 triệu hộ nông dân. Giai cấp nông dân được giải phóng,
lên địa vị làm chủ, đánh dấu hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ


8




9

nông dân làm quen với lối làm ăn tập thể và phù hợp với trình độ quản lý của
cán bộ.
Đối với ngư nghiệp, ngày 16/6/1960, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị về thành
lập hợp tác xã nghề cá ở vùng biển. Bộ Chính trị chỉ rõ: xây dựng hợp tác xã
nghề cá phải bao gồm cả cải tạo quan hệ sản xuất và phát triển sản xuất, lấy phát
triển sản xuất để đẩy mạnh phong trào hợp tác xã.
Chủ trương cải tạo về nông nghiệp đúng đắn của Đảng đã lôi cuốn đông
đảo nông dân xin gia nhập hợp tác xã. Các nông trường quốc doanh cũng được
tổ chức lại và quản lí thống nhất của Bộ Nông trường. Phong trào làm thuỷ lợi,
phân bón, cải tiến kĩ thuật canh tác phát triển mạnh.
Đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh, Đảng quyết định cải tạo
bằng phương pháp hoà bình. Điểm mấu chốt về kinh tế trong cải tạo bằng
phương pháp hoà bình là chính sách chuộc lại tư liệu sản xuất mà tư sản nắm,
không tịch thu, đồng thời sắp xếp việc làm cho các nhà tư bản và giai cấp tư sản.
Bước đi của cải tạo cũng từ thấp đến cao. Điều kiện chủ chốt phải tăng cường
kinh tế quốc doanh, củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, củng cố liên minh
công - nông và giáo dục tư tưởng xã hội chủ nghĩa cho nhân dân. Thực hiện chủ
trương của Đảng, công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa trong công, thương nghiệp
tư bản tư doanh nhanh chóng giành thắng lợi.
Đối với thủ công nghiệp, Đảng chủ trương đưa thợ thủ công đi theo con
đường hợp tác hoá, cải tiến kĩ thuật, tận dụng khả năng của thủ công nghiệp
phục vụ nông nghiệp và sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu. Trong những
năm 1959-1960, việc tập thể hoá tiểu thủ công nghiệp đã cơ bản hoàn thành.
Đối với những người buôn bán nhỏ, Đảng chủ trương giáo dục, giúp đỡ
làm cho họ tự nguyện và tham gia cải tạo xã hội chủ nghĩa, tích cực tổ chức họ
lại dưới hình thức hợp tác xã, đồng thời chuyển dần một số sang sản xuất.

xã, chuẩn bị cơ sở tiến lên xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp và
nông nghiệp xã hội chủ nghĩa;
Hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và công thương nghiệp tư bản tư doanh,
tăng cường kinh tế quốc doanh, tăng cường mối quan hệ giữa sở hữu toàn dân và
sở hữu tập thể, mở rộng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong toàn bộ nền
kinh tế quốc dân;


11

Nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân, đẩy mạnh công tác đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ xây dựng kinh tế và công nhân lành nghề,
nâng cao trình độ quản lý kinh tế, của đội ngũ cán bộ cácc cấp, của nhân dân
lao động xúc tiến công tác nghiên cứu khoa học và ứng dụng kỹ thuật, thăm
dò tài nguyên và tiến hành điều tra cơ bản phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế,
xã hội; phát triển văn hoá xã hội chủ nghĩa.
Đồng thời với phát triển kinh tế, ra sức củng cố quốc phòng, giữ vững trật
tự an ninh, bảo vệ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.
Trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất phấn đấu đạt được một số chỉ tiêu chủ
yếu là: Giá trị tổng sản phẩm công nghiệp và thủ công nghiệp tăng 148% so
với năm 1960, bình quân hàng năm tăng khoảng 20%. Giá tri tổng sản lượng
lương thực dự tính tăng 10%. Về xây dựng cơ bản, Nhà nước đầu tư 48% ngân
sách. Thu nhập thực tế bình quân đầu người đến năm 1965 tăng khoảng 30%
so với năm 1960.
Sau Đại hội, Đảng đã chỉ đạo cụ thể để thực hiện đường lối chung về
cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất
(1961-1965).
Mùa xuân năm 1961, Bộ Chính trị mở đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn
trong toàn Đảng, toàn dân nhằm khắc phục những tư tưởng trở ngại, tạo nên khí

khẩu để đổi lấy máy móc thiết bị, làm cho nông thôn trở thành thị trường tiêu
thụ rộng lớn của công nghiệp. Phấn đấu sau 5 năm đưa mức sống của xã viên lên
ngang mức sống của trung nông lớp trên, thay đổi bộ mặt nông thôn; làm cho
nông nghiệp trở thành cơ sở vững chắc để phát triển công nghiệp, đưa nông
nghiệp tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Phương
châm phát triển nông nghiệp là: phát triển toàn diện, lấy lương thực làm trọng
tâm; thuỷ lợi là biện pháp hàng đầu; củng cố và phát triển các hợp tác xã nông
nghiệp và nông trường quốc doanh là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng trong
việc đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp.
Về công nghiệp, sau một thời gian phục hồi, cải tạo, xây dựng và phát
triển, căn cứ vào thực tế tình hình và yêu cầu phát triển của công nghiệp, tháng
6/1962 Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 7 bàn về xây
dựng và phát triển công nghiệp. Hội nghị chủ trương trong thời kỳ đầu của “…
phấn đấu thực hiện một sự chuyển biến căn bản trong nền kinh tế quốc dân, tiến
hành trang bị cơ khí và nửa cơ khí một cách phổ biến, xoá bỏ tình trạng thủ


13

công lạc hậu lâu đời và tình trạng mất cân đối nghiêm trọng hiện nay trong các
ngành sản xuất, bảo đảm cho nông nghiệp, công nghiệp và các ngành kinh tế khác
phát triển nhịp nhàng và mạnh mẽ” 2.
Nhiệm vụ xây dựng và phát triển công nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần
thứ nhất là: phấn đấu xây dựng bước đầu cơ sở vật chất và kĩ thuật của chủ
nghĩa xã hội, thực hiện một bước công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa và hoàn
thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, tiếp tục đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến
mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Phương châm phát triển là: vừa đi
ngay vào kĩ thuật hiện đại, vừa đi tuần tự từ sản xuất thủ công lên nửa cơ khí và
đại cơ khí; kết hợp xây dựng xí nghiệp qui mô lớn với xí nghiệp qui mô vừa và
nhỏ; kết hợp kĩ thuật hiện đại với kĩ thuật thô sơ; kết hợp xây dựng những xí

chi viện cho miền Nam lên một bước mới. Thực hiện Chỉ thị của Ban Bí thư,
phong trào thi đua “Mỗi người làm việc bằng hai” đã nhanh chóng lan rộng khắp
miền Bắc, nhiều điển hình tiên tiến trong sản xuất và công tác xuất hiện. Phong
trào thi đua đã góp phần thúc đẩy hoàn thành thắng lợi kế hoạch nhà nước năm
1964 và kế hoạch 5 năm lần thứ nhất.
Tháng 12/1964, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ
10 chuyên bàn về thương nghiệp và giá cả. Căn cứ vào đường lối chung xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Hội nghị nhấn mạnh: cách mạng xã hội chủ
nghĩa ở miền Bắc phải tiến hành toàn diện trên tất cả các mặt không được xem
nhẹ mặt nào. Thương nghiệp, giá cả phải góp phần xây dựng các mối quan hệ
lớn và giải quyết những mâu thuẫn trên con đường tiến lên để xây dựng, củng cố
quan hệ sản xuất mới, phục vụ xây dựng kinh tế kết hợp củng cố quốc phòng;
phải nhận rõ sự phát triển kinh tế hàng hoá ở miền Bắc trong cả thời kỳ quá độ
là khách quan; phải dựa vào thị trường trong nước là chính, trước mắt và chủ
yếu là thị trường nông thôn; phải mở rộng giao lưu hàng hoá trong nước và với
nước ngoài; phải tiếp tục tăng cường lực lượng thương nghiệp quốc doanh và
hợp tác xã mua bán; phải coi trọng cả hai mặt giá trị sử dụng và giá trị của hàng
hoá; kết hợp chặt chẽ thị trường thống nhất toàn miền Bắc.
Thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, miền Bắc đã giành được những
thắng lợi to lớn đưa miền Bắc thực sự trở thành căn cứ địa của cách mạng cả
nước và hậu phương lớn của cách mạng miền Nam. Thắng lợi đó chứng minh
đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc của Đảng là đúng đắn, củng cố
thêm niềm tin, xây dựng ý chí quyết tâm cho quân dân cả nước vào thực hiện
nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới.
* Đảng lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội từ 1965 đến 1975


15

Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng chuyển hướng xây dựng kinh tế ở

16

Giao thông vận tải phải tăng cường lực lượng cán bộ, phương tiện và vật
chất. Trên các tuyến đường giao thông thực hiện khẩu hiệu “địch phá, ta cứ đi”,
“đánh địch mà đi, mở đường mà tiến”.
Chủ trương của Đảng được quán triệt trong toàn Đảng, toàn dân. Phong
trào thi đua thi đua: Mỗi người làm việc bằng hai, ra sức xây dựng và bảo vệ
miền Bắc, tích cực chi viện cho cách mạng miền Nam của Hồ Chủ tịch, trở
thành phong trào cách mạng tự giác trong các ngành, các đoàn thể thi đua xây
dựng chủ nghĩa xã hội và chi viện cho miền Nam.
Trong nông nghiệp có phong trào thi đua “tay cày tay súng” phấn đấu đạt
3 mục tiêu (5 tấn thóc, 2 con lợn, 1 lao động trên 1 héc ta gieo trồng), nhiều điển
hình sản xuất, thâm canh giỏi xuất hiện. Trong công nghiệp, phong trào thi đua
“tay búa tay súng” đã giữ vững sản xuất, một số ngành có phát triển. Các lĩnh
vực thương nghiệp, tài chính, giao thông vận tải, văn hoá, giáo dục, y tế vẫn duy
trì hoạt động và đạt hiệu quả cao. Các đoàn thể nhân dân thi đua sôi nổi, khẩn
trương với lòng nhiệt tình cách mạng và tinh thần quyết thắng cao. Hàng vạn
thanh niên với tinh thần “Ba sẵn sàng” được điều động vào chiến đấu và phục vụ
chiến đấu. Phụ nữ đảm bảo xây dựng hậu phương với tinh thần “Ba đảm đang”.
Phụ lão có phong trào “Ba hăng hái”…
Trong 4 năm (từ 5/8/1964 đến 1/11/1968), quân và dân miền Bắc vừa xây
dựng chủ nghĩa xã hội, vừa chi viện mọi mặt cho miền Nam với tinh thần “Thóc
không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Miền Bắc còn đánh thắng
cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ vào miền Bắc, bắn rơi
3.234 máy bay, diệt và bắt sống hàng nghìn giặc lái Mỹ. Bắn chìm và bắn cháy
143 tàu chiến. Bị thất bại nặng nề ở cả hai miền Nam-Bắc, đế quốc Mĩ buộc phải
tuyên bố ném bom hạn chế miền Bắc kể từ ngày 31/3/1968 và ngừng hoàn toàn
ném bom trên miền Bắc từ ngày 1/11/1968.
Đảng lãnh đạo xây dựng miền Bắc, chi viện cho miền Nam, đánh thắng
chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ từ năm 1969 đến năm 1973.

động cách mạng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã tập trung sức khôi phục
và phát triển kinh tế, chi viện cho miền Nam. Chủ trương khôi phục kinh tế
được biến thành hành động cách mạng rộng lớn của quần chúng và đã đạt được
những kết quả rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, giao
thông vận tải, giáo dục, văn hoá, y tế, quốc phòng an ninh.


18

Trong khi nhân dân miền Bắc tranh thủ điều kiện có hoà bình khôi phục
và phát triển kinh tế đạt được những thành tựu mới, tăng cường tiềm lực cho
cuộc chống Mỹ cứu nước, nhân dân miền Nam cũng giành được những thắng lợi
có ý nghĩa chiến lược trong Xuân - Hè 1970 và năm 1971. Đặc biệt là cuộc tiến
công chiến lược năm 1972 đã làm cho chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”
của đế quốc Mỹ đứng trước nguy cơ phá sản.
Để cứu vãn nguy cơ thất bại, từ tháng 4/1972 đế quốc Mĩ đánh phá trở lại
miền Bắc. Cuối năm 1972, đế quốc Mĩ đã huy động một lực lượng lớn không
quân chiến lược tập kích vào Hà Nội, Hải Phòng, các khu dân cư lớn với mức độ
tàn phá, huỷ diệt nhằm ngăn chặn và cắt đứt sự chi viện của miền Bắc đối với
mền Nam, phá hoại tiềm lực kinh tế, quân sự, uy hiếp tinh thần quyết thắng Mĩ
của nhân dân ta. Trước tình hình đó, ngày 1/6/ 1972 Bộ Chính trị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng chủ trương chuyển hướng mọi mặt ở miền Bắc, quyết
tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược trong mọi tình huống, đẩy mạnh sản xuất và
chiến đấu phù hợp với thời chiến.
Thực hiện chủ trương của Đảng, nhân dân miền Bắc đã nhanh chóng
chuyển mọi hoạt động sang thời chiến; mở rộng thêm lực lượng phòng không và
các lực lượng vũ trang nhân dân, đánh bại chiến tranh phá hoại của địch, bảo
đảm yêu cầu tuyển quân và lao động phục vụ chiến trường, bảo đảm hậu cần tại
chỗ; tăng cường công tác tư tưởng, xây dựng quyết tâm trong toàn Đảng, toàn
dân, toàn quân quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Một là, động viên và tổ chức mọi lực lượng lao động xã hội vào sản xuất,
xây dựng khí thế sôi nổi đẩy mạnh sản xuất, đưa sản xuất lên bằng hoặc cao hơn
mức đã đạt được năm 1965. Phấn đấu đến năm 1975 thu nhập quốc dân đủ cho
quỹ tiêu dùng xã hội, bảo đảm tốt yêu cầu chi viện cho miền Nam.
Hai là, củng cố một bước quan hệ sản xuất trong cả hai khu vực quốc
doanh và tập thể.
Ba là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác quản lý nhà nước,
chấn chỉnh công tác quản lý kinh tế từ Trung ương đến cơ sở.
Thực hiện chủ trương của Đảng, nhân dân miền Bắc hăng hái lao động
sản xuất, ổn định tình hình kinh tế - xã hội. Sau 2 năm (1973-1974), miền Bắc
đã cơ bản khôi phục xong các cơ sở kinh tế. Trong nông nghiệp, các công trình
thuỷ nông được khôi phục xong. Giao thông vận tải đã sửa chữa, khôi phục và
mở rộng nhiều tuyến đường, năng lực vận tải và khối lượng hàng hoá vận


20

chuyển tăng lên rõ rệt. Trong công nghiệp, toàn bộ các nhà máy được phục hồi.
Văn hoá, giáo dục, y tế đều được khôi phục và phát triển tốt.
Để đáp ứng ngày càng đầy đủ yêu cầu chi viện cho các chiến trường, từ
tháng 3/1973 đến đầu năm 1975 chương trình mở rộng và hoàn thiện hệ thống
đường chiến lược Đông và Tây Trường Sơn được xúc tiến mạnh. Với tinh thần
“Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, chưa bao giờ sức người, sức của từ hậu phương
lớn đổ ra tiền tuyến nhiều như thế. Thế và lực của cách mạng miền Nam đã áp
đảo địch. Trên cơ sở đó, tháng 1/1975 Bộ Chính trị hạ quyết tâm giải phóng
hoàn toàn miền Nam trong 2 năm 1975-1976, đồng thời dự kiến khi thời cơ xuất
hiện có thể giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975.
Trong những năm 1973 - 1975, nhân dân miền Bắc đã đạt được những
thắng lợi cực kỳ to lớn trong khôi phục và phát triển kinh tế và chi viện cho
miền Nam, đồng thời là nhân tố quyết định sự nghiệp giải phóng miền Nam vào

chiến đấu, vận tải, y tế, giáo dục, nghệ thuật, thông tin liên lạc… góp phần xây
dựng hậu phương tại chỗ ở miền Nam trong các vùng giải phóng và giúp đỡ
cách mạng Lào, cách mạng Campuchia.
Miền Bắc không chỉ chi viện cho miền Nam nguồn nhân lực dồi dào, mà
còn chi viện một khối lượng vật chất khổng lồ: hàng triệu tấn vũ khí, lương
thực, phương tiện kỹ thuật khác, đáp ứng đầy đủ và kịp thời cho chiến trường
miền Nam ở mọi thời điểm lịch sử.
Sự lớn mạnh của miền Bắc xã hội chủ nghĩa còn là nguồn cổ vũ động viên
tinh thần vô cùng to lớn đối với miền Nam trong cuộc đấu tranh trực tiếp chống
đế quốc Mỹ và tay sai.
Sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đã tạo ra một hậu
phương tại chỗ vững chắc, củng cố và phát triển tiềm lực quốc phòng để tiến
hành cuộc chiến tranh nhân dân chia lửa với miền Nam giành thắng lợi. Đồng
thời chứng tỏ sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa xã hội, quyết tâm và sức mạnh
của chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của nhân dân ta.
Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đứng vững trong chiến tranh còn
là nhịp cầu nối liền các nước xã hội chủ nghĩa với cuộc kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước của nhân dân ta; tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn có hiệu quả của
các nước anh em bè bạn trên thế giới đối với cách mạng Việt Nam.
Thành tựu của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa trên miền Bắc là
thực tiễn sinh động, khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo và độc lập, tự


22

chủ của Đảng ta trong việc tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai
miền đất nước; vận dụng kết hợp hai quy luật : quy luật của chiến tranh cách
mạng và quy luật cách mạng xã hội chủ nghĩa
3. Kinh nghiệm của quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng xã hội chủ
nghĩa ở miền Bắc

lên chủ nghĩa xã hội.
Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, trên cơ sở xác định đúng nhiệm vụ, mục
tiêu, chiến lược của cách mạng, đồng thời phải xác định và từng bước bổ sung,
phát triển mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể cho phù hợp với từng thời kỳ cụ thể.
Thứ hai, chỉ đạo chiến lược chính xác, kịp thời, phù hợp với từng thời kỳ
lịch sử.
Ngay từ Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (8-1955),
Đảng đã xác định trong bất kỳ tình huống nào miền Bắc cũng đi lên chủ nghĩa
xã hội. Thực hiện quyết tâm đó, Đại hội lần thứ III của Đảng đã vạch ra đường
lối chung cho cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Đó là những vấn đề
chiến lược của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
Từ sau Đại hội lần thứ III của Đảng, đường lối, mục tiêu chiến lược cách
mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc được Đảng tiếp tục bổ sung và phát triển.
Để thực hiện đường lối, mục tiêu chiến lược, quá trình chỉ đạo cách mạng xã hội
chủ nghĩa ở miền Bắc, Đảng luôn bám sát thực tiễn phát triển của tình hình, chỉ
đạo chiến lược kiên quyết, chính xác, kịp thời phù hợp với từng thời kỳ lịch sử,
do đó cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đã giành thắng lợi.
Tuy nhiên, về chỉ đạo chiến lược trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở miền Bắc vẫn còn nhiều yếu kém trong xác định bước đi của thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội. Mặt khác, trong nhận thức chưa thấu hiểu đầy đủ
phương châm “ tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” lên chủ nghĩa xã hội, do
đó có lúc đã đưa quan hệ sản xuất đi quá xa so với lực lượng sản xuất làm ảnh
hưởng đến sự phát triển của lực lượng sản xuất và toàn bộ quá trình xây dựng
chủ nghĩa xã hội.
Những thành công và những khuyết điểm, yếu kém trong chỉ đạo chiến
lược xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc hơn 20 năm cho thấy: muốn chỉ đạo
chiến lược đúng đắn phải nắm vững mục tiêu chiến lược và thực tiễn của đất
nước ở mỗi giai đoạn, thời kỳ cách mạng cụ thể; phải chủ động, nhạy bén và giải






Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status