--
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN.
I. THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1. Khái niệm.
Thị trường chứng khoán là thị trường có tổ chức, là nơi mà các chứng khoán
được mua bán theo các qui tắc đã được ấn định.
2. Phân loại.
a. Căn cứ theo tính chất pháp lý có thị trường chứng khoán chính thức và thị
trường chứng khoán phi chính thức.
Thị trường chứng khoán chính thức hay còn gọi là Sở giao dịch chứng khoán
là nơi mua bán loại chứng khoán được niêm yết có địa điểm và thời biểu
mua bán rõ rệt, giá cả được xác định theo hình thức đấu giá hoặc đấu lệnh.
Thị trường chứng khoán phi chính thức hay còn gọi là thị trường OTC là nơi
mua bán chứng khoán bên ngoài Sở giao dịch, không có ngày giờ nghỉ hay
thủ tục quyết định mà do thoả thuận giữa người mua và người bán.
b. Căn cứ vào quá trình luân chuyển chứng khoán có thị trường phát hành
và thị trường giao dịch.
Thị trường phát hành hay còn gọi là thị trường sơ cấp là nơi các chứng khoán
được phát hành lần đầu bởi các nhà phát hành được bán cho các nhà đầu
tư.
c. Căn cứ vào phương thức giao dịch có thị trường giao ngay và thị trường
tương lai.
Thị trường giao ngay là thị trường mua bán chứng khoán theo giá của ngày
giao dịch nhưng việc thanh toán và chuyển giao chứng khoán sẽ diễn ra tiếp
theo sau đó vài ngày theo qui định.
Thị trường tương lai là thị trường mua bán chứng khoán theo một loạt hợp
đồng định sẵn, giá cả được thoả thuận trong ngày giao dịch nhưng việc
thanh toán và chuyển giao chứng khoán sẽ diễn ra trong một ngày kỳ hạn
nhất định trong tương lai.
d. Căn cứ vào đặc điểm hàng hoá trên thị trường chứng khoán có thị
vậy, thị trường chứng khoán giúp các doanh nghiệp đa dạng hoá các hình
thức huy động vốn và đầu tư.
Thị trường chứng khoán là nơi đánh giá giá trị của doanh nghiệp và của cả
nền kinh tế một cách tổng hợp và chính xác (kể cả giá trị hữu hình và vô
hình) thông qua chỉ số giá chứng khoán trên thị trường. Từ đó tạo ra một môi
trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích
thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.
Thị trường chứng khoán còn là nơi giúp các tập đoàn ra mắt công chúng. Thị
trường chứng khoán chính là nơi quảng cáo ít chi phí về bản thân doanh
nghiệp.
c. Đối với nhà đầu tư.
Thị trường chứng khoán là nơi mà các nhà đầu tư có thể dễ dàng tìm kiếm
các cơ hội đầu tư để đa dạng hoá đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư.
4. Nhược điểm của thị trường chứng khoán.
a. Yếu tố đầu cơ.
Đầu cơ là yếu tố có tính toán của người chấp nhận rủi ro. Họ có thể mua cổ
phiếu ngay với hy vọng giá cổ phiếu sẽ tăng trong tương lai và thu hồi được
lợi nhuận trong từng thương vụ. Yếu tố này gây ảnh hưởng lan truyền làm
cho giá cổ phiếu có thể tăng giả tạo. Tuy nhiên thị trường không cấm yếu tố
này.
Đề tài: Tìm hiểu thị trường chứng khoáng Việt Nam
Trang 2
b. Mua bán nội gián.Mua bán nội gián là việc một cá nhân nào đó lợi dụng
vị trí công việc của mình, nắm được những thông tin nội bộ của đơn vị phát
hành để mua hoặc bán cổ phiếu của đơn vị đó một cách không bình thường
nhằm thu lợi cho mình và làm ảnh hưởng tới giá của cổ phiếu trên thị trường.
của số cung cầu chứng khoán trên thị trường và cũng không ai có quyền định
giá chứng khoán một cách độc đoán. Vì thế thị trường chứng khoán được coi
là thị trường tự do nhất trong các thị trường.
c. Nguyên tắc công khai hoá.
Tất cả các hoạt động trên thị trường chứng khoán đều được công khai hoá
về các loại chứng khoán được đưa ra mua bán trên thị trường, cũng như tình
Đề tài: Tìm hiểu thị trường chứng khoáng Việt Nam
Trang 3
hình tài chính về kết quả kinh doanh của công ty phát hành và số lượng
chứng khoán và giá cả từng loại đều được công khai trên thị trường và trong
các báo cáo. Khi kết thúc một cuộc giao dịch số lượng chứng khoán được
mua bán, giá cả từng loại đều được lập tức thông bán ngay. Nguyên tắc này
nhằm đảm bảo quyền lợi cho người mua và người bán chứng khoán không bị
hớ trong mua bán chứng khoán và người mua chứng khoán dễ dàng chọn
loại chứng khoán theo sở thích của mình.
II. CHỨNG KHOÁN.
1. Khái niệm.
Chứng khoán là những giấy tờ có giá xác định số vốn đầu tư
và nó xác nhận quyền đòi nợ hay quyền sở hữu về tài sản, bao gồm những
điều kiện về thu nhập trong một khoảng thời gian nào đó và có khả năng
chuyển nhượng.
2. Phân loại.
a. Căn cứ theo tiêu thức pháp lý có chứng khoán vô danh và chứng
khoán kí danh.
Chứng khoán vô danh là loại chứng khoán không ghi rõ họ tên chủ sở hữu.
Việc chuyển nhượng loại này rất dễ dàng, không cần thủ tục đăng ký rườm
rà.Chứng khoán ký danh là loạichứng khoán ghi rõ họ tên chủ sở hữu. Việc
khả năng chuyển nhượng, có thời gian đáo hạn. Đồng thời trái chủ không có
quyền tham gia bầu cử, ứng cử vào Hội đồng quản trị. Nhưng trái phiếu đem
lại cho trái chủ quyền được ưu tiên trong phân chia lợi nhuận cũng như thanh
lý tài sản khi công ty phá sản.
b.Một vài loại trái phiếu.
Trái phiếu có lãi suất cố định là trái phiếu cho lãi suất cố định ngay tại thời
điểm phát hành.
Trái phiếu có lãi suất thả nổi là trái phiếu cho lãi suất được điều chỉnh theo
từng thời kỳ.
Trái phiếu không có lãi là trái phiếu không cho lãi suất thường kỳ, nó được
mua với giá thấp so với mệnh giá. Toàn bộ tiền lời và giá trị tăng thêm sẽ
bằng đúng mệnh giá vào ngày đáo hạn.Trái phiếu thu nhập là trái phiếu
được phát hành bởi các công ty đang trong thời kỳ tổ chức lại. Công ty phát
hành hứa sẽ trả số gốc khi trái phiếu hết hạn nhưng chỉ hứa trả lãi nếu công
ty có đủ thu nhập.
Trái phiếu có thể thu hồi là trái phiếu cho phép công ty có thể mua lại trái
phiếu vào một thời gian nào đó. Tuy nhiên trái phiếu không thể thu hồi một
vài năm sau khi chúng được phát hành.
Trái phiếu có thể chuyển đổi là trái phiếu cho phép người giữ nó được
chuyển đổi sang một số lượng cổ phiếu nhất định với giá xác định.
Trái phiếu phiếu kèm giấy bảo đảm là trái phiếu cho phép, người giữ nó có
quyền mua thêm một số lượng cổ phiếu nhất định của đơn vị phát hành ở
một giá xác định (một giấy bảo đảm ở góc trái phiếu bằng một cổ phiếu).
Trái phiếu Euro là trái phiếu phát hành bằng đồng tiền của nước phát hành
tại một nước khác. Trái phiếu Dollar làtrái phiếu phát hành bằng đồng Đôla
Mỹ ở các nước ngoài nước Mỹ.
Trái phiếu Yankee là trái phiếu của các công ty và Chính phủ nước ngoài phát
hành bằng Đôla Mỹ và được giao dịch ở thị trường Mỹ.
4. Cổ phiếu.
a. Khái niệm
quỹ không phải là cổ phiếu đang lưu hành, không có vốn đằng sau nó; do đó
không được tham gia vào việc chia lợi tức cổ phần và không có quyền tham
gia bỏ phiếu.
Cổ phiếu đang lưu hành: là cổ phiếu đã phát hành, hiện đang lưu hành trên
thị trường và do các cổ đông đang nắm giữ. Số cổ phiếu đang lưu hành được
xác định như sau:
Số cổ phiếu đang lưu hành = Số cổ phiếu đã phát hành - Số cổ phiếu
quỹ
Trong trường hợp công ty có cả hai loại cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi,
người ta sẽ xác định cụ thể cho từng loại một.Số cổ phiếu thường đang lưu
hành là căn cứ quan trọng để phân chia lợi tức cổ phần trong công ty.
Dựa vào hình thức cổ phiếu, có thể phân biệt cổ phiếu ghi danh và cổ phiếu
vô danh.
•
•
Cổ phiếu ghi danh: là cổ phiếu có ghi tên người sở hữu trên tờ cổ
phiếu. Cổ phiếu này có nhược điểm là việc chuyển nhượng phức tạp, phải
đăng ký tại cơ quan phát hành và phải được Hội đồng Quản trị của công
ty cho phép.
Cổ phiếu vô danh: là cổ phiếu không ghi tên người sở hữu. Cổ phiếu
này được tự do chuyển nhượng mà không cần thủ tục pháp lý.
Đề tài: Tìm hiểu thị trường chứng khoáng Việt Nam
Trang 6
Dựa vào quyền lợi mà cổ phiếu đưa lại cho người nắm giữ, có thể phân
để tăng vốn.
Được quyền triệu tập đại hội đồng cổ đông bất thường theo luật định.
Cổ đông thường cũng phải gánh chịu những rủi ro mà công ty gặp
phải, tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm giới hạn trong
phạm vi số lượng vốn góp vào công ty.[2]
III. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
Thị trường chứng khoán phát triển gắn liền với nhu cầu và khả năng của nền
kinh tế và cơ chế kinh tế. Thị trường chứng khoán sẽ đáp ứng nhu cầu về vốn
đầu tư cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt nam hiện nay,
một vấn đề được xem là cần thiết hơn bao giờ hết. Nhưng hiện nay nền kinh
tế và cơ chế kinh tế tài chính Việt nam còn cần phải giải quyết nhiều vấn đề
để tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả.
Một thị trường chứng khoán có thể được tổ chức dễ dàng, tuy nhiên duy trì
được nó hoạt động đều đặn, lành mạnh, có hiệu quả và ngày càng phát triển
thì rất khó khăn. Một thị trường chứng khoán chỉ có thể phát huy hiệu quả khi
nó được hoạt động trong một môi trường kinh tế, tài chính lành mạnh. Nghĩa
là phải có một hệ thống hạ tầng cơ sở phù hợp từ những nội dung thuộc về
yếu tố chủ quan và khách quan của thị trường chứng khoán.
Đề tài: Tìm hiểu thị trường chứng khoáng Việt Nam
Trang 7
1. Cơ chế kinh tế tài chính:
Đây là yếu tố nền tảng, bảo đảm cho khả năng có chứng khoán lưu thông
trên thị trường. Yếu tố kinh tế- tài chính được hình thành bởi các chính sách
kinh tế- tài chính của Nhà nước.
a. Về kinh tế:
ty. Trong trường hợp có một thành viên muốn rời bỏ công ty, họ phải tìm một
người khác thay thế và phải được các thành viên khác chấp thuận. Việc
chuyển nhượng vốn góp giữa các thành viên được thực hiện tự do. Lợi
Đề tài: Tìm hiểu thị trường chứng khoáng Việt Nam
Trang 8
nhuận được phân bổ cho các thành viên theo tỷ lệ chung vốn. Trong trường
hợp thua lỗ cũng được xử lý tương tự.
Công ty cổ phần là một pháp nhân tồn tại độc lập với những sở hữu chủ. Cơ
cấu vốn của công ty cổ phần được thực hiện theo phương thức chia nhỏ vốn
thành những phần bằng nhau gọi là vốn cổ phần. Người đầu tư thực hiện
việc đầu tư bằng hình thức mua cổ phần. Người có cổ phần gọi là cổ đông.
Mỗi cổ đông có thể mua ít hoặc nhiều cổ phần theo khả năng. Cổ đông thực
hiện quyền quản trị và kiểm soát công ty thông qua việc hoạch định các chính
sách, bầu cử và ứng cử vào cơ quan quản lý, kiểm soát và điều hành công ty.
Quyền kiểm soát và quản trị công ty của cổ đông được phân chia theo mức
độ góp vốn. Cổ đông chịu trách nhiệm về hoạt động của công ty trong giới
hạn số vốn cổ phần của mình. Họ không bị đụng chạm đến tài sản của gia
đình khi công ty thua lỗ. Sự rủi ro của sở hữu chủ chỉ là giới hạn.
Cơ cấu công ty cổ phần có Đại hội cổ đông là cơ quan quyền lực cao nhất
thực hiện quyền hoạch định chính sách, ban hành điều lệ, bầu Hội đồng quản
trị, bầu chủ tịch,Phó chủ tịch hội đồng quản trị, và cử ban điều hành.
So với khu vực kinh tế nhà nước, vốn bình quân một đơn vị trong khu vực
kinh tế tư nhân thấp, đặc biệt công ty cổ phần vốn bình quân chỉ có 10 tỷ
đồng, trong khi với công cụ cổ phiếu khả năng tăng vốn là rất lớn. Lịch sử
phát triển kinh tế thế giới đã chứng minh kinh tế tư nhân tổ chức dưới hình
thức công ty cổ phần là động lực chính thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế và
b. Về tài chính:
Xem xét hệ thống tài chính của Việt Nam trước hết phải đi từ hệ thống ngân
hàng.
- Ngân hàng nhà nước Việt Nam là cơ quan duy nhất phát hành tiền và thực
hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng, hoạch định và thực
hiện chính sách tiền tệ nhằm ổn định giá trị đồng tiền. Hiện nay, Ngân hàng
nhà nước có mạng lưới các chi nhánh tại các tỉnh, thành phố.
Tuy vẫn là một cơ quan của Chính phủ, nhưng đến nay, tính độc lập của
Ngân hàng Nhà nước đã được củng cố một cách có ý nghĩa. Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước là người quyết định mọi vấn đề liên quan đến việc thực
hiện chính sách tiền tệ và vai trò kiểm soát, quản lý Nhà nước của Ngân hàng
Nhà nước. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành chính sách và ấn định
tỷ lệ dự trữ bắt buộc, ấn định mức khống chế lãi suất tín dụng, hạn mức tín
dụng cho các ngân hàng thương mại, ấn định tỷ giá hối đoái chính thức, lãi
suất chiết khấu.
- Ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư phát triển, quỹ tín dụng và công
ty tài chính, là những tổ chức kinh doanh tiền tệ hoạt động chủ yếu và thường
xuyên, nhận tiền gửi của khách hàng và cho vay tín dụng, thực hiện nghiệp
vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
Về hoạt động đang từng bước được mở rộng và đa năng hoá, đa dạng hoá
nghiệp vụ: tín dụng, chiết khấu giấy tờ có giá, đầu tư qua hùn vốn liên doanh
hoặc mua cổ phiếu, dịch vụ cầm đồ, tài trợ bán hàng trả góp, tín dụng thuê
mua...
Về cơ cấu vốn cho vay đã có sự thay đổi tích cực. Tỷ trọng vốn cho vay trung
và dài hạn, và cho vay khu vực kinh tế tư nhân tuy còn rất nhỏ nhưng xu
hướng ngày càng gia tăng. Hiệu quả tín dụng đã được nâng lên rõ rệt, tình
trạng nợ quá hạn đã giảm đáng kể. Tuy nhiên hoạt động của các ngân hàng
và công ty tài chính Việt Nam hiện vẫn còn những tồn tại khá lớn, đã ảnh
hưởng không nhỏ đến sự hình thành và phát triển một thị trường tài chính nói
chung, thị trường vốn nói riêng.
trong những điều kiện pháp lý tiên quyết, quan trọng nhất đối với một thị
trường chứng khoán thành công là phải có luật công ty phù hợp với yêu cầu
của thị trường chứng khoán. Khi giao dịch chứng khoán trên thị trường thứ
cấp, chỉ là giao dịch các giấy chứng nhận cổ phần do các cơ sở quản lý lưu
ký chứng khoán cấp. Luật nhiều nước quy định cấp giấy chứng nhận cổ phần
khi đã đăng ký tên cổ đông. Ở Việt Nam, vai trò kiểm soát hoạt động kinh tế
của Nhà nước đang được chú trọng. Vì vậy rất cần phát hành loại cổ phiếu
có ghi tên.
3. Yếu tố tâm lý:
Tổ chức thị trường chứng khoán trước hết là để động viên mọi nguồn vốn tiết
kiệm, để dành trong công chúng, và để thu hút những nguồn vốn to lớn từ
nước ngoài vào công cuộc đầu tư. Yếu tố tâm lý đòi hỏi thị trường chứng
khoán phải có tính động viên và khả năng thu hút.
Động viên nguồn vốn trong nước: với cơ chế hiện tại Việt Nam có hệ thống
ngân hàng và kho bạc Nhà nước huy động vốn với lãi suất từ 0,9 1,2%/tháng, tức là từ 10,8 - 14%/năm. Như vậy có 3 vấn đề lớn đặt ra: bỏ tiền
vào thị trường chứng khoán có an toàn không? Đầu tư qua chứng khoán có
lãi suất cao hơn gửi tiết kiệm hoặc mua tín phiếu kho bạc không? Và khi cần
Đề tài: Tìm hiểu thị trường chứng khoáng Việt Nam
Trang 11
người có chứng khoán có thể bán nó đi một cách dễ dáng mà vẫn có lãi
không?
Việc phát hành chứng khoán ra công chúng phải căn cứ trên những điều kiện
và thủ tục cần thiết, việc kinh doanh chứng khoán phải đặt dưới sự giám sát
của Nhà nước. Bất cứ nước nào cũng vậy, luật pháp về phát hành và kinh
doanh chứng khoán trước hết là nhằm bảo vệ lợi ích của người đầu tư. Do
đó, có thể nói những hành vi lừa đảo trong thị trường chứng khoán sẽ được
IV. CÁC BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ lại xuất hiện một trào lưu, một chiến thuật đầu tư
mới, mỗi lần như vậy nhà đầu tư Việt Nam lại có những hành động để phù
Đề tài: Tìm hiểu thị trường chứng khoáng Việt Nam
Trang 12
hợp với hoàn cảnh mới. Liệu sắp tới nhà đầu tư Việt Nam có thay đổi quan
điểm đầu tư, khi thị trường đã lình xình khá lâu và quan điểm đầu tư cũ đã
không còn phù hợp.
Bắt đầu từ năm 2006, khi mà thị trường chứng khoán Việt Nam bùng nổ, nhà
nhà chơi chứng khoán, từ chuyên gia chứng khoán tới bà “bán rau” cũng có
thể chơi chứng khoán và đã chơi là thắng, khi đó người ta chỉ tính tới việc
nên chọn mã chứng khoán nào để tăng giá nhanh nhất, luồng tiền từ các ngả
đều đổ vào chứng khoán, từ các tập đoàn, tổng công ty, các doanh
nghiệp,ngân hàng, các quỹ đầu tư, việt kiều, nhà đầu tư nước ngoài, nhà đầu
tư trong nước.
Với một số lượng không nhiều các công ty niêm yết trên sàn, lượng tiền đổ
vào chứng khoán lại rất lớn, cùng với các tin tức vĩ mô tốt, đặc biệt là Việt
Nam gia nhập WTO, VNI đã tăng điểm ngoạn mục tới đính điểm hơn 1.000
điểm, các công ty tìm mọi cách để cổ phần hóa, phát hành thêm vốn nhanh
chóng. Thời kỳ này, nhiều nhà đầu tư Việt Nam bắt đầu làm quen với các khái
niệm về thị trường chứng khoán, cách đọc báo cáo tài chính, họp cổ đông…
Năm 2007, các nhà đầu tư đã học được bài học thất bại đầu tiên khi thị
trường giảm điểm mạnh bởi sự ra đời chỉ thị 03 của NHNN quy định hạn chế
tỷ lệ ngân hàng cho vay và đầu tư trên thị trường chứng khoán.
Việc này đã chấm dứt thời kỳ cứ đầu tư chứng khoán là thắng và chuyển
sang giai đoạn mới, giai đoạn đầu tư theo chân nhà đầu tư nước ngoài. Thời
kỳ mới này, nhà đầu tư nước ngoài thường làm mưa làm gió trên thị trường
yếu các quỹ, các công ty chứng khoán, và nhà đầu tư trong và ngoài nước
tham gia vào thị trường là chủ yếu.
Năm 2009 là năm các nhà đầu tư học được bài học về sử dụng đòn bẩy tài
chính, thị trường tăng điểm đã kiến các nhà đầu tư mờ mắt, liên tục yêu cầu
mức đòn bẩy cao hơn và đổ tiền vào thị trường. Khi mức đòn bảy đã quá cao,
thị trường chứng khoán điều chỉnh trở lại thì nhiều nhà đầu tư đã nếm mùi
“cháy“ tài khoản, đòn bẩy tài chính đã làm cho các nhà đầu tư thua lỗ nhanh
hơn, mọi công sức kiếm tiền trong vài tháng chỉ cần một tuần giảm điểm là
hết sạch.
Năm 2010, các nhà đầu tư Việt Nam đã trở nên dè dặt hơn khi đầu tư vào thị
trường chứng khoán, các nguồn tiền từ ngân hàng, các tổng công ty, Việt
Kiều và cả nước ngoài đổ vào chứng khoán Việt Nam không còn mạnh mẽ
như trước, số lượng các công ty niêm yết trên sàn và số lượng cổ phiếu phát
hành cũng tương đối lớn.
Với một sự hạn chế về dòng tiền và số lượng lớn cổ phiếu niêm yết như vậy,
một chiến lược đầu tư mới ra đời, đầu tư vào các penny chip, giá trị vốn hóa
nhỏ. Các nhà đầu tư Việt Nam lại đầu tư theo trào lưu mới, đầu tư theo “đội
lái”, không cần phân tích kỹ thuật, phân tích cơ bản, chủ yếu tìm kiếm động
thái của các đội lái để đầu tư theo.
Nhưng rồi, cái gì phải đến thì cũng đã tới, nếu coi đầu tư trên thị trường
chứng theo quan điểm chơi bạc thì chắc chắn phải có người thua và kẻ
thắng, những người đầu tư thiếu kinh nghiệm, không làm chủ được tình hình
dễ bị thua, và phần thắng thuộc về các “đội lái”,
Hiện nay, thị trường có không nhiều các nhà đầu tư mới, những người không
chuyên nghiệp mà muốn giàu nhanh từ thị trường chứng khoán phần lớn bị
thua lỗ và đã rời bỏ thị trường, những người còn bám trụ thị trường thì một là
Đề tài: Tìm hiểu thị trường chứng khoáng Việt Nam
Trang 14
khi
tỷ lệ
nắm giữ của
nhà đầu
tư nước
ngoài được
nâng
từ 30% lên49% (trừ lĩnh vực ngân hàng).
4. Trong 5 năm đầu tiên, dường như thị trường không thực sự thu hút được
sự quan tâm của đông đảo công chúng và các diễn biến tăng giảm của thị
trường chưa tạo ra tác động xã hội mở rộng để có thể ảnh hưởng tới sự vận
hành của nền kinh tế cũng như tới cuộc sống của mỗi người dân.
Theo thống kê của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, tính đến
hết năm 2005, tổng giá trị thị trường chứng khoán việt Nam đạt gần 40.000
tỷ đồng, chiếm 0,69% tổng thu nhập quốc nội (GDP). Thị trường chứng khoán
Việt Nam hiện có 4.500 tỷ đồng cổ phiếu, 300 tỷ đồng chứng chỉ quỹ đầu
tư và gần 35.000 tỷ đồng trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa
Đề tài: Tìm hiểu thị trường chứng khoáng Việt Nam
Trang 15
phương, thu hút 28.300 tài khoản giao dịch .Trong năm 2005, tốc độ tăng
trưởng của thị trường chứng khoán gấp đôi so với năm 2004, huy động được
44,600 tỷ đồng, hiện giờ giá trị cổ phiếu so với GDP của cả nước đạt gần 1%.
2. Giai đoạn 2006 : Sự phát triển đột phá của TTCK Việt Nam.
Mốc thời gian kể từ đầu năm 2006 được coi là mang tính chất phát triển
“đột phá”, tạo cho thị trường chứng khoán Việt Nam một diện mạo hoàn
đầu tư mới tham gia thị trường ngày càng đông, tính đến cuối tháng12- 2006,
Đề tài: Tìm hiểu thị trường chứng khoáng Việt Nam
Trang 16
có trên 120.000 tài khoản giao dịch chứng khoán được mở, trong đó
gần 2.000 tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài.
Năm 2006, kỷ lục mới của VN-Index được xác lập ở mốc 809,86 điểm.
Với HASTC-Index là nỗ lực chạm mốc 260 điểm. Tính chung, so với
đầu năm, chỉ số VN-Index đã có mức tăng trưởng tới 146% và HASTCIndex tăng tới 170%. Đây là những mức tăng mà các thị trường trên thế giới
phải thừa nhận là quá ấn tượng. Tính đến phiên 29/12/2006, Trung tâm Giao
dịch Chứng khoán TP.HCM đã có sự góp mặt của 106 cổ phiếu, 2 chứng chỉ
quỹ và 367 trái phiếu với tổng giá trị niêm yết theo mệnh giá là trên 72 nghìn
tỷ đồng. Còn tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, số lượng chứng
khoán tham gia đã lên đến 87 cổ phiếu và 91 trái phiếu với tổng mức đăng
ký giao dịch theo mệnh giá đạt 29 nghìn tỷ đồng. Xét riêng về mức vốn hoá
cổ phiếu, toàn bộ thị trường chứng khoán chính thức Việt Nam với 193 cổ
phiếu vào phiên cuối năm, đã lên tới 220 nghìn tỷ đồng, tương đương
với 13,8 tỷ USD.
3. Giai đoạn 2007: Giai đoạn thị trường chứng khoán bùng nổ.
Luật Chứng khoán có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 đã góp phần thúc đẩy thị
trường phát triển và tăng cường khả năng hội nhập vào thị trường tài
chính quốc tế. Tính công khai, minh bạch của các tổ chức niêm yết được tăng
cường. VNIndex đạt đỉnh 1.170,67 điểm HASTC-Index chạm mốc
459,36 điểm Nhìn chung diễn biến của thị trường và giá cả chứng khoán
trong các phiên giao dịch có nhiều biến động, Index của cả 2 sàn giao
dịch đều có biên độ giao động mạnh. Kết thúc phiên giao dịch cuối
năm, VNIndex đạt 927,02 điểm, Hastc-Index dừng ở mức 323,55 điểm,
sau 7 năm hoạt động và Hastc – Index thiết lập mức đỉnh 459,36 điểm sau 2
năm hoạt động. Có thể nói, đây là giai đoạn thị trường đạt mức tăng trưởng
với tốc độ lớn nhất khi đạt mức tăng 126% chỉ trong vòng 3 tháng giao dịch.
Nhờ sự tăng trưởng về giá của các cổ phiếu, tổng giá trị vốn hóa của
thị trường trong giai đoạn này lên đến con số 398.000 tỷ đồng. So với tổng
giá trị vốn hóa 492.900 tỷ đồng của cả năm 2007, con số của 3 tháng đầu
năm đã chiếm tỷ trọng 4/5. Nhưng điều quan trọng góp phần gia tăng giá trị
vốn hóa của thị trường không phải do số lượng chứng khoán niêm yết gia
tăng mà do yếu tố giá cổ phiếu tăng mạnh. Trong giai đoạn này, giá các cổ
phiếu tăng trưởng với tốc độ phi mã, đồng loạt các cổ phiếu
từ Blue – chip, Penny stock, các cổ phiếu mới niêm yết trên sàn… tất cả
đều đạt
mức tăng trưởng trên 50% giá trị so với mức giá giao dịch đầu năm, trong đó
có những cổ phiếu đạt mức tăng trưởng trên 100% như: STB (113,57%), REE
(122,66%), ACB (197%),…. Rất nhiều mã CP thiết lập mức giá đỉnh kể từ khi
lên sàn trong giai đoạn này như: SJS (728.000 đ/CP), FPT (665.000 đ/CP),
DHG (394.000đ/CP), REE (285.000đ/CP), SSI (255.000đ/CP), SAM
(250.000đ/CP),KDC (246.000đ/CP), VNM (212.000đ/CP),ACB(292.000đ/CP)
…
Yếu tố quan trọng góp phần vào sự tăng trưởng nóng trong giai đoạn
này phải kể đến sức cầu trên thị trường tăng một cách đột biến khiến giá trị
giao dịch trung bình mỗi phiên giao dịch lên tới hàng ngàn tỷ đồng. Tại sàn
HCM, bình quân mỗi phiên giá trị giao dịch đạt trên 1.000 tỷ đồng, sàn HN
cũng đạt con số 300 tỷ đồng.
• Giai đoạn thị trường điều chỉnh từ Tháng 4/2007 đến đầu Tháng 9/2007
Với nỗi lo sợ về một “thị trường bong bóng”, các cơ quan quản lý nhà nước
cũng như Chính phủ đã vào cuộc để giảm nhiệt thị trường bằng các biện
pháp kiểm soát thị trường chặt chẽ, ban hành những thiết chế để kiềm chế
sự tăng trưởng quá nóng của thị trường. Phản ứng trước điều này, TTCK đã
có những đợt điều chỉnh rõ rệt. Một đợt điều chỉnh giảm của thị trường đã
Giai đoạn này, các nhà đầu tư nước ngoài cũng tỏ ra khá thờ ơ khi lượng
giao dịch của khối này trên cả 2 sàn giao dịch đều sụt giảm mạnh. Giá
trị giao dịch bình quân của khối các nhà đầu tư nước ngoài trong giai đoạn
này đạt khoảng 170 tỷ đồng/phiên, giảm tới 52% so với giai đoạn đầu năm.
• Giai đoạn phục hồi của thị trường vào những tháng cuối năm
Thị trường bước vào giai đoạn phục hồi mạnh mẽ trong khoảng thời gian đầu
tháng 9 đến cuối Tháng 10/2007.
Giá các cổ phiếu trên sàn có xu hướng phục hồi nhanh chóng, đặc biệt là
các mã cổ phiếu blue – chip trên cả 2 sàn đều lấy lại được những gì đã mất
trong 6 tháng giữa năm, tuy nhiên sức bật của các cổ phiếu không đủ mạnh
để đưa các cổ phiếu trở về mức giá đỉnh thiết lập vào tháng 3. Trong
giai đoạn này, VNIndex đã có những phiên giao dịch vượt lên trên ngưỡng
1.100 điểm (1.106,6 điểm vào ngày 3/10/2007), Hastc – Index cũng gần chạm
trở lại ngưỡng 400 điểm (393,59 điểm ngày 01/10/2007).
Đà tăng giá của các cổ phiếu trong giai đoạn này thể hiện rõ nét nhất ở
nhóm các cổ phiếu blue – chip như DHG, FPT, VIC… tại HOSE
và nhóm cổ phiếu Sông Đà: S99, SDA, S91…. tại HASTC. Lượng giao dịch
bình quân phiên tại HOSE luôn ở trên mức 10 triệu CP (phiên giao dịch
kỷ lục đạt 19.047.000 CP vào ngày 01/10/2008), sàn HASTC cũng đạt lượng
giao dịch bằng 1/2 sàn HOSE với trung bình phiên có 5 triệu CP được chuyển
nhượng.
Đề tài: Tìm hiểu thị trường chứng khoáng Việt Nam
Trang 19
Tuy nhiên, Thị trường sau một đợt phục hồi đã nhanh chóng điều chỉnh
giảm vào 2 tháng cuối năm. Trong giai đoạn này, thị trường thỉnh thoảng cũng
có các đợt phục hồi giả với sự tăng lên mạnh mẽ của tất cả các yếu tố.
Tuy nhiên sự phục hồi này không duy trì được lâu, thậm chí đã có dấu hiệu
TTCK.
Nhằm mục đích ngăn chặn đà suy giảm của thị trường, các cơ quan điều
hành bắt đầu đưa ra những chủ trương và biện pháp hỗ trợ:
(1) UBCKNN thu hẹp biên độ giao dịch;
(2) SCIC tham gia mua vào cổ phiếu;
(3) NHTM được vận động ngừng giải chấp;
(4) Tổ chức niêm yết được khuyến khích mua vào cổ phiếu quỹ.
Đề tài: Tìm hiểu thị trường chứng khoáng Việt Nam
Trang 20
Tuy nhiên, phần lớn các biện pháp này chỉ phát huy hiệu quả trong ngắn
hạn, và thị trường tiếp tục sụt giảm, cơn bão giải chấp cổ phiếu không
ngừng tác động tới tâm lý các nhà đầu tư. Trong 103 phiên giao dịch của giai
đoạn này, có tới 71 phiên VNIndex giảm điểm. Đỉnh điểm là chuỗi
34 phiên VN-Index giảm điểm liên tiếp từ giữa tháng 04 đến đầu tháng
06/2008. Sau
103
phiên
giao
dịch,VNIndex giảm mất 550,52
điểm- tương đương 59,77%. Bình quân trong mỗi phiên, toàn thị trường
có 8,02 triệu CP&CCQ được chuyển nhượng, tương đương khoảng 482
tỷ đồng.
Trong đợt suy giảm này, nhóm cổ phiếu chịu nhiều tác động nhiều nhất là
nhóm cổ phiếu tài chính ngân hàng, công nghệ và công nghiệp (chủ yếu là
các doanh
nghiệp BĐS).
Trong lịch sử hoạt động của TTCK, chưa có năm nào UBCKNN phải can
Trang 21
thương mại cao nhất vào trong năm tháng đầu năm với mức trung bình là
khoảng 2,6
tỷ USD/tháng.
Trước thực trạng này chính phủ đã đề ra 8 nhóm giải pháp vào tháng
3/2008 với mục tiêu kiềm chế lạm phát và thâm hụt thương mại. Các chính
sách chủ yếu được thực hiện thông qua việc sử dụng công cụ điều hành lãi
suất cơ bản và thắt chặt đầu tư công để hạn chế nguồn cung tiền trên thị
trường.
• Giai đoạn 2: Tháng 06 tới đầu tháng 09 - Phục hồi trong ngắn hạn
Nhờ vai trò dẫn dắt của một số cổ phiếu blue -chip như STB, FPT, DPM…
và đặc biệt là SSI với sức cầu hỗ trợ từ đối tác nước ngoài, cả hai sàn
chứng khoán đã có được những phiên tăng điểm mạnh trong giai
đoạn này. VNIndex và Hastc-Index liên tiếp vượt qua các ngưỡng cản tâm lý
quan trọng và thường xuyên có được những chuỗi tăng điểm kéo dài.
Đây cũng là giai đoạn thị trường hoạt động sôi động nhất. Sức cầu mạnh, kéo
theo khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch thường xuyên ở mức cao.
VNIndex tăng được 168,55 điểm, tương đương 45,52%. Khối lượng giao
dịch bình quân đạt 16,9 triệu CP&CCQ, tương đương 599,18 tỷ đồng/phiên.
Trong giai đoạn này, nhóm cổ phiếu được ưa thích nhất là nhóm cổ phiếu dầu
khí (tăng 80,33%), nguyên vật liệu và công nghệ (tăng 89,78%). Các đại diện
tiêu biểu cho nhóm cổ phiếu này bao gồm: PVS, PVD, PTC, HPG, FPT…
• Giai đoạn 3: Từ tháng 09 tới tháng 12 - Thị trường rơi trở lại
chu kỳ giảm do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu
Đây là thời kỳ VNIndex rơi trở lại xu hướng giảm, thậm chí đã phá vỡ
đáy thiết lập được trong giai đoạn đầu của năm 2008. Tổng kết cả giai đoạn
này, VNIndex mất 223,48 điểm, tương đương 41,45%. Khối lượng giao dịch
trung bình đạt 15,82 triệu CP&CCQ, tương đương 497,58 tỷ đồng/phiên.
từ cuối tháng 10 đến giữa tháng 12.
So với các kênh đầu tư khác như vàng, USD, bất động sản, tiết kiệm, có
thể nói kênh đầu tư chứng khoán rất hấp dẫn và có thể nói đem lại lợi
nhuận lớn nhất Việt Nam trong năm 2009
Trong năm 2009, có thể thấy khi thị trường đi vào xu hướng
tăng điểm thì các cổ phiếu thuộc nhóm ngành Tài chính( Ngân hàng, chứng
khoán), ngành bất động sản, tháp thủy sản đều có tốc độ tăng
giá mạnh hơn so với VN-Index. Tuy nhiên, khi thị trường đi vào giai
đoạn giảm giá thì giá các cổ phiếu thuộc nhóm ngành Tài chính, bất động sản
chỉ giảm tương đương với VN-Index, trong khi các ngành thép và thủy sản
tốc độ mất giá lại nhanh hơn VN-Index Có thể nói nhờ vào các nguyên
nhân sau mà thị trường đã tăng điểm mạnh.
- Nền kinh tế Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung đã thoát khỏi suy thoái
và xác lập đáy trong quý II/2009.
- Chính phủ Việt Nam thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ nhằm đối phó với
khủng hoảng kinh tế nên lượng tiền được bơm vào nền kinh tế khá nhiều.
Dư nợ tín dụng của hệ thống nân hang tăng trưởng mạnh, đặc biệt là ở thời
điểm tháng1, 5 và 6. Tổng dư nợ của hệ thống ngân hàng trong năm 2009 đã
tăng gần 37,73%, gấp 7,1 lần so với tăng trưởng GDP 5.32% ( năm
2008: tăng trưởng tín dụng 22%, gấp 3,6 lần so với tăng trưởng GDP
6,18%). Nhiều chuyên gia cho rằng mọt phần số tiền từ gói hỗ trợ kích cầu
của chính phủ đã chảy vào thị trường chứng khoán.
- Các công ty chứng khoán tăng cường hỗ trợ công cụ đòn bẩy tài chính cho
khách hang, thậm chí có công ty còn cho sử dụng đòn bẩy với tỷ lệ 1:3, 1:5.
- Sự phục hồi của chứng khoán Mỹ nhất là mỗi lần chỉ số Dow Jone
vượt mốc quan trọng 8.000, 9.000, 10.000 điểm đã có tác động tâm lý tích
cực đối với nhà đầu tư trong nước.
Lợi nhuận doanh nghiệp tăng trưởng ấn tượng từ nhiều nguồn
Đề tài: Tìm hiểu thị trường chứng khoáng Việt Nam
Quy mô thị trường chứng khoán Việt Nam đã tăng trưởng vượt bậc trong
năm 2009
- Theo bộ tài chính mức vốn hóa của TTCK Việt Nam đầu tháng 12 vào
khoảng 669 nghìn tỳ đồng (39 tỷ USD), tương đương 55%GDP của
năm 2008. So với cuối năm 2008(225 nghìn tỷ đồng), mức vốn hóa đả
tăng gần gấp 3 lần.
- Tính đến đầu tháng 12 toàn bộ thị trường đã có 730.000 tài khoản trong đó
của tổ chức là 1.129 tài khoản.
- Tính trong cả năm 2009, giá trị giao dịch toàn thị trường trên HOSE là
423.299 tỷ đồng với 10.432 triệu cổ phiếu được chuyển giao tính trung
bình một cổ phần được giao dịch ở mức giá 40.577 đồng, trong khi
năm 2008 mức giá này là 41.832 đồng. Tương tự trên sàn Hà Nội tồng giá trị
giao dịch là 5.765 triệu đơn vị được chuyển giao tương đương mức giá trung
bình 34.263 đồng so với năm 2008 là 37.310 đồng.
Đề tài: Tìm hiểu thị trường chứng khoáng Việt Nam
Trang 24
- Với giá trị giao dịch đạt 423.299 tỷ đồng trong 251 phiên giao dịch trong
năm qua thì tính trung bình giao dịch mỗi phiên tại sàn HOSE đạt 1.686
tỷ đồng, trong khi con số này của năm 2008 là 502 tỷ đồng.
Thị trường chứng khoán quí I năm 2010 và triển vọng
TTCK Việt Nam sẽ tiếp tục nhận được sự hỗ trợ tích cực của đà phục hồi
kinh tế và TTCK toàn cầu, nhưng còn phụ thuộc vào tình hình trong nước.
Trong quí I/2010, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam tiếp tục trải
qua những thăng trầm và chỉ thay đổi rất ít so với cuối năm 2009. Tại
phiên giao dịch
ngày 31/3/2010, TTCK Việt Nam có
những diễn
doanh nghiệp. Hậu quả là, nhu cầu vay vốn đạt thấp với tổng tín dụng cho
nền kinh tế trong quí 1 chỉ tăng 3,34%.
Vì thế, TTCK Việt Nam nhìn chung là đứng yên nếu không nói là giảm so với
cuối năm 2009, điều này trái ngược với xu thế vận động trên TTCK
toàn cầu. Tại Mỹ, tâm lý lạc quan của các nhà đầu tư vẫn khá phổ biến
khi chứng khoán Mỹ kết thúc quý I thành công nhất kể từ năm 1999 đến nay.
Đề tài: Tìm hiểu thị trường chứng khoáng Việt Nam
Trang 25