Thành phần loài thuộc họ eleotridae và đặc điểm sinh học của một số loài cá bống phân bố trên tuyến sông hậu - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Chuyên ngành: Nuôi trồng thủy sản
Mã ngành: 62620301

VÕ THÀNH TOÀN

THÀNH PHẦN LOÀI THUỘC HỌ ELEOTRIDAE
VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA MỘT SỐ LOÀI
CÁ BỐNG PHÂN BỐ TRÊN TUYẾN SÔNG HẬU

Cần Thơ, 2016
A


CÔNG TRÌNH ĐƢỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Người hướng dẫn chính: PGS.TS. Trần Đắc Định
Người hướng dẫn phụ: TS. Hà Phước Hùng

Luận án được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp trường
Họp tại: ………………...………………………………………
Vào lúc …..... giờ …….. ngày …….. tháng …….. năm ……....

Phản biện 1:…………………………………………………….
Phản biện 2:…………………………………………………….
Phản biện 3: …………………………………..…………….….


thấy hiểu biết về thành phần loài, mức độ phong phú của các loài cá họ
Eleotridae phân bố vùng hạ lưu sông MêKông, cũng như đặc điểm dinh
dưỡng và sinh học sinh sản của cá bống trứng và cá bống dừa còn hạn chế,
trong khi chúng là một trong những nhóm cá có giá trị kinh tế cao ở vùng
ĐBSCL. Vì vậy, nghiên cứu thành phần loài cá thuộc họ Eleotridae và đặc
điểm sinh học của một số loài cá bống có giá trị kinh tế là rất cần thiết.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Nhằm xác định thành phần loài, mức độ phong phú của họ cá bống
Eleotridae và đặc điểm sinh học của một số loài có giá trị kinh tế phân bố
trên tuyến Sông Hậu, góp phần làm cơ sở cho công tác bảo vệ nguồn lợi
thuỷ sản, cũng như làm cơ sở cho nghiên cứu sinh sản nhân tạo một số loài
cá bống kinh tế trong tương lai.
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án nhằm bổ sung dẫn liệu khoa học về thành
phần loài cá thuộc họ Eleotridae và đặc điểm sinh học của một số loài cá
1


bống kinh tế phân bố trên tuyến Sông Hậu. Kết quả này là nguồn tư liệu
phục vụ cho việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học nhằm quản lý, phục
hồi và tái tạo nguồn lợi thuỷ sản nói chung và nhóm cá bống nói riêng.
1.4 Những điểm mới của luận án
i) Kết quả khảo sát các yếu tố sinh thái cho thấy độ mặn có liên quan đến
sự phân bố của các loài cá bống họ Eleotridae, đặc biệt là cá bống trứng
(E. melanosoma) và bống trân (B. butis). Mức độ phong phú tương đối
(CPUE) của hai loài cá này biến động theo mùa và phụ thuộc vào sự đa
dạng các loài thuỷ sinh vật, tốc độ dòng chảy và độ sâu của nước.
ii) Có 5 loài cá bống thuộc họ Eleotridae phân bố trên tuyến Sông Hậu,
trong đó cá bống trứng (E. melanosoma), bống dừa (O. urophthalmus)
và bống tượng (O. marmorata) xuất hiện nhiều ở đầu nguồn và giữa

được thực hiện tại ba khu vực gồm: đầu nguồn (An Phú và Long Xuyên),
giữa nguồn (Thốt Nốt và Ninh Kiều) và cuối nguồn (Long Phú và Trần Đề)
của Sông Hậu (Hình 2.1).

Hình 2.1: Sơ đồ khu vực thu mẫu dọc theo tuyến Sông Hậu
(www.maps.google.com, cập nhật ngày 05/06/2012)

3.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Xác định một số chỉ tiêu sinh thái (nhiệt độ, pH, độ mặn, dòng
chảy, độ sâu, thực vật phù du, động vật phù du, động vật đáy) trên
Sông Hậu
Xác định một số yếu tố sinh thái trong vùng nghiên cứu được thực hiện từ
tháng 8 năm 2012 đến tháng 6 năm 2013 cùng thời gian và địa điểm với
việc thu mẫu cá bống bằng lưới kéo tại đầu nguồn, giữa nguồn và cuối
nguồn Sông Hậu, mỗi khu vực thu 5 điểm, chu kỳ thu mẫu 2 tháng/lần.
Trong đó:
a) Chỉ tiêu pH, nhiệt độ và độ mặn của nước được xác định bằng dụng cụ
chuyên dùng: pH kế, nhiệt kế và khúc xạ kế tại hiện trường (Hình 2.2).
b) Tốc độ dòng chảy được xác định bằng lưu tốc kế số (hiệu 23.090; Paul
and Sally, 1977): Tốc độ dòng chảy (km/giờ) = Khoảng cách đo
(km)/Thời gian đo (giờ); trong đó:
Khoảng cách đo = (Số vòng đã quay của rotor x Hệ số rotor)/999999
Hệ số rotor cho lưu tốc kế (23.090) = 26873 (Paul and Sally, 1977)

c) Độ sâu của nước ở các điểm khảo sát được đo đạc tại hiện trường bằng
thiết bị đo độ sâu (Hondex model PS-7FL) (Hình 2.2).

3





 Mật độ động vật phù du:
X (cá thể/m3) = (T*1.000*Vcđ*106)/(A*N*Vm)
T là số cá thể đếm được theo từng nhóm ngành
Vcđ là thể tích mẫu cô đặc (mL)
A là diện tích 1 ô đếm (mm2)
N là tổng số ô được đếm của buồng đếm Sedgewick rafter cell S50
Vm là thể tích mẫu thu qua lưới lọc (mL)
 Mật độ động vật đáy: D (cá thể/m2) = X/(n*d)
X là số cá thể đếm được theo từng nhóm lớp
n là số lượng thu bằng gàu đáy Petersen
d là diện tích miệng gàu đáy Petersen (d=0,028 m2)
3.2.2 Xác định thành phần loài và mức độ phong phú (CPUE) của cá
bống họ Eleotridae phân bố trên tuyến Sông Hậu
Để xác định thành phần loài, mẫu cá bống được thu bằng nhiều loại ngư cụ
khác nhau như chài, vợt, lưới rê, lưới kéo và thu trực tiếp của ngư dân từ
hoạt động đánh bắt tại các địa điểm nghiên cứu gồm các loại nghề khai
thác như lưới đáy, chài, đặt dớn, giăng lưới, chất chà, lưới kéo. Mẫu cá sau
khi thu được bảo quản lạnh và đưa về phòng thí nghiệm phân tích nguồn
lợi thủy sản Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ phân tích. Các chỉ tiêu phân
tích gồm:
+ Tỉ lệ chiều dài chuẩn (cm) / chiều dài đầu (cm);
+ Tỉ lệ chiều dài chuẩn (cm) / chiều cao thân (cm);
+ Tỉ lệ chiều dài đầu (cm) / khoảng cách hai mắt (cm);
+ Tỉ lệ chiều dài đầu (cm) / chiều dài mõm (cm);
+ Tỉ lệ chiều dài cạnh đuôi (cm) / chiều cao cạnh đuôi (cm);
+ Tỉ lệ chiều cao thân (cm) / chiều cao cạnh đuôi (cm).
Bảng 3.1: Cỡ mẫu xác định chỉ tiêu hình thái của các loài cá bống
Loài cá

5


2.a- Da đầu mỏng. Phần trán giữa hai mắt, xương sọ nổi lên rõ ràng. Toàn thân
phủ vẩy lược. Vẩy đường dọc 26-30 .......................................................... Butis
2.b- Da đầu dày, phủ kín xương sọ. Đầu và phần trước của thân phủ vẩy tròn,
phần sau phủ vẩy lược. Vẩy đường dọc 60-90 …..…….……..….... Oxyeleotris
Trong nghiên cứu này có tham khảo tài liệu của Mai Đình Yên (1992), Trương
Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), Nguyễn Nhật Thi (2000), Trần
Đắc Định và ctv. (2013), Froese and Pauly (2014) để so sánh và định danh
các loài cá bống thu được.

A) Vây bụng tách biệt nhau
B) Không có đường bên
C) Hai vây lưng tách biệt nhau, gồm có
tia vây cứng và tia vi mềm
D) Màng mang không liên tục

Hình 2.3: Một số đặc điểm hình thái chủ yếu của cá bống (Trần Đắc Định và ctv., 2013)

Xác định mức độ phong phú tương đối (CPUE-cacth per unit effort) của
các loài cá bống này được thu thập bằng lưới kéo với các thông số kỹ thuật:
chiều rộng khung lưới là 4,5 m, chiều cao khung lưới là 0,5 m, kích thước
mắc lưới ở phần miệng và thân lưới là a=25 mm, ở đụt lưới là a=15 mm,
chu kỳ thu mẫu 2 tháng/lần. Vị trí các điểm thu mẫu dọc theo Sông Hậu
trên sông chính và sông nhánh (từ sông chính đi vào 1 km, nằm dọc hai
bên sông chính) bắt đầu từ đầu nguồn và kết thúc ở cuối nguồn tại khu vực
An Giang, Cần Thơ và Sóc Trăng, mỗi khu vực thu 5 điểm, 3 điểm thu tại
sông chính và 2 điểm thu tại sông nhánh, vị trí các điểm thu được xác định
bằng GPS (Global Positional System). Mức độ phong phú của cá bống

Địa điểm
Nhánh sông

Tọa độ

Điểm 1

Sông chính (Phường Thốt Nốt, Quận Thốt Nốt)

: 10 12,645' N : 105o35,591'E

Điểm 2

Sông chính (Phường Thốt Nốt, Quận Thốt Nốt)

: 10o11,971' N : 105o35,696'E

Điểm 3

Sông chính (Phường Cái Khế, Quận Ninh Kiều)

: 10o03,184' N : 105o47,542'E

Điểm 4

Sông nhánh (Phường Xuân Khánh, Quận Ninh Kiều)

: 10o00,456' N : 105o44,838'E

Điểm 5

Trong đó:  là vĩ độ (Latitive),  là kinh độ (Longitive), N là Bắc bán cầu, E là Đông bán cầu

3.2.3 Nghiên cứu đặc điểm dinh dƣỡng của cá bống trứng (Eleotris
melanosoma) và cá bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus)
Mẫu cá được thu từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 5 năm 2014, chu kỳ thu
mẫu 2 tháng/lần và được thu ở các nhóm kích cỡ khác nhau, mỗi nhóm thu
ít nhất là 30 cá thể/loài (Bảng 3.5).
Bảng 3.5: Số lượng mẫu phân tích tính ăn của cá bống trứng và cá bống dừa
Đơn vị tính: cá thể/loài/tháng
Mùa mưa (2013)

Mùa khô (2014)

Loài cá

Tổng
cộng

Tháng 6

Tháng 8

Tháng 10

Tháng 1

Tháng 3

Tháng 5


253

Mẫu cá sau khi thu được cố định trong dung dịch formaline 10%, sau đó
đem về phòng thí nghiệm nguồn lợi thuỷ sản của Khoa Thuỷ sản, Trường
Đại học Cần Thơ phân tích. Xác định tính ăn của cá dựa vào hình thái cấu
tạo của hệ thống ống tiêu hóa (hình dạng răng, miệng, lược mang, chiều dài
ruột và thành phần thức ăn trong ống tiêu hóa). Thức ăn trong mỗi dạ dày
của cá được pha loãng với nước cất ở thể tích thích hợp (từ 5-10 mL) và
lắc đều, sau đó lấy 1 ml cho vào buồng đếm (Sedgewick rafter cell S50) và
đưa lên kính hiển vi quan sát và phân tích theo phương pháp tần số xuất
hiện và phương pháp khối lượng (Pillary, 1952).
2.2.3.1 Phương pháp xác định hình thái cấu tạo ống tiêu hoá
Các mẫu cá bống trứng và bống dừa thu được từ Bảng 3.5 được phân tích
xác định các chỉ tiêu: độ rộng miệng, chiều dài toàn thân và chiều dài ruột
của cá (Pravdin, 1973). Tính ăn của cá xác định dựa vào chỉ số tương quan
7


giữa chiều dài ruột và chiều dài toàn thân cá (RLG). Giá trị RLG được tính
theo công thức của Al-Hussaini (1949): RLG=Chiều dài ruột (cm)/Chiều
dài toàn thân (cm) (RLG<1: cá ăn động vật; RLG=1: cá ăn tạp; RLG>1: cá
ăn thực vật).
2.2.3.2 Phương pháp xác định phổ thức ăn
+ Phương pháp tần số xuất hiện: Số lượng dạ dày của cá hiện diện mỗi loại
thức ăn được tính ra phần trăm (%) trên tổng số dạ dày cá được quan sát,
dựa theo tài liệu định loại động và thực vật thuỷ sinh của Shirota (1966),
Dương Đức Tiến và Võ Hành (1997) và Carmelo et al. (1996).
+ Phương pháp khối lượng: Đa phần các loài cá bống họ Eleotridae có
thành phần thức ăn có nguồn gốc động vật với khối lượng tương đối lớn,
do đó nghiên cứu này sử dụng phương pháp khối lượng và kết hợp với

đoạn thành thục sinh dục, hệ số thành thục sinh dục (GSI), hệ số tích
lũy năng lượng (HSI) và hệ số điều kiện (CF) của cá.
(vii) Sức sinh sản: xác định dựa vào khối lượng buồng trứng, số lượng 1
mẫu trứng đại diện và được lấy tại 3 vị trí (phần đầu, phần giữa và
phần cuối buồng trứng). Sức sinh sản tuyệt đối xác định: PF=(n*G)/g
(G: khối lượng buồng trứng (g); g: khối lượng thân cá (g); n: số lượng
mẫu trứng đại diện (trứng)). Sức sinh sản tương đối xác định:
RF=PF/BW (PF: sức sinh sản tuyệt đối; BW: khối lượng cơ thể)
(Banegal, 1967).
(viii) Chiều dài thành thục (Lm): là chiều dài thành thục đầu tiên tại đó
50% tổng số cá thể trong quần đàn phát triển đến giai đoạn thành thục
(giai đoạn III) (King, 1995). Đường biểu diễn của P được thể hiện qua
phương trình: ln[(1-P)/P]= r*Lm-r*L, đường biểu diễn của phương
trình này có dạng đường thẳng (y=ax+b), với hệ số gốc a=-r và tung độ
gốc b=r*Lm, bằng phương pháp hồi qui sẽ xác định được Lm= -b/a và
trong nghiên cứu này Lm được xác định bằng phần mềm Stat (8.0).
CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Xác định một số yếu tố sinh thái (nhiệt độ, pH, độ mặn, dòng chảy,
độ sâu, thực vật phù du, động vật phù du, động vật đáy) trên Sông
Hậu
4.1.1 Yếu tố thủy lý (pH, nhiệt độ, độ mặn)
Kết quả cho thấy pH ít biến động qua 6 đợt khảo sát (7,6-8,1), nhiệt độ từ
29,1-30,9oC, độ mặn chỉ có ở hạ nguồn trong tháng 2, 6 và 12, độ mặn
trong mùa mưa dao động từ 0-7,6‰ và thấp hơn mùa khô (2-10,8‰). Kết
quả cũng cho thấy pH và nhiệt độ nước có biến động theo mùa (Hình 4.1).
Theo Cees et al. (1995), một số loài cá bống có khả năng phân bố ở độ mặn
lên đến 25‰, tuy nhiên chúng sống được trong nhiều loại hình thủy vực có
độ mặn khác nhau và chúng có thể sống trong môi trường có nhiệt độ nước
dao động khá lớn (28,7-31,9oC), thậm chí đến 36,8oC.
Mùa mưa


Giữa nguồn

Cuối nguồn

Khu vực khảo sát

Đầu nguồn Giữa nguồn Cuối nguồn
Khu vực khảo sát

9
8
7
6
5
4
3
2
1
0

Mùa mưa

Đầu nguồn

Mùa khô

Giữa nguồn

Cuối nguồn

Độ sâu thuỷ vực tại ba khu vực có biến động nhiều (4,3-14,4 m), trong đó
các vị trí khảo sát ở giữa nguồn có độ sâu cao nhất (8,7±2,7 m), thấp nhất ở
thượng nguồn (6,8±3,0 m) (Hình 4.2). Theo Đặng Ngọc Thanh và ctv.
(2002), phân bố của sinh vật đáy phụ thuộc vào độ sâu của thủy vực, theo
chiều thẳng đứng thủy vực nước tĩnh ở vùng ven bờ có nền đáy mềm bùn
cát, nhóm thân mềm và tôm cua phát triển nhiều hơn so với vùng đáy sâu.

Đầu nguồn

Giữa nguồn

18
16
14
12
10
8
6
4
2
0

Mùa khô

Mùa mưa

Đầu nguồn

Cuối nguồn



Chlorophyta
(41,0%)

Hình 4.3: Cấu trúc thành phần loài thực vật phù du ở ba khu vực khảo sát

Tần số xuất hiện thực vật phù du ở mùa mưa cao hơn mùa khô, các loài
thuộc ngành vi khuẩn lam, tảo khuê và tảo lục nhiều hơn so với các ngành
còn lại và tập trung nhiều ở khu vực đầu nguồn và giữa nguồn (Hình 4.4).
10


11

Mùa mưa

10

10

Mùa khô

9

Số lượng loài/mùa

8
7
6
5

Chrysophyta

Euglenophyta

Mùa mưa

Mùa khô

9
8
7
6
5

4
3
2
1
0

Bacillariophyta

Dinophyta

Mùa mưa

Số lượng loài/mùa

Mùa khô


Euglenophyta

Dinophyta

Tên ngành

Tên ngành

Tên ngành

Giữa nguồn

Cuối nguồn

Hình 4.4: Số lượng các loài thực vật phù du ở ba khu vực khảo sát theo mùa

Mật độ thực vật phù du đầu nguồn và cuối nguồn cao hơn giữa nguồn
(Bảng 4.1). Đầu nguồn tảo khuê có mật độ cao nhất mùa khô
(28.545±20.190 cá thể/Lít), thấp nhất là tảo mắt (1.646±720 cá thể/Lít),
giữa nguồn tảo lục cao nhất (5.333±3.479 cá thể/Lít), thấp nhất là tảo mắt
(1.633±809 cá thể/Lít), ở cuối nguồn tảo khuê cao nhất (25.759±28.583 cá
thể/Lít), thấp nhất là vi khuẩn lam (86±33 cá thể/Lít). Qua đó cho thấy
ngành tảo khuê chiếm ưu thế nhất so với các ngành còn lại, mật độ xuất
hiện cao nhất ở đầu nguồn và cuối nguồn, thấp nhất ở giữa nguồn.
Bảng 4.1: Mật độ trung bình thực vật phù du ở ba khu vực khảo sát trên tuyến Sông Hậu
Khu vực
Đầu nguồn
Giữa nguồn
Cuối nguồn


4.921±2.772 5.324±3.452
2.730±3.030
0
86±33
0

4.1.3.2 Động vật phù du (Zooplankton): cơ cấu giống loài động vật phù du
xuất hiện ở ba khu vực cũng khác nhau, trong đó Protozoa xuất hiện nhiều
nhất với 51,4%, Rotifera chiếm 25,2%, Copepoda chiếm 18,9% và
Cladocera chiếm 3,6%, Veliger (ấu trùng lớp hai mảnh vỏ) xuất hiện rất ít
(0,9%) ở đầu nguồn và giữa nguồn (Hình 4.5). Kết quả này tương tự với
Dương Trí Dũng và Nguyễn Hoàng Oanh (2011), thành phần động vật phù
du ở giữa nguồn (rạch Cái Khế, Cần Thơ) có 79 loài và có 54 loài thường
xuất hiện, nhiều nhất vẫn là Rotifer, tuy nhiên kết quả này cao hơn nghiên
cứu của Ngô Đức Chân (2010) ở cuối nguồn Sông Hậu có 48 loài.
Copepoda
(18,9%)

Khác (0,9%)

Cladocera
(3,6%)

Rotifera
(25,2%)

Protozoa
(51,4%)

Hình 4.5: Cấu trúc thành phần loài động vật phù du ở ba khu vực khảo sát

Veliger

Mùa mưa

35

Mùa khô

30

10

Rotifera

Mùa mưa

35

25

Protozoa

40

40
Mùa khô

30

Số lượng loài/mùa


Đầu nguồn

Mùa khô

30

Cladocera

Copepoda

Ấu trùng
Veliger

Tên ngành

Giữa nguồn

Cuối nguồn

Hình 4.6: Số lượng các loài động vật phù du ở ba khu vực khảo sát theo mùa

Mật độ động vật phù du mùa mưa cao hơn mùa khô, thấp nhất ở giữa
nguồn, cao nhất cuối nguồn (Bảng 4.2). Cladocera ở đầu nguồn cao nhất
(3.793±3.760 cá thể/m3), thấp nhất Copepoda (1.037±361cá thể/m3), giữa
nguồn Cladocera có mật độ cao nhất (1.137±376 cá thể/m3), thấp nhất
Protozoa (696±630 cá thể/m3), cuối nguồn Protozoa cao hơn
(35.408±38.256 cá thể/m3).
Bảng 4.2: Mật độ trung bình động vật phù du ở ba khu vực khảo sát trên tuyến Sông Hậu
Đơn vị tính: cá thể/m3

3.259±3.532
3.793±3.760
1.137±376
637±342
178±308
894±1.344

Copepoda
1.037±361
3.437±3.879
696±333
815±334
537±465
3.081±2.543

3.1.3.3 Động vật đáy (Zoobenthos): có 73 loài (đầu nguồn: 17 loài, giữa
nguồn: 23 loài, cuối nguồn: 33 loài) với 6 lớp: Gastropoda, Bivalvia,
Crustacea, Insecta, Oligochaeta, Polychaeta. Trong đó, Gastropoda nhiều
nhất 12 loài (36%), Bivalvia 8 loài (24%), Oligochaeta 4 loài (12%),
Crustacea 4 loài (12%), Polychaeta 3 loài (9%), Insecta 2 loài (6,%). Kết
quả này cao hơn hạ lưu sông Tiền (16 loài) (Vũ Ngọc Út và Dương Thị
Hoàng Oanh, 2013).
Crustacea
(12,1%)

Insecta
(6,1%)

Oligochaeta
(12,1%) Polychaeta


0

Bivalvia

Crustacea

Insecta

8

Mùa khô

6

1
Oligochaeta Polychaeta Gastropoda

Mùa mưa

7

Số lượng loài/mùa

Số lượng loài/mùa

Mùa khô

6


Insecta

Tên ngành

Đầu nguồn

Bivalvia

Crustacea

Insecta

Tên ngành

Giữa nguồn

Cuối nguồn

Hình 4.8: Số lượng các loài động vật đáy ở ba khu vực khảo sát theo mùa

Mật độ động vật đáy vào mùa mưa cao hơn mùa khô, ở đầu nguồn và giữa
nguồn cao hơn ở cuối nguồn (Bảng 4.3). Khu vực đầu nguồn Oligochaeta
có mật độ cao nhất (82±57 cá thể/m2) và thấp nhất là Gastropoda (7±1 cá
thể/m2), khu vực giữa nguồn Bivalvia có mật độ cao nhất (58±17 cá
thể/m2), thấp nhất là Insecta (1±1 cá thể/m2), trong khi đó ở cuối nguồn
Bivalvia có mật độ cao nhất (60±85 cá thể/m2) và thấp nhất là Crustacea
(8±6 cá thể/m2), Oligochaeta và Insecta không thấy xuất hiện.
Bảng 4.3: Mật độ trung bình động vật đáy ở ba khu vực khảo sát trên tuyến Sông Hậu
Đơn vị tính: cá thể/m2
Khu vực

38±4
0
0

15±14
23±4
18±14
55±3
30±22
12±14

63±43
7±1
28±17
24±6
12±15
21±30

83±19
11±10
55±41
58±17
60±85
53±34

50±30
16±20
15±15
50±39
8±6

5

Eleotris melanosoma Bleeker, 1853
Oxyeleotris urophthalmus (Bleeker, 1851)
Oxyeleotris marmorata (Bleeker, 1852)
Butis butis (Hamilton, 1822)
Butis humeralis (Valenciennes, 1837)

Cá bống trứng
Cá bống dừa
Cá bống tượng
Cá bống trân
Cá bống trân

Đầu
nguồn

Giữa
nguồn

Cuối
nguồn

++
+
+

++
++
+

20

Mùa mưa

Chiều dài toàn thân (cm/cá thể)

18

Mùa khô

16
14

12
10
8
6
4
2

0
Eleotris
melanosoma

Oxyeleotris
urophthalmus

Oxyeleotris
marmorata



CPUEn (cá thể/ha)

400
350
300
250
200
150
100
50
0

CPUEn (cá thể/điểm)

CPUEn (cá thể/ha)

4.2.2 Mức độ phong phú tƣơng đối (CPUE) của cá bống họ Eleotridae
Khảo sát bằng nghề lưới kéo trên tuyến Sông Hậu chỉ khai thác được cá
bống trứng (E. melanosoma) và cá bống trân (B. butis). Cá bống trứng xuất
hiện đầu nguồn và giữa nguồn; bống trân chỉ xuất hiện ở cuối nguồn.
CPUEn cá bống trứng vào mùa khô dao động từ 1-173 cá thể/ha thấp hơn
vào mùa mưa (2-343 cá thể/ha), CPUEn cao nhất và biến động nhiều ở đầu
nguồn và giữa nguồn (Hình 4.10); CPUEn cá bống trân chỉ có ở cuối nguồn
với số lượng rất thấp, CPUEn vào mùa khô dao động từ 1-21 cá thể/ha và
cao hơn mùa mưa (3-6 cá thể/ha).

Điểm 6 Điểm 7 Điểm 8 Điểm 9 Điểm 10
Vị trí thu mẫu


trước. Răng thường phân bố ở hai hàm và xương hầu, răng hàm nhọn, mịn,
xếp thành nhiều hàng, răng hầu nhỏ, nhọn xếp thành hình bầu dục ở vùng
hầu. Lược mang cá là cơ quan lọc và giữ thức ăn, giúp bảo vệ các tia mang
phía sau, lược mang ngắn, mảnh, xếp thưa và xếp thành hàng trên cung
mang hướng vào xoang miệng hầu và đây là nhóm cá ăn động vật (Nguyễn
Bạch Loan, 2003). Thực quản nối tiếp sau xoang miệng hầu và có dạng
ống to, ngắn, vách khá dày, có thể co dãn do mặt trong có nhiều nếp gấp.
Dạ dày nằm tiếp sau thực quản có nhiệm vụ chứa và lên men tiêu hóa thức
ăn, có dạng túi ngắn vách dày, có nhiều nếp gấp có khả năng giản nở,
chúng thường có mối quan hệ với thức ăn và kích thước con mồi. Ruột là
phần cuối của ống tiêu hóa có nhiệm vụ tiết ra men tiêu hóa thức ăn và tiếp
nhận các men do các tuyến khác chuyển đến, đồng thời hấp thụ vật chất
dinh dưỡng đưa vào máu, ruột cá bống trứng có dạng gấp khúc và ngắn,
cho thấy cá ăn thiên về động vật. Ngoài ra, độ rộng miệng của cá bống
trứng ở ba nhóm kích cỡ có sự khác biệt nhau (Bảng 4.5), điều này cho
thấy cá bống trứng có sự chọn lựa kích cỡ thức ăn theo quá trình phát triển.
Bảng 4.5: Độ rộng miệng của cá bống trứng ở ba nhóm kích cỡ khác nhau
Nhóm kích cỡ cá
Chiều dài tổng (Lt, cm)
Độ rộng miệng (cm)

Cỡ mẫu

1

2,5-5,0

0,202±0,097a

64

3,10±0,62
4,29±0,60
Li/Lt (RLG)
0,439±0,171
0,614±0,134

Lt=7,1-9,0
67,62±0,48
5,39±0,58
0,666±0,137

Lt: chiều dài toàn thân trung bình của cá (cm); Li: chiều dài trung bình của ruột cá (cm)

Cá bống dừa có miệng rộng, cận trên, rạch miệng hướng xuống, xoang
15


miệng hầu to, không có màng nhầy, co duỗi được và đặc trưng cho nhóm
cá ăn mồi có kích thước lớn. Răng phân bố ở hai bên hàm, vòm miệng và
hầu, răng hàm rất nhiều, bén nhọn và hầu hết có dạng răng chó mọc thành
nhiều hàng ở cả 2 hàm trên và dưới. Lược mang được cấu tạo bởi 3 đôi
cung mang, mỗi đôi cung mang có 1 hàng lược mang (9-12 lược mang)
nằm trong xoang miệng hầu, có màu trắng hồng, mảnh, thưa, xếp thành
một hàng dạng gai nhọn, cứng nằm trên cung mang và hướng vào xoang
miệng hầu. Thực quản nằm tiếp sau xoang miệng hầu, có nhiệm vụ đưa
thức ăn xuống dạ dày. Thực quản có dạng hình ống, nhỏ và ngắn, mặt
trong có nhiều nếp gấp, có độ đàn hồi cao cho thấy đây là loài cá ăn động
vật. Dạ dày cá nằm tiếp theo sau thực quản, nằm trong xoang nội quan và
có chức năng chứa thức ăn, cung cấp men tiêu hóa tham gia quá trình tiêu
hóa thức ăn, có hình túi, to, vách dày, mặt trong có nhiều nếp gấp có thể

0,63±0,12, trong khi ở nhóm cá lớn nhất là 0,74±0,15 (Bảng 4.8).
Bảng 4.8: Chỉ số Lt, Li, RLG của cá bống dừa ở 3 nhóm kích cỡ
Chiều dài toàn thân (Lt, cm)
Chỉ tiêu
Lt=4,0-6,5
Lt=6,6-9,0
Lt=9,1-12,5
Lt
5,85±0,58
8,04±0,75
9,95±0,64
Li
3,65±0,67
5,24±1,05
7,29±1,40
Li/Lt (RLG)
0,63±0,12
0,65±0,11
0,74±0,15
Lt là chiều dài toàn thân trung bình của cá (cm); Li là chiều dài trung bình của ruột cá (cm)

4.3.2 Phổ thức ăn của cá bống trứng và cá bống dừa
4.3.2.1 Thành phần thức ăn theo phương pháp tần số xuất hiện
Thành phần thức ăn cá bống trứng gồm: giáp xác, thân mềm, cá con và
thức ăn khác (thực vật phù du và động vật phù du), trong đó giáp xác có
tần số xuất hiện là 19,57%, thân mềm là 8,70% và cá con là 2,20%, trong
16


khi đó thức ăn khác có tỉ lệ rất cao với 69,57% (Bảng 4.9).

Tần số xuất hiện (%)
1
Giáp xác
2
4,88
2
Thân mềm
5
12,20
3
Cá con
1
2,44
4
Thức ăn khác
41
100

4.3.2.2 Thành phần thức ăn theo phương pháp khối lượng

Từ kết quả phân tích thành phần thức ăn theo phương pháp khối
lượng (Bảng 4.11 và Bảng 4.12) kết hợp với kết quả xác định thành
phần thức ăn theo phương pháp tần số xuất hiện (Bảng 4.9 và Bảng
4.10) đã xác định được phổ thức ăn của cá bống trứng và cá bống
dừa. Trong phổ thức ăn của cá bống trứng nhóm giáp xác có tỉ lệ cao nhất
(78,5%), kế đến là thân mềm (15,0%), cá con (6,3%) và thức ăn khác
(0,2%). Trong phổ thức ăn của cá bống dừa nhóm thân mềm có tỉ lệ cao
nhất (47,7%), kế đó là giáp xác (37,5%), cá con (14,1%) và thức ăn khác
(0,7%) (Hình 4.12). Theo Watts (2004), thức ăn ưa thích của cá bống là cá
con, động vật thân mềm và giáp xác nhỏ; theo Lê Thị Ngọc Thanh (2010),

2
Thân mềm
12,20
1,722
2
Giáp xác
4,88
3,390
3
Cá con
2,44
2,553
4
Thức ăn khác
100
0,003

17

Tích số
70,16
13,41
5,63
0,21
Tích số
17,57
13,84
5,21
0,25


37,5%

Thân mềm
47,7%

Giáp xác
78,5%

Cá bống trứng
Cá bống dừa
Hình 4.12: Phổ thức ăn của cá bống trứng và cá bống dừa

4.4 Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của cá bống trứng (Eleotris
melanosoma) và bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus)
4.4.1 Sự thành thục sinh dục của cá bống trứng và cá bống dừa
4.4.1.1 Các giai đoạn thành thục sinh dục cá bống trứng và bống dừa
Tỉ lệ thành thục sinh dục của cá bống trứng khác nhau theo tháng, giai
đoạn cá chưa thành thục sinh dục (giai đoạn I và II) có sự khác biệt từ
tháng 1-3 và từ 7-9 và cao nhất tháng 10-12 (68-82%) (Hình 4.13), giai
đoạn IV xuất hiện quanh năm và cao nhất từ tháng 4-6 (50%). Theo ghi
nhận của ngư dân sống trong vùng, cá bống trứng có mang trứng thường
xuất hiện nhiều từ tháng 3-6 và từ tháng 10-12 và tuyến sinh dục của cá cái
chỉ phát hiện đến giai đoạn IV với tỉ lệ cao nhất vào tháng 5 và 6 (50%).
Các giai đoạn thành thục sinh dục của cá bống dừa cũng khác nhau theo
thời gian, giai đoạn I và II xuất hiện từ tháng 12-2 (Hình 4.13), giai đoạn
IV xuất hiện quanh năm và cao nhất tháng 5-6.
Giai đoạn III

Giai đoạn IV



Giai đoạn I và II

50
40

30

30

20

20
10

10

0

0
8/2012 9/2012 10/2012 11/2012 12/2012 1/2013 2/2013 3/2013 4/2013 5/2013 6/2013 7/2013

Tháng

Cá bống trứng

8/2012 9/2012 10/2012 11/2012 12/2012 1/2013 2/2013 3/2013 4/2013 5/2013 6/2013 7/2013

Tháng


Cá bống dừa
Hình 4.14: Hình thái các giai đoạn phát triển noãn sào cá bống trứng và bống dừa

Các giai đoạn phát triển noãn sào cá bống trứng và bống dừa cũng được
xác định bằng mô học. Tuyến sinh dục của chúng giai đoạn I dễ quan sát
trên lát cắt noãn nguyên bào, nhân to tròn, có tỉ lệ lớn hơn thể tích noãn
bào giai đoạn II. Kích thước noãn bào giai đoạn II tăng lên, tỉ lệ nhân và tế
bào giảm, nhiều hạt sắc chất bắt màu tím của Hematoxylin. Giai đoạn III tế
bào trứng chuyển sang sinh trưởng chất dinh dưỡng, noãn bào bắt đầu giai
đoạn tích lũy, xuất hiện nhiều không bào không bắt màu, nhân lớn bắt màu
tím nhạt, kích thước noãn bào gia tăng, tế bào chất ưa kiềm nhưng yếu,
noãn hoàng xuất hiện nhiều màu hồng của eosin. Giai đoạn IV kích thước
noãn bào gia tăng, số lượng tiểu hạch trong nhân giảm và tan biến vào dịch
nhân, kích thước noãn bào đạt cực đại, nhân không có hình dạng nhất định,
không bào xuất hiện nhiều, gia tăng kích thước (Hình 4.15).
Lát cắt ở độ phóng đại x10.

Lát cắt ở độ phóng đại x10.
: Noãn nguyên bào: tỉ
lệ nhân > tế bào, tế bào chất
bắt màu xanh tím của
Haematoxylin
: Noãn bào: kích thước
tăng lên, tỉ lệ giữa nhân và tế
bào giảm, nhiều hạt sắc chất
bắt màu tím của Hematoxylin

Noãn sào thời kỳ I

Noãn sào thời kỳ III

Noãn sào thời kỳ III

Noãn sào thời IV

Noãn sào thời kỳ IV

Cá bống trứng
Cá bống dừa
Hình 4.15: Lát cắt các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục cá bống trứng và bống dừa

4.4.1.3 Các giai đoạn phát triển tinh sào cá bống trứng và bống dừa
Theo Nikolsky (1963), kết quả cho thấy tinh sào cá bống trứng và bống
dừa cũng thể hiện có 2 giai đoạn: (i) giai đoạn tinh sào chưa thành thục có
dạng hình sợi, phân thùy nhỏ, nằm ôm sát cột sống thân cá, quan sát bằng
mắt thường khó có thể xác định giai đoạn phát triển của tinh sào và (ii) giai
đoạn tinh sào đã thành thục: tinh sào mở rộng, gia tăng kích thước, bề mặt
19


tinh sào phồng lên, căng tròn, quan sát thấy bên trong có tinh trùng màu
trắng đục.

Tinh sào ở giai đoạn cá chưa thành thục

Tinh sào ở giai đoạn cá đã thành thục

Tinh sào ở giai đoạn cá chưa thành thục

Tinh sào ở giai đoạn cá đã thành thục


dừa đực từ 0,14-1,71%, cá cái 1,59-9,70% (Hình 4.18); HSI cá bống dừa
đực là 0,26-2,06%, cá cái là 0,74-7,58% (Hình 4.19). Theo Nikolsky
(1963), hệ số thành thục và hệ số tích lũy năng lượng của cá là những hệ số
quan trọng để dự đoán mùa vụ sinh sản của cá.

20


14

14

Cá đực

Cá cái

10
GSI (%)

12

10

GSI (%)

12

8
6


Cá đực

Cá cái

Cá đực

12

10

10

8

8

HSI (%)

HSI (%)

12

6
4

Cá cái

6
4



Cá cái

Cá đực

Cá cái

0.050

0.050

0.045
0.045

0.040

0.040

0.035

CF (g/cm)

CF (g/cm)

0.035
0.030

0.025

0.030

4/2013

5/2013

6/2013

7/2013

8/2012

9/2012 10/2012 11/2012 12/2012 1/2013

2/2013

3/2013

4/2013

5/2013

6/2013

7/2013

Tháng

Cá bống trứng
Cá bống dừa
Hình 4.20: CF của cá bống trứng và cá bống dừa


cá đực và cái, Lm ở cá bống dừa đực là Lt=11,36 cm và cá cái là Lt=7,97
cm (Hình 4.22). Theo King (1995), Lm của cá là chiều dài tại đó quần đàn
của hai loài cá này có 50% cá thể trong quần đàn đã phát triển đến giai
đoạn thành thục (giai đoạn III).
1.0

1.0
0.9
0.8

L: chiều dài toàn thân cá (cm)

0.9

L: chiều dài toàn thân cá (cm)

P: tỉ lệ cá thành thục đạt đến
50% trong quần đàn

0.8

P: tỉ lệ cá thành thục đạt đến
50% trong quần đàn

0.7

trịtrịPP
GiáGiá

0.7


0.5
0.4
0.3

0.3

0.2

0.2
0.1

0.1

0.0

0.0
2

3

4

5

6

7

8


7

8

12

13

14

L: chiều
dài toàn
dài toàn
thânthân
cá (cm)
cá (cm)
0.9 0.9 L: chiều

0.8

-0,335283*(L-(11,3551)

P=1/{1+e

0.8 0.8

}

R=0,953

0.4

11

1.0 1.0

0.9

0.6 0.6

L: chiều dài toàn thân cá (cm)

0.5 0.5

P

0.5

10

L

Cá đực
Cá cái
Hình 4.21: Chiều dài thành thục của cá bống trứng đực và cái

1.0

0.6



0.2

}

}

0.2 0.2

0.1

0.1 0.1

0.0
1

2

3

4

5

6

7

8



2

2

4

4

6

6

8

8 Giá
10Ltrị
10L
Giá
trị
L

L

12 12

14 14

Cá đực
Cá cái

mùa mưa cao hơn mùa khô.
Cá bống trứng (E. melanosoma) và bống dừa (O. urophthalmus) có chiều
dài ruột ngắn hơn dài thân, cấu tạo ống tiêu hóa phù hợp với loài ăn động
vật. Phổ thức ăn của cá bống trứng và bống dừa gồm: giáp xác (78,5% và
37,5%), thân mềm (15,0% và 47,7%), cá con (6,3% và 14,1%) và thức ăn
khác (0,2% và 0,7%).
GSI của chúng cao từ tháng 5-10, trong khi đó HSI thấp nhất vào tháng 7,
CF cao nhất vào tháng 4 và tháng 11. Do đó, mùa vụ sinh sản của chúng từ
tháng 5-10, tập trung từ tháng 5-7. Sức sinh sản tuyệt đối của cá bống trứng
2.981-19.520 trứng/cá cái và bống dừa 1.290-9.999 trứng/cá cái; sức sinh
sản tương đối cá bống trứng 49-930 trứng/g cá cái, cao hơn bống dừa (44477 trứng/g cá cái). Chiều dài thành thục (Lm) cá bống trứng đực là 8,62
cm, bống trứng cái 7,79 cm; Lm bống dừa đực 11,36 cm và cá cái 7,96 cm.
5.2 Đề xuất
Nghiên cứu thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá bống trứng (Eleotris
melanosoma) và bống dừa (Oxyeleotris urophthalmus) để có thể phát triển
thành đối tượng nuôi mới.
Nghiên cứu khả năng chịu mặn và một số đặc điểm sinh học cá bống trân
(B. humeralis) để có thể phát triển thành đối tượng nuôi mới, góp phần đa
dạng hoá đối tượng nuôi ở vùng ven biển và thích ứng với biến đổi khí hậu.
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status