ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN TUẤN ANH
KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM
VỤ ÁN HÌNH SỰ
(Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Hòa Bình)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN TUẤN ANH
KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM
VỤ ÁN HÌNH SỰ
(Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Hòa Bình)
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số
: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
1
MỞ ĐẦU
Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT HOẠT
6
ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1.
Khái quát về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
6
1.1.1.
Vị trí, vai trò của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
6
1.1.2.
Chức năng, nhiệm vụ và các đặc trưng cơ bản của xét xử sơ
9
Ý nghĩa của kiểm sát tuân theo pháp luật trong xét xử sơ thẩm
30
1.3.1.
Đảm bảo tính khách quan trong quá trình giải quyết vụ án
30
1.3.2.
Đảm bảo áp dụng pháp luật thống nhất
31
1.3.3.
Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa
32
1.3.4.
Bảo đảm xét xử công bằng
32
1.3.5.
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN KIỂM
SÁT HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
2.1.
Pháp luật Việt Nam về kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm vụ
38
án hình sự
2.1.1.
Pháp luật Việt Nam về kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm vụ
38
án hình sự từ năm 1945 đến trước năm 2003
2.1.2.
Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về kiểm sát hoạt
41
động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
2.2.
Thực tiễn công tác kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án
48
Cơ sở của việc hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng
61
cao hiệu quả công tác kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
3.2.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm
66
vụ án hình sự của Viện kiểm sát
3.3.
Các giải pháp khác nâng cao chất lượng công tác kiểm sát
70
hoạt động xét xử
3.3.1.
Nâng cao trình độ của các Kiểm sát viên nói riêng và lực
lượng cán bộ ngành kiểm sát nói chung
5
70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
80
6
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS
: Bộ luật Tố tụng hình sự
TTHS
: Tố tụng hình sự
VKS
: Viện kiểm sát
VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC
: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
XHCN
Các kiến nghị của VKS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
57
2.4
Kháng nghị
57
8
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngành kiểm sát nhân dân được thành lập ngày 26/7/1960, đánh dấu sự
ra đời của một hệ thống cơ quan nhà nước với chức năng kiểm sát việc tuân
theo pháp luật, đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống
nhất, bảo vệ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Theo quy định của Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân (VKSND) năm 1960. VKSND không chỉ có chức năng thực hành
quyền công tố mà thực hiện cả chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trên lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội và lĩnh vực hoạt động tư pháp, trong
đó có hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm, điều này cho thấy ngay từ những
ngày mới thành lập, việc kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm đã được đánh giá
là một trong những khâu công tác quan trọng của ngành kiểm sát. Xuyên suốt
quá trình hình thành và phát triển của VKSND tới nay, với những quy định
của pháp luật hiện hành và đặc biệt là của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS)
năm 2003 đã là cơ sở cho VKSND thực hiện chức năng, quyền hạn và trách
được thể hiện rõ nét qua công tác kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm hình sự
bởi vì đây luôn được coi là một trong những hoạt động trọng tâm của ngành
kiểm sát. Vậy làm thế nào để ngành kiểm sát có thể thực hiện tốt nhiệm vụ của
mình? Những khó khăn và hạn chế gì đang tồn tại trong công tác kiểm sát hoạt
động xét xử sơ thẩm hình sự và giải pháp để ngành Kiểm sát thực hiện tốt
nhiệm vụ kiểm sát hoạt động xét xử hình sự với nền tảng là BLTTHS 2003…?
Đây là những câu hỏi mang tính thực tiễn cao đang được ngành Kiểm sát nhân
dân hết sức quan tâm trong công cuộc cải cách tư pháp của nước ta hiện nay.
Trong phạm vi luận văn thạc sĩ của mình, với những kinh nghiệm từ thực
tiễn công tác tôi quyết định chọn đề tài: "Kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Hòa Bình)" như một
lời bàn góp phần giải quyết khó khăn, hạn chế và các giải pháp để tăng cường
hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm hình sự của ngành Kiểm sát nhân dân.
10
2. Tình hình nghiên cứu
Sau khi có các Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp, đặc biệt là từ
năm 2006 đến nay, đã có một số bài viết - đề tài nghiên cứu về tổ chức và
hoạt động của VKSND như: "Một số nội dung cần nghiên cứu để triển khai
thực hiện Kết luận 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị và Pháp lệnh
sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân
dân năm 2002" của Hoàng Nghĩa Mai, Tạp chí Kiểm sát, số 13, 2011; "Viện
kiểm sát nhân dân đổi mới toàn diện và đồng bộ để triển khai thực hiện tốt
các quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong tố
tụng dân sự và tố tụng hành chính" của Nguyễn Thị Thủy Khiêm, Tạp chí
kiểm sát, số 13, 2011; "Một số vấn đề về tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm
vụ của Viện kiểm sát trong tiến trình cải cách tư pháp" của Lê Hữu Thể đăng
trên Tạp chí Kiểm sát, số 04, 2008 v.v. Chuyên đề về tổ chức và hoạt động
xử sơ thẩm vụ án hình sự.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận về kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự của VKS trong điều kiện cải cách tư pháp, đồng thời đánh giá thực trạng
quy định của pháp luật và thực tiễn kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự những năm qua, trên cơ sở đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật
và các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát hoạt động xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự của VKSND.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quy định và thực tiễn hoạt động
thực hiện chức năng kiểm sát đối với xét xử vụ án hình sự của VKSND.
Phạm vi nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn xét xử sơ thẩm với
hoạt động của VKSND tỉnh Hòa Bình, từ năm 2009 đến 2014 (30/9/2009 đến
01/10/2014).
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng kết hợp cùng chủ nghĩa duy vật lịch sử, lý luận của chủ
12
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm và tư tưởng chỉ đạo
của Đảng cộng sản Việt Nam về đổi mới toàn diện đất nước nói chung, về cải
cách tư pháp nói riêng, chính sách pháp luật Đảng và Nhà nước ta trong TTHS.
Luận văn sử dụng các phương pháp: phân tích và tổng hợp, thống kê
và so sánh, kết hợp lý luận và khảo sát thực tiễn,…
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Đóng góp của luận văn về mặt khoa học pháp lý là góp phần làm sáng
tỏ cơ sở lý luận về chức năng, nhiệm vụ, vai trò, công tác của VKSND trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Như vậy, quá trình giải quyết vụ án hình sự được chia thành các giai
đoạn khác nhau phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan tiến hành
tố tụng, người tiến hành tố tụng và được diễn ra liên tục, kế tiếp nhau. Quan
điểm truyền thống ở nước ta phân chia quá trình giải quyết vụ án thành bốn
giai đoạn tương ứng với chức năng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Các
giai đoạn đó gồm: Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự: Là giai đoạn đầu của quá
trình giải quyết vụ án hình sự, bắt đầu từ khi cơ quan có thẩm quyền nhận được
tin báo, tố giác về tội phạm và kết thúc bằng việc ra quyết định khởi tố hoặc
không khởi tố vụ án hình sự. Giai đoạn điều tra và truy tố: Là giai đoạn được
bắt đầu sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi có quyết
định truy tố bị can bằng bản cáo trạng, quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc
quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Giai đoạn xét xử vụ án hình sự: Là
giai đoạn được bắt đầu khi Tòa án nhận được hồ sơ vụ án và quyết định truy
tố bị can cùng bản cáo trạng của VKS và kết thúc khi bản án, quyết định của
Tòa án có hiệu lực pháp luật. Giai đoạn thi hành bản án, quyết định có hiệu
14
lực pháp luật của Tòa án: Là giai đoạn mà các cơ quan có trách nhiệm đưa
bản án và quyết định của Tòa án ra thi hành nhằm đảm bảo hiệu lực trên thực tế.
Mỗi giai đoạn của hoạt động TTHS có nhiệm vụ và định hướng khác
nhau nhưng đều hướng tới mục đích giải quyết vụ án khách quan, toàn diện
đúng quy định của pháp luật và do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện.
Trong đó, xét xử vụ án hình sự là giai đoạn trung tâm của TTHS, thể hiện đầy
đủ nhất bản chất chế độ tư pháp hình sự của mỗi quốc gia, quyết định việc
giải quyết vụ án, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ
chức, công dân. Tòa án phải xét xử chính xác, công minh vì thông qua phán
quyết về những hành vi phạm tội, tòa án duy trì công lý trong xã hội, kiểm
soát xã hội trong vòng trật tự.
sơ thẩm là một giai đoạn của TTHS. Xét xử sơ thẩm là hoạt động tố tụng thực
hiện chức năng xét xử của tòa án dưới hình thức phiên tòa xem xét và giải
quyết vụ án hình sự, có nghĩa là tòa án trên cơ sở bản cáo trạng và các chứng
cứ được kiểm tra tại phiên tòa đưa ra phán quyết về toàn bộ những vấn đề của
vụ án. Đây là điểm mấu chốt phân biệt xét xử sơ thẩm với xét xử phúc thẩm.
Phiên tòa sơ thẩm chỉ có thể tiến hành khi có quyết định truy tố của VKS và
có đủ điều kiện để tiến hành phiên tòa.
Giáo trình Luật TTHS của Đại học Quốc gia Hà Nội định nghĩa:
Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được hiểu là một giai đoạn tố
tụng hình sự, trong đó Tòa án có thẩm quyền thay mặt Nhà nước
tiến hành việc xét xử lần đầu, toàn diện, tổng thể vụ án hình sự trên
cơ sở bản cáo trạng của Viện kiểm sát, Tòa án sẽ xem xét đánh giá
chứng cứ và dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa làm cơ sở để
ra các phán quyết công minh, có căn cứ và đúng pháp luật bằng bản
án và quyết định của mình [5, tr. 359].
Như vậy có thể nói, giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có một vị
trí, vai trò đặc biệt quan trọng, các thủ tục khác có thể có, có thể không,
nhưng xét xử sơ thẩm là lần đầu, do đó, là thủ tục bắt buộc. Là lần đầu xét xử,
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự không chỉ xem xét, đánh giá toàn diện, đầy đủ
16
và khách quan về vụ án mà còn hướng đến việc xử lý triệt để, toàn diện và dứt
điểm vụ án hình sự ở giai đoạn này. Đó là có hay không có hành vi phạm tội,
ai là người thực hiện hành vi phạm tội, lỗi, tính chất lỗi, mức độ thiệt hại,
quyết định hình phạt, các biện pháp tư pháp. Vì vậy, nếu xét xử sơ thẩm được
thực hiện tốt sẽ góp phần giảm thiểu đến mức tối đa tình trạng giải quyết kéo
dài vụ án, để án tồn đọng. Do đó sẽ hạn chế được lượng án mà tòa án cấp
phúc thẩm phải giải quyết, tiết kiệm đáng kể cho Nhà nước và xã hội các chi
tự sơ thẩm, tòa án tiến hành giải quyết vụ án bằng việc quyết định đình chỉ vụ
án, quyết định tạm đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật.
Ba là, trên cơ sở truy tố của VKS, tòa án tiến hành giải quyết vụ án
bằng việc ra bản án, quyết định việc bị cáo có phạm tội hay không phạm tội,
hình phạt và các biện pháp tư pháp khác căn cứ vào các chứng cứ đã được
thẩm tra tại phiên tòa, quan điểm giải quyết vụ án của kiểm sát viên và ý kiến
của những người tham gia tố tụng.
Bốn là, qua việc xét hỏi và tranh luận dân chủ, công khai tại phiên tòa,
hội đồng xét xử kiểm tra, đánh giá lại toàn bộ những chứng cứ, tình tiết của
vụ án đã có trong hồ sơ và tại phiên tòa để đưa ra phán quyết cuối cùng.
Năm là, thông qua việc xét xử và đặc biệt là qua các phiên tòa công
khai, giai đoạn xét xử sơ thẩm góp phần giáo dục công dân chấp hành nghiêm
chỉnh pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội, nâng cao ý thức
đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cũng như các vi phạm pháp luật khác.
1.1.2.2. Các đặc trưng cơ bản của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Nghiên cứu các nội dung quy định của Hiến pháp năm 2013 và
BLTTHS năm 2003 hiện hành, có thể nhận thấy xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn TTHS có tính
bắt buộc với các vụ án hình sự và được tiến hành theo một trình tự nhất định.
Như phần trên đã đề cập, TTHS trải qua nhiều giai đoạn khác nhau do
các cơ quan, chủ thể khác nhau thực hiện trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của
các cơ quan tiến hành tố tụng. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn
18
tiếp sau giai đoạn truy tố, được bắt đầu khi Tòa án nhận được hồ sơ vụ án và
quyết định truy tố bị can hoặc bản Cáo trạng của VKS. Các tài liệu, chứng cứ
được thu thập ở các giai đoạn trước được đưa ra xem xét một cách công khai,
được nghe trực tiếp lời khai của nhau, được tranh luận, chất vấn những điều
mà tại CQĐT, VKS họ không có điều kiện để thực hiện. Nói cách khác, xét
xử sơ thẩm chỉ được tiến hành khi CQĐT đã điều tra vụ án, VKS đã truy tố bị
can trước tòa án bằng bản cáo trạng. Do đó, xét xử sơ thẩm là một công đoạn
trong giai đoạn kết thúc của quá trình giải quyết một vụ án hình sự.
Thứ ba, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có kết quả là một bản án, quyết
định công minh, có căn cứ và đúng pháp luật.
Các phán quyết của Tòa án được xem xét, đánh giá trên cơ sở những
chứng cứ đã thu thập trong giai đoạn điều tra, truy tố và những chứng cứ thu
thập tại phiên tòa. Đồng thời phán quyết của Tòa án còn dựa trên kết quả tranh
tụng dân chủ, công khai và bình đẳng giữa các bên để nhằm đưa ra một phán
quyết có căn cứ, công minh và đúng pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Phán quyết của tòa án là phán quyết về
bản chất của vụ án (bao gồm: bị cáo có phạm tội hay không, hậu quả pháp lý về
hình phạt, biện pháp tư pháp khác hay quyết định khác mà bị cáo phải chịu…)
trên cơ sở tuân thủ đúng các quy định của pháp luật hình sự (về tội phạm và hình
phạt) pháp luật TTHS (về tư cách tố tụng, chứng cứ, thẩm quyền xét xử…).
Thứ tư, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự góp phần duy trì, bảo vệ công lý,
khôi phục công bằng xã hội, bảo vệ quyền lợi của công dân. Phán quyết của
Tòa án có căn cứ, công minh, đúng pháp luật còn góp phần vào việc xử lý triệt
để, toàn diện và dứt điểm vụ án hình sự, qua đó hạn chế được lượng án phải giải
quyết ở cấp phúc thẩm. Việc đưa ra xét xử công khai, nghiêm minh và dân chủ
vụ án hình sự còn góp phần bảo đảm sự thượng tôn của pháp luật, duy trì
công lý, đem lại công bằng trong xã hội, đảm bảo tính pháp chế của pháp luật.
Việc xem xét và giải quyết vụ án hình sự theo đúng quy định của pháp
luật trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đã góp phần bảo vệ chế độ,
pháp chế XHCN; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ quyền và
20
21
giam, giữ, cải tạo). Tuy nhiên, chưa đầy 2 năm sau, mô hình Viện công tố chấm
dứt tồn tại. Vào thời điểm năm 1959 - 1960, cách mạng nước ta bước vào giai
đoạn phát triển mới - giai đoạn vừa tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân ở Miền Nam, vừa tiến hành cuộc cách mạng XHCN ở miền Bắc.
Nhu cầu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi pháp
luật phải được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, đòi
hỏi sự nhất trí về mục đích và hành động trong nhân dân, giữa nhân dân
và Nhà nước, cũng như giữa các ngành hoạt động nhà nước với nhau.
Nếu không đạt được sự thống nhất trong việc chấp hành pháp luật
thì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn. Vì lẽ
trên phải tổ chức ra Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát việc tuân theo
pháp luật nhằm giữ vững pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho
pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất [33].
Trên cơ sở đó, VKSND được hình thành khởi đầu bằng việc ban hành
Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức VKSND năm 1960. Việc thành lập
VKSND thay cho Viện Công tố là xuất phát từ yêu cầu khách quan của việc
chuyển giai đoạn cách mạng ở nước ta. Cách mạng đã chuyển giai đoạn thì tất
yếu bộ máy nhà nước cũng phải có những thay đổi phù hợp để đáp ứng yêu
cầu, nhiệm vụ mới.
Việc thành lập VKSND ở Việt Nam cũng như ở các nước XHCN trước
đây là sự áp dụng tư tưởng của V.I. Lênin về tổ chức và hoạt động của VKS
được trình bày trong tác phẩm "Bàn về chế độ song trùng và pháp chế" vào điều
kiện cụ thể của nước ta. Có thể nói rằng, những tư tưởng của Lênin về cơ quan
VKS trình bày trong tác phẩm này đã trở thành cơ sở lý luận cơ bản cho việc xây
dựng hệ thống VKS ở các nước XHCN trước đây và ở Việt Nam từ năm 1960.
Theo Lênin, pháp chế thì phải thống nhất, pháp chế không thống nhất
chức VKSND, thành lập hệ thống cơ quan VKSND trong bộ máy nhà nước
ta, từ trung ương đến đơn vị hành chính cấp huyện và các VKS quân sự.
Theo Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 1960, VKSND thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của mình bằng các công tác cụ thể sau: a) Kiểm sát việc tuân
23
theo pháp luật trong các nghị quyết, quyết định, thông tư, chỉ thị và biện pháp
của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và cơ quan nhà nước địa phương,
kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các nhân viên cơ quan nhà nước và công
dân; b) Điều tra những việc phạm pháp về hình sự và truy tố trước Tòa án nhân
dân những người phạm pháp về hình sự; c) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong việc điều tra của cơ quan công an và các cơ quan điều tra khác; d) Kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam, giữ của trại giam; e) Khởi tố
hoặc tham gia tố tụng những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích
của Nhà nước và nhân dân.
Cải cách tư pháp lần thứ tư đã mang lại những kết quả làm thay đổi
căn bản vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan công tố ở nước ta.
Đây thực sự là sự thay đổi về chất chứ không chỉ đơn thuần ở sự thay đổi tên
gọi của cơ quan công tố, thể hiện ở chỗ: Thứ nhất, về mặt tổ chức, cơ quan
công tố không còn trực thuộc vào hệ thống các cơ quan hành pháp như trước
đây nữa, mà trở thành một hệ thống cơ quan độc lập - hệ thống cơ quan
VKSND - chịu sự giám sát của Quốc hội (cơ quan quyền lực nhà nước cao
nhất ở nước ta); thứ hai, trong tổ chức và hoạt động của mình, VKSND phải
tuân theo nguyên tắc tập trung thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Viện trưởng
VKSNDTC và nguyên tắc độc lập, không lệ thuộc vào bất kỳ cơ quan nhà
nước nào ở địa phương; thứ ba, VKSND không chỉ có chức năng thực hành
quyền công tố mà thực hiện cả chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trên lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội và lĩnh vực hoạt động tư pháp.
tư pháp. Ngày 19 tháng 11 năm 2001, Hội nghị lần thứ IV Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa IX đã ra kết luận về việc sửa đổi, bổ sung một số điều
của Hiến pháp năm 1992, nêu rõ việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp phải quán
triệt quan điểm là tiếp tục khẳng định bản chất và mô hình tổng thể của thể
chế chính trị và bộ máy nhà nước đã được xác định trong Cương lĩnh năm
1991 của Đảng và Hiến pháp năm 1992, đồng thời xác định trọng tâm là sửa
đổi, bổ sung một số điều về tổ chức bộ máy nhà nước để làm cơ sở cho việc
tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước. Hội nghị đã kết luận: Cần sửa đổi, bổ sung
25