BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
SONG NGÀNH Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐA NGÀNH HIỆN NAY
ThS. Nguyễn Thị Ngọc Linh; ThS. Trần Thị Minh Huệ
Trường CĐSP Trung Ương
Tóm tắt: Xây dựng các chương trình song ngành ở các trường đào tạo đa ngành
nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn hiện nay. Việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương
trình song ngành gặp phải khó khăn nhất định đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ,
từ chương trình đào tạo, công tác quản lý, công tác tổ chức thực hành thực tập cho đến
chất lượng đội ngũ giảng viên. Chương trình đào tạo phải đảm bảo “mục tiêu kép”,
“năng lực kép”, đảm bảo tính mềm dẻo, linh hoạt, cân đối giữa kiến thức hai ngành đào
tạo.
Abstract: Building dual major curricula in multidisciplinary schools aims at
meeting the current realistic needs. The development and implementation of dual
major curricula have encountered certain difficulties requyring synchronic solutions
ranging from the training cirriculum, the management, the organization of practicing
to teachers. The training program must ensure "dual objectives", "dual capacity",
ensuring flexibility, flexibility, and balance in knowledge of dual majors.
1. Mở đầu
Trong một vài năm trở lại đây, các trường Đại học, Cao đẳng trong cả nước gặp
khó khăn rất lớn trong công tác tuyển sinh. Khó khăn này đến từ nhiều phía, trong đó
có cả cả khách quan và chủ quan. Do đó, đòi hỏi các trường cần phải có những hình
thức thay đổi trong công tác đào tạo để đáp ứng nhu cầu của xã hội, nâng cao chất
lượng đào tạo, thu hút người học, tạo ra sức ảnh hưởng và thể hiện được thế mạnh của
nhà trường. Trong bối cảnh như hiện nay, nhiều trường Đại học và Cao đẳng đã có
những thay đổi trong công tác giáo dục đào tạo, để làm thế nào vừa phù hợp với yêu
cầu, nhu cầu của thực tiễn, vừa khẳng định được năng lực, thế mạnh của nhà trường,
của cả hai ngành với nội dung kiến thức lõi của ngành (phần cứng bắt buộc) đủ để sinh
viên sau khi tốt nghiệp có thể làm việc ở cả 2 ngành. Ngoài ra cần có kiến thức tự chọn
tuỳ theo theo nhu cầu, điều kiện và khả năng của người học để giúp Sinh viên có thể
học tập một cách linh hoạt [3].
Theo Quy chế 25, sinh viên có thể học chương trình thứ hai song song với
ngành chính ban đầu đã chọn, như vậy, sinh viên được đào tạo đầy đủ các môn học của
ngành thứ nhất như chương trình đào tạo đơn ngành và học thêm các học phần bổ sung
để hoàn tất ngành học thứ hai; sinh viên được cấp bằng cử nhân ngoài ngành chính còn
có thêm ngành thứ hai đã học khi tốt nghiệp. Tuy nhiên, phương thức này chỉ thuận lợi
đối với những sinh viên có lực học khá trở lên và phải lựa chọn những chương trình
thuận lợi để có thể sắp xếp học được đồng thời cả hai chương trình [3].
Theo Quy chế 43, sinh viên có thể linh hoạt lựa chọn các học phần phù hợp
theo các chương trình [3]. Chương trình đào tạo song ngành sẽ được nghiên cứu để rút
bớt đi những môn học không phải môn bắt buộc của mỗi ngành để giảm bới áp lực học
299
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
tập, giúp nâng cao cơ hội nghề nghiệp cho người học với kiến thức của cả hai ngành
sau khi tốt nghiệp, mang lại lợi ích lớn trong việc tiết kiệm thời gian và chi phí đào tạo
(vì thời lượng đào tạo giảm đi rất nhiều so với việc học hai chương trình riêng biệt),
đáp ứng được nhu cầu xã hội và tạo nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm cho người học.
Với “mục tiêu kép”, chương trình song ngành phải cung cấp đủ kiến thức để sinh viên
có được “năng lực kép”.
Đây là hướng đi không mới xong đòi hỏi việc thay đổi ở các trường đang đào
tạo đa ngành suy nghĩ tìm tòi để lựa chọn xây dựng chương trình theo hướng chuyên
HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
hai chương trình đơn ngành tương đối độc lập, khối lượng kiến thức, kỹ năng người
học cần tích lũy ở 2 ngành là tương đương, công tác giảng dạy do 2 khoa cùng thực
hiện, nhưng chỉ một khoa đứng ra quản lý hành chính. Vì thế, khi đào tạo một lớp theo
chương trình đào tạo song ngành, cán bộ, giảng viên dễ gặp phải những khó khăn
trong công việc.
Thứ ba là công tác tổ chức thực hành thực tập: Việc xây dựng nội dung thực
hành thực tập trong chương trình song ngành phải đảm bảo cân đối tỉ lệ nội dung cả 2
ngành trong đó thiết kế nội dung tự chọn cho ngành 2 để đảm bảo tính linh hoạt, mềm
dẻo của chương trình. Việc lựa chọn cơ sở thực tập, có thể lựa chọn các cơ sở khác
nhau cho mỗi ngành hoặc chung cho cả 2 ngành tuỳ thuộc vào nội dung thực tập và
điều kiện thực tế của cơ sở thực tập. Việc lựa chọn cơ sở thực tập phải đảm bảo cho
người học được thể hiện và rèn luyện các kiến thức và kỹ năng đã học về ngành đào
tạo, giúp người học có tay nghề vững vàng cho cả 2 ngành học sau khi ra trường. Thực
tế ở nhiều trường cho thấy, việc xây dựng chương trình đào tạo song ngành ở các học
phần lý thuyết đã khó, xây dựng nội dung và thực hiện nội dung của phần thực hành,
thực tập rèn luyện tay nghề cho sinh viên lại càng khó khăn hơn. Đối với công tác thực
hành, thực tập có thể kể đến những khó khăn sau:
- Xây dựng nội dung thực hành, thực tập.
- Bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ giảng viên hướng dẫn thực hành, thực tập.
- Sự phối hợp của hai khoa trong công tác hướng dẫn, chỉ đạo THTT.
- Chọn cơ sở thực hành, thực tập. Bồi dưỡng cho cán bộ, giảng viên hướng dẫn
trực tiếp sinh viên.
Thứ tư là đội ngũ giảng viên: Khi thực hiện và vận hành chương trình đào tạo
song ngành, khâu then chốt chính là đội ngũ giảng viên của các trường. Trong 3 cấp độ
để đánh giá, năng lực chuyên môn là phần giảng viên của chúng ta chú trọng nhiều
nhất; Năng lực giảng dạy chúng ta mới bắt đầu và cần được tiếp tục phát triển thông
qua việc học tập và phát triển của bản thân: thực hành, và tìm tòi trong việc ứng dụng
vào giảng dạy; Năng lực nghiên cứu đang là năng lực thiếu hụt nhất của đội ngũ giảng
Khi triển khai xây dựng và thực hiện chương trình song ngành, hai khoa có
chương trình phải có sự thống nhất cao về ý tưởng, cho đến thiết kế môn học. Cần phải
có sự rà soát cẩn thận, tỉ mỉ để đánh giá sự giao thoa về mặt kiến thức, đồng thời vẫn
đảm bảo cân đối tỷ lệ khối lượng kiến thức của từng ngành. Các chương trình song
ngành chuyển đổi xây dựng theo hướng tiếp cận năng lực người học, thay vì chỉ chú
trọng tiếp cận nội dung, xác định rõ mục tiêu đào tạo, chuẩn đầu ra để có sự nghiên
cứu kĩ chương trình của từng ngành, nhu cầu và đòi hỏi của xã hội để có thể lựa chọn
được các học phần phù hợp, đảm bảo được kiến thức và kỹ năng cơ bản giúp người
học sau khi tốt nghiệp có đủ kiến thức và kỹ năng đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp của cả
2 ngành đào tạo, phù hợp với đội ngũ và các điều kiện đảm bảo khác của nhà trường.
Đây là một yêu cầu khó khăn, vì nếu đặt yêu cầu cao về nội dung kiến thức theo từng
ngành thì chương trình dễ bị “nặng” và sẽ tạo một sức ép lớn cho người học; nhưng
nếu hạ thấp yêu cầu thì người học sau khi ra trường sẽ không đáp ứng được yêu cầu vị
trí việc làm.
Trước tiên, cần xác định chuẩn đầu ra phù hợp với mục tiêu đào tạo chương
trình song ngành. Chuẩn đầu ra phải đáp ứng được mức cao nhất yêu cầu chuẩn đầu ra
của trình độ thấp hơn (trình độ TCCN) và mức tối thiểu của chương trình đào tạo theo
đúng trình độ cùng ngành (trình độ cao đẳng). Chuẩn đầu ra là căn cứ để xây dựng nội
302
HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
dung, phương pháp đào tạo, yêu cầu về đội ngũ, về cơ sở vật chất và cách thức đánh
giá kết quả một cách phù hợp [3].
Về nội dung chương trình, ngoài những học phần bắt buộc để đảm bảo yêu cầu
kiến thức và khẳng định thương hiệu đào tạo của trường, cần xây dựng nhiều học phần
kiến thức tự chọn để người học có thể lựa chọn phù hợp theo nhu cầu, khả năng và
định hướng việc tự học cho người học. Điều này sẽ giúp sinh viên có thể dễ tìm việc
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
vẫn phải có nội dung thể hiện được mặt mạnh của việc đào tạo song ngành. Ít nhất,
trong nội dung thực hành cần phải thể hiện được mặt mạnh trong đào tạo song ngành
của một ngành. Ví dụ:
- GDMN-Mỹ thuật: Trang trí, thiết kế nhóm-lớp tạo nhiều cơ hội để trẻ học tập
và phát triển.
- GDMN-Âm nhạc: Dàn dựng một chương trình âm nhạc, lập kế hoạch cho việc
đưa âm nhạc trong các hoạt động của trẻ ở trường mầm non.
- GDMN-Tiếng Anh: Lập kế hoạch và tổ chức cho trẻ làm quen với tiếng Anh.
- GDMN-Công tác xã hội: Lập kế hoạch thực hiện một nội dung trong công tác
xã hội hóa giáo dục mầm non (thu hút cha mẹ và cộng đồng tham gia công tác chăm
sóc-giáo dục trẻ). [1]
Bên cạnh đó, cần có sự phối hợp giữa giảng viên hai khoa trong hướng dẫn,
đánh giá thực hành, thực tập - cơ hội học tập bồi dưỡng chuyên môn. Để đáp ứng
được yêu cầu trong hướng dẫn và đánh giá thực hành, thực tập của SV, những giảng
viên được phân công phụ trách cần phải nắm chắc được nội dung thực hành, có kinh
nghiệm trong hướng dẫn, đánh giá. Ngoài việc đánh giá nội dung thực hành đặc thù của
mỗi ngành, giảng viên còn phải đánh giá nội dung giao thoa giữa hai ngành. Vì vậy,
trong những năm đầu thực hiện chương trình song ngành, mỗi đợt thực hành hay thực
tập nên phân công giảng viên cả hai khoa cùng tham gia duyệt kế hoạch, đánh giá việc
thực hiện kế hoạch. Ví dụ: Khi chấm một giờ tổ chức cho trẻ làm quen tiếng Anh, nên
có cả giảng viên khoa tiếng Anh và giảng viên khoa Giáo dục mầm non cùng tham gia
đánh giá. Hay hướng dẫn, đánh giá một nội dung thiết kế nhóm-lớp của SV, nên có cả
giảng viên khoa mỹ thuật và khoa Giáo dục mầm non cùng đánh giá. Nếu chúng ta
quyết tâm và thực hiện theo phương thức này trong vài năm thì không những sinh viên
được học tập, rèn luyện tay nghề kỹ càng, mà ngay chính các giáo viên cùng tham gia
học, kế hoạch thực hành thực tập, giảng viên giảng dạy chương trình song ngành luôn
có ý thức thái độ cao trong học hỏi đồng nghiệp để có thực hiện công tác đào tạo và tổ
chức thực hành thực tập có hiệu quả. Bên cạnh đó, các trường cần mở lớp bồi dưỡng
kiến thức chéo ngành cho đội ngũ giảng viên, tổ chức các buổi tọa đàm, rút kinh
nghiệm trong công tác đào tạo chương trình song ngành. Nhà trường cần có sự phối
hợp chặt chẽ với các cơ sở thực hành thực tập để nhận được ý kiến đánh giá, phản hồi
về chất lượng của sinh viên được đào tạo chương trình song ngành từ đó có những
điều chỉnh phù hợp, kịp thời, đồng thời là kênh thông tin quan trọng để giảng viên
đánh giá chất lượng giảng dạy và có sự điều chỉnh đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
3. Kết luận
Xây dựng chương trình song ngành là một trong những giải pháp nhằm đáp ứng
nhu cầu xã hội và nhu cầu thực tiễn của các nhà trường: thực hiện tốt công tác tuyển
sinh, khai thác năng lực đội ngũ và cơ sở vật chất sẵn có; tiết kiệm thời gian, chi phí và
tăng cơ hội tìm kiếm việc làm cho người học. Việc xây dựng chương trình song ngành cần
lựa chọn những ngành có mục tiêu, kỹ năng gần nhau để có thể tăng tỷ lệ các học phần
theo chương trình đơn ngành nhờ khai thác các học phần chung giữa hai chương trình.
Công tác giảng dạy và đánh giá cần đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức
hoạt động dạy – học; chú trọng năng lực tự nghiên cứu, tự học, tự đánh giá và khả
305
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
năng làm việc nhóm của người học. Chương trình đào tạo, ngoài việc lựa chọn nội
dung phù hợp, tinh giản trên cơ sở xây dựng những nội dung tích hợp, cần chú trọng
rèn luyện nghiệp vụ nghề nghiệp và thực hành thực tập nghề nghiệp.
Tăng cường giới thiệu về chương trình đào tạo song ngành, chuẩn đầu ra, vị trí