ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LƯỜNG THỊ NỰ
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CANH TÁC NƯƠNG RẪY VÀ
ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT NƯƠNG RẪY TẠI XÃ CỔ LINH PÁC NẶM - BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Khoa
Khóa học
: Chính quy
: Lâm nghiệp
: Lâm nghiệp
: 2011 - 2015
Thái nguyên, năm 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LƯỜNG THỊ NỰ
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CANH TÁC NƯƠNG RẪY VÀ
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Lâm nghiệp
Khoa
: Lâm nghiệp
Lớp
: 43 - LN - N02
Khóa học
: 2011 - 2015
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Thu Hoàn
Thái nguyên, năm 2015
i
LỜI CẢM ƠN
Thực tập có vai trò rất quan trọng đối với môi sinh viên sau khi thực
hiện một khóa học. Đây là thời gian để sinh viên làm quen cọ xát với những
công việc thực tế mà sau này mình ra trường sẽ tiếp xúc, đồng thời giúp cho
sinh viên hệ thống lại những kiến thức đã học để áp dụng vào quá trình
nghiên cứu làm đề tài, giúp nâng cao phát huy khả năng tri thức sáng tạo của
bản thân nhằm phục vụ tốt hơn cho công việc.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự đồng ý của khoa Lâm
Nghiệp, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Tôi thực tập tại xã Cổ Linh Pác Nặm - Bắc Kạn với đề tài “Đánh giá thực trạng canh tác nương rẫy và
định hướng sử dụng đất nương rẫy tại xã Cổ Linh - Pác Nặm - Bắc Kạn”.
Trong quá trình thực hiện chuyên đề, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi
còn nhận được nhiều sự giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường và sự tận tình
giảng dạy của các thầy cô giáo suốt 4 năm học vừa qua.
Với lòng biết ơn sâu sắc tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu, ban chủ nhiệm
iii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Cơ cấu sử dụng đất canh tác nương rẫy cố định ............................. 29
Hình 4.2: Cơ cấu sử dụng đất canh tác nương rẫy không cố định .................. 30
Hình 4.3: Sơ đồ lát cắt mô hình NRCĐ .......................................................... 39
Hình.4.4: Sơ đồ lát cắt mô hình NRKCĐ ....................................................... 41
iv
DANH MỤC CÁC CỤM, TỪ VIẾT TẮT
AFB
: Chiến lược toàn cầu
CTNR
: Canh tác nương rẫy
ICRDF
: Trung tâm quốc tế về nghiên cứu Nông lâm kết hợp
NLKH
: Nông lâm kết hợp
NRCĐ
PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ............................ 4
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu ...................................................... 4
2.2. Những nghiên cứu trên thế giới ................................................................. 5
2.3. Những nghiên cứu ở Việt Nam .................................................................. 8
2.4. Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu ............................ 15
2.4.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................. 15
2.4.2. Điều kiện kinh tế xã hội ........................................................................ 19
2.4.3. Thuận lợi, khó khăn của xã Cổ Linh ..................................................... 21
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ............................................................................................... 24
3.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................... 24
3.2. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................. 24
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 24
3.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 24
3.4.1. Phương pháp kế thừa các tài liệu thứ cấp ............................................. 24
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản
thân. Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa
hoàn toàn trung thực và khách quan, nếu có gì sai xót tôi xin chịu hoàn
toàn trách nhiệm!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Xác nhận của GVHD
Người viết cam đoan
Đồng ý cho bảo vệ kết quả
(Ký, ghi rõ họ và tên)
riêng đang bị suy thoái nghiêm trọng do bị xói mòn, rửa trôi, bạc màu, nhiễm
mặn, nhiễm phèn và ô nhiễm đất, biến đổi khí hậu. Do dân số ngày càng tăng
nhanh và nhu cầu của con người ngày càng cao về mọi mặt nên con người đã
tác động quá mức vào tài nguyên thiên nhiên tạo nên sức ép đối với đất đai và
các tài nguyên khác. Hậu quả của các hoạt trên đã làm cho quỹ đất nông lâm
nghiệp có nguy cơ suy giảm về diện tích và thoái hóa
Nước ta có tổng diện tích tự nhiên là 33.091.093 ha,trong đó là đất dốc,
hơn nứa Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa lớn
tập trung theo mùa nên đất dốc chiếm vị trí rất quan trọng trong phát triển
nông nghiệp cả nước, đặc biệt với người dân sống gần rừng và phụ thuộc vào
rừng. Nhìn chung đời sống của dân vùng này còn gặp nhiều khó khăn do hiệu
quả sản xuất và thu nhập thấp.
2
Đứng trước thực trạng này Nhà nước và nhân dân ta đã có nhiều cố
gắng trong việc cải tiến tới sản xuất nông lâm nghiệp lâu bền trên đất dốc qua
việc tổ chức các hình thức nghiên cứu và áp dụng theo khoa học hỹ thuật cho
phú hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội và môi trường của tùng vùng
nhằm phát huy mọi tiềm năng.Trong bối cảnh đó hình thức quản lý và sử
dụng hài hòa giữa các lợi ích kinh tế, bảo tồn tài nguyên môi trường được
hình thành và phát triển.
Canh tác nương rẫy (CTNR) là một hình thức canh tác lạc hậu của
người dân vùng cao với trình độ dân trí thấp, kỹ thuật canh tác còn hạn chế
lạc hậu nên hiệu quả kinh tế còn thấp, tính bền vững chưa cao, chưa đáp ứng
được yêu cầu về mặt kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường, an ninh quốc phòng.
Cổ Linh là một xã miền núi khó khăn của huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc
Kạn là xã có địa hình chủ yếu là đồi núi với độ dốc cao, kỹ thuật canh tác của
người dân chủ yếu là canh tác nương rẫy. Các hình thức canh tác nương rẫy
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Miền núi chiếm 75% diện tích đất liền Việt Nam và 21% dân số cả
nước. Trong phạm vi miền Bắc Việt Nam, sự chênh lệch về mức độ phát triển
kinh tế giữa các vùng lãnh thổ và vùng miền núi sẽ có thể tăng từ trong thập
kỷ tới (Lê Trọng Cúc, 1995) [2].
Nét đặc thù của cộng đồng các dân tộc ít người ở miền núi là sống gần
rừng và dựa vào rừng. Vì vậy, họ có hệ thống kiến thức và kinh nghiệm sản
xuất rất phong phú trong việc bảo vệ, phát triển và sử dụng tài nguyên rừng.
Tuy nhiên, đặc trưng của kiến thức bản địa là phạm vi sử dụng hẹp. Nó phù
hợp với điều kiện văn hóa, phong tục tập quán, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã
hội của địa phương nhất định nhưng có khi lại không phù hợp với địa phương
khác, dân tộc khác. Kiến thức bản địa luôn được hình thành và liên tục biến
đổi qua các thế hệ trong mối cộng đồng; kiến thức bản địa có khả năng thích
ứng cao với môi trường và điều kiện của từng địa phương nơi kiến thức bản
địa hình thành và phát triển (Đỗ Đình Sâm và cộng sự) [4]. Chính vì vậy, hệ
thống kiến thức bản địa trong quản lý bảo vệ rừng cũng rất khác nhau giữa
các địa phương, giữa các dân tộc. Do đó, để quản lý tài nguyên rừng một cách
bền vững cũng như duy trì và bảo tồn hệ thống kiến thức bản địa trong quản
lý tài nguyên thiên nhiên, chúng ta cần coi trọng, tìm hiểu và nghiên cứu về
hệ thống kiến thức bản địa của từng địa phương, của từng dân tộc. Trên cơ sở
đó, chúng ta cần coi trọng, tìm hiểu nghiên cứu về hệ thống kiến thức bản địa
của từng địa phương, của từng dân tộc. Trên cơ sở đó, chúng ta có thể kế
thừa, sử dụng và phát huy những ưu điểm của hệ thống kiến thức bản địa
trong quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng một cách bền vững.
5
6
Katherine Warner (1975) [14] đã tổng kết một số vấn đề du canh tại
vùng nhiệt đới châu Á, châu Phi và châu Mỹ la tinh. Theo tác giả, du canh thể
hiện phản ứng của con người khi gặp khó khăn trong việc xây dựng một số hệ
thống nông nghiệp sinh thái ở trong rừng nhiệt đới. Hệ sinh thái rừng nhiệt
đới có đặc trưng chung là đất dễ bị thoái hóa nhưng đa dạng về hệ động thực
vật cực kỳ phong phú cung cấp ít dinh dưỡng nhưng lại có hàng loạt các loại
cây có khả năng cạnh tranh đối với cây lương thực, thực phẩm. Qua cách phát
đốt thảm thực vật rừng người dân du canh đã tìm cách loại trừ các loại cây
cạnh tranh, tập trung chất dinh dưỡng để thâm canh các loại cây lương thực.
Đó là một tác động tích cực vào rừng để đạt tới quá trình diễn thế mới có ích
cho người dân. Tuy nhiên, đối với người nông dân du canh tổng hợp, đó chỉ là
sự can thiệp tạm thời vào hệ sinh thái rừng. Diễn thế bắt đầu tái diễn trong
nhiều trường hợp các phương thức du canh lại tích cực góp sức vào quá trình
tái tạo vào rừng. Dạng du canh tổng hợp không phá rừng mãi mãi, nó thay thế
rừng bằng một loại diễn thế cây tái sinh mà đối với người du canh lại sinh lợi
nhiều hơn là rừng tự nhiên ban đầu.
Jordan (1980) [13] đã nghiên cứu sự rửa trôi của các chất Kali, Magie
và Nitơ trong năm đầu trồng hoa màu như khoai mì, dứa, điều và cây khoai
mỡ. Các chất dinh dưỡng trong đất CTNR giảm dần do hoa màu được thu
hoạch mang đi qua hệ thống, chất hữu cơ bị ô xi hóa mất đi, do bị rửa trôi hay
bị xói mòn lôi cuốn theo dòng chảy trên bề mặt. khi các chất dinh dưỡng giảm
đến mức mà năng suất hoa màu quá thấp không thỏa mãn nhu cầu của người
canh tác thì đất nương rẫy sẽ bị bỏ hóa và một mảnh đất quay trở lại để phát
đốt canh tác thì dinh dưỡng trong đất lại cạn kiệt dần và năng suất của hoa
màu càng thấp dần, thời gian canh tác trên đất nương rẫy càng ngắn dần lại.
Viện quốc tế và môi trường Anh quốc (1991) [8] cũng rất chú ý đến
việc nghiên cứu về nông nghiệp du canh. Do vậy, Viện đã chủ quản và điều
hút và tao công ăn việc làm cho người dân địa phương.
8
- Cải thiện, mở mang cơ sở hạ tầng.
- Giúp đỡ tích cực chương trình khuyến nông khuyến lâm.
Ở Indonexia từ những năm 1970 chính phủ nước này đã thực hiện các
chương trình định canh để hạn chế nông nghiệp du canh. Mục tiêu là trong 5
năm sẽ định cư 500.000 hộ gia đình, nhưng trong thực tiến sau 18 năm mới
định canh 123.000 hộ.
Ở Trung Quốc nhà nước cũng rất quan tâm tới công tác định canh, định
cư và đã đạt đước những thành tựu đáng kể mà Việt Nam có thể học tập được
kinh nghiệm như: ở Vân Nam, Quảng Tây đã tiến hành 600.000 ha cao su
chịu lạnh để thay thế canh tác du canh, thu hút người dân du canh và các hoạt
động sản xuất này hoặc phát triển cây trồng, thu hoạch tam thất chiếm sản
lượng lớn cung cấp cho thị trường trong nước và ngoài nước.
Ở Lào, Myanma, Ấn Độ, Malayxia… cũng đã thực hiện các chương
trình dự án hạn chế và thay thế nông nghiệp du canh trong nhiều năm nhưng
kết quả thu được còn hạn chế.
2.3. Những nghiên cứu ở Việt Nam
Khái niệm về đất dốc ở đây để chỉ vùng trung du và miền núi, ở nước ta
chúng liên kết thành một dải liên tục từ Đông Bắc (Quảng Ninh) qua Tây Bắc
(Lai Châu) rồi vươn dài theo dãy Trường Sơn vào tận miền Đông Nam Bộ.
Theo Nguyễn Tử Xiêm và Thái Phiên, (1990) [7], Việt Nam có 121 huyện
vùng cao gồm 2061 xã 87 huyện miền núi gồm 1763 xã. Miền núi và vùng
cao phân bố ở 39 trong 61 tỉnh toàn quốc, là địa bàn sinh sống của 54 dân tộc
anh em, mối dân tộc có một nền văn hóa đặc sắc, tập quán sử dụng đất và
canh tác nông lâm nghiệp cũng có những nét riêng. Tổng diện tích miền núi
và vùng cao cả nước là 20.509.100 ha, chiếm 63 % diện tích toàn quốc, trong
còn 0,1. Rừng mất đi nhanh chóng có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân
chủ yếu là nương rẫy khai hoang không hợp lý.
i
LỜI CẢM ƠN
Thực tập có vai trò rất quan trọng đối với môi sinh viên sau khi thực
hiện một khóa học. Đây là thời gian để sinh viên làm quen cọ xát với những
công việc thực tế mà sau này mình ra trường sẽ tiếp xúc, đồng thời giúp cho
sinh viên hệ thống lại những kiến thức đã học để áp dụng vào quá trình
nghiên cứu làm đề tài, giúp nâng cao phát huy khả năng tri thức sáng tạo của
bản thân nhằm phục vụ tốt hơn cho công việc.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự đồng ý của khoa Lâm
Nghiệp, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Tôi thực tập tại xã Cổ Linh Pác Nặm - Bắc Kạn với đề tài “Đánh giá thực trạng canh tác nương rẫy và
định hướng sử dụng đất nương rẫy tại xã Cổ Linh - Pác Nặm - Bắc Kạn”.
Trong quá trình thực hiện chuyên đề, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi
còn nhận được nhiều sự giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường và sự tận tình
giảng dạy của các thầy cô giáo suốt 4 năm học vừa qua.
Với lòng biết ơn sâu sắc tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu, ban chủ nhiệm
khoa cùng toàn thể các thầy cô giáo, cảm ơn cô giáo ThS. Nguyễn Thị Thu
Hoàn người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện chuyên đề.
Tôi cũng chân thành cảm ơn các cô, chú tại Ủy ban nhân dân xã Cổ
Linh đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập tại xã.
Do thời gian có hạn, kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế nên chuyên
đề khó tránh khỏi những thiếu sót. Tôi mong nhận được những ý kiến đóng
góp bổ sung của các thầy cô cùng các bạn để đề tài của tôi được hoàn thiện và
đầy đủ hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, Ngày….tháng 5 năm 2015
Sinh viên
canh tự do phát nương làm rẫy, khai thác sản phẩm từ rừng nên đời sống của
đồng bào no đủ, ở giai đoạn này đã có những đồng bào định canh định cư lâu
12
đời và đến thời điểm này không chịu sự bóc lột của thực dân phong kiến nữa
nên đã có sự phát triển trong đời sống văn hóa tinh thần, nhất là một số tỉnh
miền núi phía Bắc như: Hòa Bình, Sơn La, Bắc Kạn, Thái Nguyên, đó là bản
làng của người Mường, Tày, Nùng… mặc dù canh tác du canh ở giai đoạn
này phát triển cực thịnh nhưng chưa ảnh hưởng nhiều đến rừng, mà vấn đảm
bảo phần nào tính bền vững của du canh truyền thống đối với cân bằng sinh
thái. Đặc điểm của CTNR ở giai đoạn này là thời gian bỏ hóa dài và rừng
quanh bản làng được quản lý tập thể theo hình thức cộng đồng với các hình
thức luận tục riêng. Mối bản làng có cách quản lý rừng như hình thức “Rừng
ma” hoặc “Rừng thiêng” nơi cấm khai thác, săn bắn, phát nương làm rẫy. Đây
cũng chính là những khu rừng đầu nguồn bảo vệ cuộc sống của họ. Canh tác
du canh vẫn được đảm bảo nghiêm ngặt những kỷ luật cổ truyền và đảm bảo
thời gian bỏ hóa tương đối dài.
Sang giai đoạn 1960 - 1980 là giai đoạn cải cách ruộng đất, đi vào làm
ăn tập thể. Ở thời kỳ này chính sách chung của Nhà nước là hạn chế phát
nương làm rẫy, tập trung khai thác ruộng nước nên đã hạn chế được việc du
canh. Năm 1967 thực hiện chính sách của Nhà nước về vận động đồng bào
dân tộc miền núi định cư, đồng bào miền xuôi đi xây dựng vùng kinh tế mới,
cùng với việc mở rộng diện tích ruộng bậc thang để trồng lúa nước đã làm
tăng sản lượng lúa nước và khuyến khích khai hoang trồng cây công nghiệp
và cây ăn quả lâu năm ở vùng núi, một loạt các nông trường và lâm nghiệp
quốc danh đã được thành lập. Tuy nhiên, dân số tăng nhanh, đời sống đồng
bào trở nên khó khăn, thiếu đói hơn giai đoạn trước. Thiếu đói lương thực
đồng bào quay trở lại phá rừng làm nương rẫy, thời gian này nạn phá rừng
của rừng do thời gian bỏ hóa quá ngắn (chỉ 2-3 năm) và làm xuống cấp môi
trường nhưng họ vấn phải làm vì không còn lựa chọn nào khác.
Thực trạng đất dốc của chúng ta thật đáng lo ngại: chỉ có 9.4 triệu ha
đất có rừng còn 13,5 triệu ha là đất trống đồi núi trọc. Trong tổng số diện tích
14
đất nông nghiệp của cả nước là 7 triệu ha, vùng núi có 2,7 triệu ha, nhưng đây
là nơi sinh sống của 24 triệu người, hầu hết thuộc các dân tộc thiểu số vùng
cao. Trong số 2,7 triệu ha đất nông nghiệp ở vùng núi nước ta có tới 1,4 triệu
ha đang là nương rẫy, trong đó khu vực miền núi đã chiếm gần một nửa.
Bảng 2.1: Diện tích đất nương rẫy ở Việt Nam
Vùng
Miền núi phía Bắc
Diện tích đất
Diện tích đất
nông nghiệp
nương rẫy
(1000ha)
(1000ha)
215,7
57,4
Đông Nam Bộ
548,9
178,0
32,4
2.682,6
1.427,7
301,2
Tổng số
(Nguồn: Viện Quy Hoạch và Thiết kế Nông Nghiệp Việt Nam 1993)
Theo Đỗ Đình Sâm và cộng sự (1994) [4], diện tích đất nương rẫy
(gồm cả diện tích bỏ hóa cho chu kỳ canh tác sau) chiếm khoảng 3,5 triệu ha
với số người CTNR là khoảng 3 triệu người trên cả nước, trong đó có khoảng
2,2 triệu người đã định cư còn lại là 0,8 triệu người vấn sống du canh, du cư,
chủ yếu là người H’Mông và người Dao với số hộ đói nghèo chiếm tới 20-30
%. Đặc điểm của nông nghiệp du canh của nước ta là tồn tại ở tất cả các vung
miền núi từ Bắc vào Nam, tỷ lệ gia tăng dân số ở vùng này cao (3- 3,5%), quy
mô gia đình lớn (7-9) người. Sự gia tăng dân số tự nhiên cao cùng với phong
Phía Đông giáp xã Xuân La, xã Nghiên Loan, huyện Pác Nặm.
Phía Tây giáp xã Hồng Thái, huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang.
16
Xã có diện tích tự nhiên là 3.968.32ha trong đó diện tích đất lâm nghiệp
là 1102.33 ha, đất sản xuất nông lâm nghiệp là 303.54 ha, đất phi nông nghiệp
là 162.73 ha, đất chưa sử dụng là 2394.94 ha.
Về hệ thống giao thông của xã Cổ Linh đã có đường nhựa liên xã, là
một điều kiện thuận lợi cho giao thông đi lại và trao đổi hàng hóa. Còn hệ
thống giao thông liên thôn chủ yếu là đương đất, về mùa mưa đường lầy lội
gây khó khăn cho việc đi lại.
* Đặc điểm địa hình: Độ cao tuyệt đối là 100m đến 600m, độ cao tương
đối là 50m đến 500m. Vùng sản xuất nương rẫy cao từ 50m đến 500m, với độ
dốc tương đối lớn, hiểm trở, thảm thực vật chủ yếu là rừng tự nhiên tái sinh,
giao thông đi lại khó khăn, chủ yếu là đường mòn.
* Đặc điểm khí hậu: Xã nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa với hai mùa
rõ rệt trong năm. Mùa đông lạnh trùng với mùa khô kéo dài từ tháng 10 năm
trước đến tháng 4 năm sau. Mùa hè nóng trùng với mùa mưa từ tháng 5 đến
tháng 9 trong năm nhiệt độ trung bình trong năm là 220C đến 280C. Nhiệt độ
cao nhất từ 350C đến 370C. Nóng nhất vào tháng 5 đến tháng 7. Tổng lượng
mưa bình quân là 1346mm/năm, mưa tập trung vào các tháng 4 5 6 7 với
lượng mưa chiếm 90% tổng lượng mưa cả năm. Độ ẩm trung bình là 84 - 85%
gây nhiều khó khăn cho sản xuất nông lâm nghiệp.
Lượng mưa trung bình của năm 2013 ở xã Cổ Linh trong khoảng
138,38 mm. Cũng như chế độ nhiệt, mưa ở đây chia thành 2 mùa rõ rệt mùa
mưa trùng với mùa nắng trong năm kéo dài tù tháng 5 đến tháng 7 với 80% 90% lượng mưa cả năm. Thời gian còn lại ít mưa. Trong mùa mưa có những
tháng có thể mưa tới 10 - 15 ngày, thuộc vùng mưa ít của tỉnh, có khi gần như
cả tháng không có mưa hoặc chỉ là mưa phùn, mưa mù.