ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LƯƠNG VĂN KIẾM
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG MƯA TỚI MỨC ĐỘ BỊ BỆNH
DO NẤM CERATOCYSTIS GÂY HẠI TRÊN KEO TAI TƯỢNG
(ACACIA MANGIUM WILLD ) TẠI THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Lâm nghiệp
Khoa
: Lâm nghiệp
Khóa học
: 2011 - 2015
Thái nguyên, 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Thái Nguyên, 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LƯƠNG VĂN KIẾM
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG MƯA TỚI MỨC ĐỘ BỊ BỆNH
DO NẤM CERATOCYSTIS GÂY HẠI TRÊN KEO TAI TƯỢNG
(ACACIA MANGIUM WILLD ) TẠI THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Lâm nghiệp
Khoa
: Lâm nghiệp
Lớp
: K43 - LN
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
LƯƠNG VĂN KIẾM
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng tổng lương mưa trung bình 5 huyện từ 2012-2014 .............. 18
Bảng 3.1. Bảng phân cấp mức đọ bị bệnh..................................................... 25
Bảng 3.2. Bảng phân cấp bệnh ..................................................................... 26
Bảng 4.1. Tỷ lệ bị bệnh và mức độ bị bệnh của từng OTC ........................... 31
Bảng 4.2. Tỷ lệ bị bệnh và mức độ bị bệnh trung bình các OTC .................. 33
Bảng 4.3. Tỷ lệ bị bệnh và mức độ bị bệnh do nấm theo lượng mưa ............ 34
Bảng 4.4 Bảng thể hiện kết quả kiểm định ANOVA tỷ lệ bị bệnh ................ 35
Bảng 4.5. Kết quả phân tích phương sai tỷ lệ bị bệnh theo lượng mưa. ........ 36
Bảng 4.6 Bảng phân tích kết quả kiểm định ANOVA mức độ bị bệnh ......... 37
Bảng 4.7. Kết quả phân tích phương sai mức độ bị bệnh .............................. 37
theo lượng mưa. ........................................................................................... 37
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1. Biểu đồ tỷ lệ bị bệnh trung bình cây Keo tai tượng. ...................... 33
Hình 4.2 Biểu đồ mức độ bị bệnh trung bình của Keo tai tượng ................... 34
Hình 4.3. Biểu đồ thể hiện tỷ lệ bị bệnh và mức độ bị bệnh theo lượng mưa 35
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
2.3.3. Nghiên cứu về nấm Ceratocystis .................................................................. 13
2.3.4. Nghiên cứu về biện pháp phòng trừ bệnh ..................................................... 14
2.3.5. Thông tin chung về Keo tai tượng ................................................................ 15
2.4. Tổng quan khu vực nghiên cứu ....................................................................... 16
2.4.1. Điều kiện của khu vực nghiên cứu ............................................................... 16
2.4.2. Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội .............................................................. 20
PHẦN 3.ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......... 22
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................... 22
3.3. Nội dung nghiên cứu ...................................................................................... 22
3.3.1. Xác định nguyên nhân gây bệnh chết héo Keo tai tượng .............................. 22
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực. Khóa luận đã được giáo viên
hướng dẫn xem và sửa.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015.
Giảng viên hướng dẫn
Sinh viên
Th.S Trần Thi Thanh Tâm
Giảng viên phản biện
(ký và ghi rõ họ tên)
Lương Văn Kiếm
2
đất, có biên độ sinh thái rộng, phù hợp cho trồng rừng trên quy mô lớn. Ngoài
việc cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất giấy, ván nhân tạo, gỗ
của loài cây này còn được sử dụng cho các mục đích khác như xây dựng, đồ
gỗ, trang trí nội thất, gỗ củi... Đây cũng là loài cây có nốt sần chứa cả
Rhizobium và Bradyrhiobium, có khả năng tổng hợp nitơ tự do trong không
khí rất cao có khả năng thích ứng với nhiều điều kiện khí hậu đất đai ở nước
ta từ vùng cát ven biển tương đối khô hạn đến vùng núi thấp dưới 400m ở Tây
Nguyên. Từ năm 1980, nhiều địa phương của Tại Thái Nguyên Keo được
trồng tương đối nhiều do đặc điểm điều kiện tự nhiên thuận phù hợp với sinh
trưởng của cây Keo. Việc trồng Keo mang lại thu nhập rất đáng kể cho người
dân vì không tốn quá nhiều công chăm sóc mà hiệu quả lại cao. Cũng như ở
các khu vực khác bệnh trên cây Keo cũng khá phổ biến tại địa bàn tỉnh Thái
Nguyên. Do ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu hiện nay các bệnh ở cây Keo
xuất hiện khá phổ biến như bệnh phấn trắng lá Keo, Bệnh bồ hóng do
nấm Meliola spp… tuy nhiên gần đây ở các khu rừng trồng Keo sản xuất đang
xuất hiện cây bị chết hàng loạt qua đánh giá ban đầu được cho là do nấm
ceratocystis gây ra, việc nghiên cứu về loại nấm này còn hạn chế.
Nhận thấy sự ảnh hưởng của nấm Ceratocystis spp ảnh hưởng rất lớn đến
cây Keo tôi quyết định nghiên cứu đề tài : “Đánh giá ảnh hưởng của lượng
mưa tới mức độ bị bệnh do nấm Ceratocystis gây hại trên keo tai tượng
(Acacia mangium Willd ) tại Thái Nguyên”.
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
Đánh giá ảnh hưởng của lượng mưa tới mức độ bị bệnh do nấm
Ceratocystis gây hại trên keo tai tượng (Acacia mangium Willd ). Phát hiện
được bệnh và làm quen được với công tác điều tra
Việc nghiên cứu về các bệnh hại cây trồng trong lâm cũng được quan tâm
nhiều hơn và được đầu từ nhiều hơn trong việc phòng trừ sâu bệnh hại nhằm góp
phần làm giảm làm tăng năng suất cũng như chất lượng của rừng trồng.
Diện tích rừng trồng Keo đã và đang tăng mạnh ở Việt Nam trong
thập kỷ qua. Keo tai tượng (Acacia mangium), Keo lá tràm (Acacia
auriculiformis) và Keo lai giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm là những loài
cây được gây trồng chính trên phạm vi cả nước. Trong cùng một điều kiện
khí hậu, đất là nhân tố quyết định đến sự phân bố sinh trưởng, phát triển, cấu
trúc sản lượng rừng và tính ổn định của rừng. Độ phì của đất còn ảnh hưởng
nhiều mặt đến đời sống của rừng. Đá mẹ là cơ sở vật chất đầu tiên hình thành
đất, có ảnh hưởng trực tiếp đến đặc điểm sinh lý học và hóa học của đất,
thông qua đó ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của Keo tai tượng.
Keo tai tượng là cây gỗ nhỡ sinh trưởng nhanh có nguồn gốc từ Úc được
nhập vào nước ta từ những năm 1960, nhưng từ năm 1976 trở lại đây mới
được phát triển rộng rãi ở nhiều vùng trong cả nước. Keo tai tượng là loài cây
LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là nội dung rất quan trọng đối với mỗi sinh viên trước
lúc ra trường. Giai đoạn này vừa giúp cho sinh viên kiểm tra, hệ thống lại
những kiến thức lý thuyết và làm quen với công tác nghiên cứu khoa học,
cũng như vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn sản xuất.
Để đạt được mục tiêu đó, được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Lâm
Nghiệp trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên tôi tiến hành thực tập tốt
nghiệp với đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của lượng mưa tới mức độ bị bệnh
do nấm Ceratocystis gây hại trên keo tai tượng (Acacia mangium Willd ) tại
Tỉnh Thái Nguyên”. Để hoàn thành khóa luận này tôi đã nhận sự giúp đỡ tận
tình của cán bộ địa phương, người dân nơi tôi thực tập và đặc biết là sự hưỡng
dẫn chỉ bảo tận tình của cô giáo hưỡng dẫn Th.S Trần Thị Thanh Tâm
đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm đề tài.
hóa sau nương rãy.
Ở Inđônêxia Keo tai tượng cũng được trồng từ những năm 1940. Ở Thái
Lan, Keo tai tượng đã được đưa vào trồng từ năm 1935, nhưng mãi đến năm
1964 trở lại đây mới được phát triển mạnh. Năm 1961 Trung Quốc đã nhập
khoảng 50 loài từ Ôxtrâylia vào trồng thử nghiệm, song chỉ có một số loài có
triển vọng và được gây trồng trên diện rộng, trong đó có Keo tai tượng
Tình hình sinh trưởng của Keo tai tượng trên các địa điểm của mỗi nước
cũng rất khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện đất đai và khí hậu cụ thể nơi gây
trồng. Nhưng nhìn chung ở những nơi có lượng mưa trên 2000mm, đất giầu
dinh dưỡng thì khả năng sinh trưởng khá nhanh, trung bình chiều cao có thể
đạt trên 2,5m/năm. Ở những nơi đất đai xấu khả năng sinh trưởng thường rất
kém, chiều cao bình quân chỉ đạt khoảng 1,0m/năm, nhất là vùng miền tây
Bengan của Ấn độ chỉ đạt dưới 0,5m/năm. Với mức tăng trưởng về đường
kính và chiều cao như vậy, ở những nơi đất đai và khí hậu thuận lợi trong chu
7
kỳ kinh doanh dưới 10 năm, năng suất bình quân về trữ lượng gỗ cũng chỉ đạt
khoảng từ 10-15m/ha/năm. Tuy nhiên, bằng con đường cải thiện giống kết
hợp các biện pháp thâm canh như làm đất toàn diện bằng cơ giới, bón phân và
tăng cường các biện pháp chăm sóc, một số nước đã đua năng suất rừng trồng
lên trên 30m.
2.2.3. Nghiên cứu về bệnh hại Keo
Bệnh cây rừng là một môn khoa học còn rất non trẻ đã được bắt đầu
nghiên cứu trên 150 năm nay, tuy vậy sự cống hiến cho công tác nghiên cứu
khoa học, phục vụ cho đời sống sản xuất thực tiễn của các nhà bệnh cây hết
sức to lớn.
Lịch sử phát triển môn bệnh cây từng trải qua 3 giai đoạn, theo G.H.
Heptig nhà bệnh cây rừng nước Mỹ mỗi một giai đoạn thường khoảng 30-40 năm.
còn các loài khác như Acolei, A.tumida lại có tiền năng cung cấp gố củi
chống gió làm thức ăn cho con người ở một số vùng
Năm 1961 - 1968 John Boyce, nhà bệnh cây rừng người Mỹ đã mô tả
một số bệnh cây rừng, trong đó có bệnh hại Keo ( John Boyce, 1961).
Năm 1953 Roger đã nghiên cứu một số bệnh hại trên cây bạch đàn và
Keo. GF. Brown (người Anh, 1968) [10] cũng đề cập đến một số bệnh hại keo .
Trong thực tế có một số nấm bệnh đã được phân lập từ một số loài Keo.
Đó là nấm Glomerella cingulata gây bệnh đốm lá ở A. simsii; nấm
Uromycladium robinsonii gây bệnh gỉ sắt ở lá giả loài A. melanoxylon; nấm
Oidium sp. Có trên các loài A. mangium và A. auriculiformis ở Trung Quốc
nhưng loài A. confusa địa phương lại không bị bệnh.
Theo shaama nghiên cứu năm 1994 cây trồng bị khô héo và tàn lụi từ
trên xuống (chết ngược), là do nấm hại glomerlla ( giai đoạn vô tính là nấm
cellototrichum gleosporioides), đó là sự thiệt hại với loài Keo tai tượng acacia
mangium trong vườn giống ở papua new guinea Ấn Độ (fao 1981) . Theo
nghiên cứu của Lee loài nấm này còn gây hại cho các loài Keo acacia.
9
- Theo nghiên cứu của Chris Lang (1996) trong thực tế một số loài nấm
bệnh đã được phân lập từ một số loài Keo. Đó là nấm Glomerella cingulata
gây bệnh đốm lá ở A.simsii, nấm Uromycladium robinsonii gây bệnh rỉ sắt ở
lá già loài A.melanoxylon; nấm Oidium sp có trên các loài A.mangium và
A.auriculiformaur ở Trung Quốc. nhưng loài A.confusa ( Đài Loan tương tự)
địa phương lại không bị bệnh.
2.2.4. Nghiên cứu về nấm Ceratocystis
Ceratocystis là những loài nấm gây hại nguy hiểm cho nhiều loài cây,
là nguyên nhân gây nên bệnh thối rễ, gốc, loét thân cành và gây thối quả trên
nhiều loại cây trồng nhiệt đới (kile, 1993 ) [8]. Đặc biệt là loài ceratocystis
tránh sự lây lan; Cắt bỏ cành, cây bị bệnh nặng. Tiêu huỷ tập trung. Quét
thuốc trừ nấm hoặc nước ngay vết cắt để tránh nhiễm bệnh ngay vết
thương. Lưu ý: nếu vết cắt vẫn còn ứa ra lớp nhựa đen có chứa bào tử nấm thì
tiếp tục cắt sâu vào và tiếp tục quan sát cho đến khi vết cắt khô hẳn.
Biện pháp sinh học: bón phân hữu cơ, phân chuồng đã ủ hoai kết hợp với
nấm đối kháng Trichoderma để cải thiện hệ vi sinh vật đất đồng góp phần làm
giảm mầm bệnh lưu tồn trong đất.
+ Biện pháp hoá học: phun thuốc diệt trừ kiến đen, mối và bọ cánh cứng
trên cây; Đối với việc khoanh vỏ xử lý ra hoa: không nên mở vết khoanh quá
lớn và nếu được có thể dùng thuốc trừ nấm (Coc 85, Mancozeb) quét quanh
vết khoanh để hạn chế sự tấn công cuả bệnh.
2.3. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
2.3.1. Nghiên cứu về gây trồng keo tai tượng
Cùng với một số loài Keo khác Keo tai tượng được nhập vào trồng thử
nghiệm ở miền Nam nước ta từ những năm 1960 (Nguyễn Hoàng Nghĩa, Lê
Đình Khả,1993). Năm 1970-1971 Keo tai tượng được đưa ra Huế trồng để
trang trí đường phố và làm cây phong cảnh dọc hai bên bờ sông Hương. Năm
1976, Keo tai tượng được trồng thử nghiệm mở rộng trên một số dạng lập địa
11
như đất phèn ở Tân Tạo (TP Hồ Chí Minh), đất xám miền đông nam bộ, đất
Bazan Tây Nguyên (Lâm Đồng và Pleiku). Năm 1977-1980, Keo tai tượng
được trồng mở rộng từ vĩ tuyến 17 trở ra như Đông Hà-Quảng Trị, Đại LảiVĩnh Phúc, Hữu Lũng-Lạng Sơn, Đồng Hỷ-Thái Nguyên,vv…Với điều kiện
khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và cận ẩm, Keo tai tượng tỏ ra thích hợp, sinh
trưởng và phát triển rất nhanh, nó đã trở thành một trong những loài cây chủ
lực để trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc trong nhưng năm tiếp theo.
Bắt đầu từ năm 1982, với sự tài trợ của tổ chức Quốc tế như FAO, SAREC,
PAM, CSIRO,vv…nhiều loài keo đã dược đưa vào nước ta sản xuất. Giai
Bảng 4.6 Bảng phân tích kết quả kiểm định ANOVA mức độ bị bệnh ......... 37
Bảng 4.7. Kết quả phân tích phương sai mức độ bị bệnh .............................. 37
theo lượng mưa. ........................................................................................... 37
13
bệnh này. Năm 1971 các nhà nghiên cứu như Vũ Quang Côn, Phạn Bình
Quyền, Phạn Ngọc Anh… đã có nhiều tài liệu nghiên cứu về nấm bệnh ở cây
quế, hồi, sộ, trậu phát hiện điều kiện gây bệnh và biện pháp phòng trừ bệnh
(Trần Công loanh,1992) . Năm 1994 (Trần Văn Mão) đã nghiên cứu về bệnh
lụi cây con và bệnh chết ngược ở cây bạch đàn tại Quảng trị và Thừa Thiên
Huế cho biết tỉ lệ chết cây con là 46,7% (Trần Văn Mão,2003) [4]
Theo Trần Văn Mão môn học bệnh cây rừng được băt đầu giảng dạy tai
trường Đại học Lâm nghiệp từ năm 1963. Năm 1974 giáo trình bệnh cây rừng
được xuất bản lần đầu tiên ở nước ta. Cùng với sự phát triển khoa học côn
trùng rừng, khoa học bệnh cây rừng đã có những bước phát triển từ khi thành
lập bộ môn gỗ sâu bệnh 1964, bộ môn bảo vệ thực vật 1968 tại trường Đại
học Lâm nghiệp…
Năm 1991, Phạm Văn Mạch đã nghiên cứu nguyên nhân gây bệnh thối
nhũn cây thông ở vườn ươm (Trần Công Loanh, 1992) [3].
Năm 2005, Đặng Kim Tuyến xuất bản giáo trình bệnh cây rừng dùng
cho hệ đại học, Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Các nghiên cứu trên đã góp một phần nào đó vào công tác phòng trừ sâu bệnh
hại cây rừng của Việt Nam và có ý nghĩ quan trọng trong sản xuất thực tiễn.
2.3.3. Nghiên cứu về nấm Ceratocystis
Trong những năm gần đây, phong trào trồng rừng sản xuất phát triển
mạnh ở tỉnh Thái Nguyên. Keo tai tượng (Acacia mangium), Keo lai (A.
mangium x A. auriculiformis) được chọn là những loài cây trồng chính. Rừng
trồng sản xuất đã mang lại lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường cho người
sâu bệnh, cành vô hiệu bên trong tán, vệ sinh vườn sạch sẽ.; Bệnh có thể lây
lan qua dụng cụ cắt tỉa, do đó sau mỗi lần cắt tỉa cũng như khi sử dụng dụng
cụ từ cây bị bệnh sang cây khoẻ nên khử trùng dụng cụ bằng cách ngâm dụng
cụ trong dung dịch cồn 900 trong 10 phút nhằm tiêu diệt mầm bệnh cũng như
tránh sự lây lan; Cắt bỏ cành, cây bị bệnh nặng. Tiêu huỷ tập trung. Quét
thuốc trừ nấm hoặc nước ngay vết cắt để tránh nhiễm bệnh ngay vết thương.
15
Điều tra thường xuyên phát hiện sớm các triệu chứng của bệnh. Khi bệnh
mới xuất hiện, tỷ lệ bị bệnh còn ít, xử dụng thuốc Bordeaux nồng độ 1% phun
hoặc quét lên các vết bị bệnh.
Chặt toàn bộ cây bị chết hoặc nhiễm bệnh nặng đưa ra khỏi rừng để tiêu
diệt nguồn xâm nhiễm.
Thường xuyên kiểm tra rừng để sớm phát hiện những lô bị bệnh...
Chú ý: Cần hạn chế gây vết thương trên cây đặc biệt là vào mùa mưa, khi khai
thác chặt hạn chế gây tổn hại cho cây chưa khai thác, khi cắt tỉa cành nên
dùng Keo hay mỡ bò bôi kín vết cắt.
2.3.5. Thông tin chung về Keo tai tượng
2.3.5.1. Phân loại khoa học
- Giới (regnum): Thực vật (Plantate)
- Bộ (ordo): Đậu (Fabales)
- Họ (familia): Đậu (Fabaceae)
- Phân họ (subfamilia): Trinh nữ (Mimosoideae)
- Chi (genus) : Keo (Acacia)
- Loài (species) : Keo tai tượng (A. mangium)
- Tên hai phần : Acacia mangium Willd
- Tên khác : Keo lá to, Keo đại, Keo mỡ
2.3.5.2. Đặc điểm hình thái
đun. Keo tai tượng là cây mọc nhanh tán rậm, thường xanh, rễ phát triển
mạnh, dung làm cây che phủ đất, cải tạo và bảo vệ ở vùng đất trống đồi núi
trọc, nó cũng làm cây lục hóa, trồng trong công viên, đường phố, lá có thể
làm thức ăn gia súc cho dê, hươu…(Lê Mộc Châu và Vũ Văn Dũng, 1999) [1].
2.4. Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.4.1. Điều kiện của khu vực nghiên cứu
2.4.1.1 Vị trí địa lí
Tỉnh Thái Nguyên có diện tích 3.562,82 km² phía bắc tiếp giáp với
tỉnh Bắc Kạn, phía tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, phía đông