Quyền thành lập và gia nhập công đoàn của người lao động ở việt nam hiện nay - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

VŨ THỊ HƢỜNG

QUYỀN THÀNH LẬP VÀ GIA NHẬP CÔNG ĐOÀN
CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


Vũ THị HƯờNG

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT



V TH HNG

lý LUậN Và LịCH Sử NHà NƯớC Và PHáP LUậT

QUYN THNH LP V GIA NHP CễNG ON
CA NGI LAO NG VIT NAM HIN NAY

Chuyờn ngnh : Lý lun v lch s NN&PL
Mó s

: 60.38.01.01

chuyên môn và phƣơng pháp nghiên cứu và chỉ bảo cho tôi nhiều kinh nghiệm
trong thời gian thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Luật trực thuộc Đại
học Quốc gia Hà Nội và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng nhƣ
trong quá trình hoàn thành luận văn này.
Sau cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều kiện tốt
nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng nhƣ thực hiện luận văn.
Mặc dù với sự nỗ lực cố gắng của bản thân, luận văn không tránh khỏi những
thiếu sót. Tôi mong nhận đƣợc sự góp ý chân thành của các Thầy Cô, đồng nghiệp
và bạn bè để luận văn đƣợc hoàn thiện hơn.

Hà Nội, ngày 10 tháng 09 năm 2015
Tác giả luận văn

Vũ Thị Hƣờng


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..........................................................................................................................1
1.

Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................................1

2.

Tình hình nghiên cứu của luận văn..........................................................................3

3.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn......................................................3

1.3.2. Quy trình, thủ tục thành lập và gia nhập công đoàn ..........................................24
1.3.3. Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức ...............................................................26
1.3.4. Các bảo đảm từ phía ngƣời lao động..................................................................27
1.3.5. Xử lí vi phạm pháp luật trong thành lập và gia nhập công đoàn .......................28
1.4 Quyền thành lập và gia nhập công đoàn trong pháp luật quốc tế ..................29
1.4.1. Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con ngƣời (UDHR). ..................................29
1.4.2. Công ƣớc quốc tế về quyền dân sự và chính trị .................................................30
1.4.3. Công ƣớc quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (ICESCR).................32
1.4.4. Công ƣớc quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những ngƣời lao động di trú và
các thành viên gia đình họ ..............................................................................................35


1.4.5. Văn kiện của ILO ................................................................................................36
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN THÀNH LẬP VÀ GIA
NHẬP CÔNG ĐOÀN CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM ........................42
2.1 Tổng quan pháp luật bảo đảm quyền thành lập và gia nhập công đoàn .........42
2.1.1. Hiến pháp ............................................................................................................42
2.1.2. Bô ̣ luâ ̣t lao đô ̣ng ..................................................................................................43
2.1.3. Luật Công đoàn ...................................................................................................44
2.1.4. Luâ ̣t bảo hiể m xã hô ̣i...........................................................................................46
2.1.5. Bộ luật Hình sự Việt Nam ..................................................................................46
2.2 Điều kiện thành lập và gia nhập công đoàn ở Việt Nam..................................47
2.2.1. Điều kiện thành lập công đoàn ở Việt Nam .......................................................47
2.2.2. Điều kiện gia nhập công đoàn ở Việt Nam ........................................................52
2.3 Quy trình thành lập và gia nhập công đoàn ở Việt Nam .................................56
2.3.1. Quy trình, thủ tục thành lập công đoàn ở Việt Nam ..........................................56
2.3.2. Quy trình, thủ tục gia nhập công đoàn ở Việt Nam ...........................................63
2.4 Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong thành lập và gia nhập công
đoàn… ............................................................................................................................64
2.4.1. Trách nhiệm của Nhà nƣớc đối với Công đoàn .................................................64

1
ACIRRT
Úc Đại Lợi
2
Bộ luật hình sự
BLHS
3
Bộ luật lao động
BLLĐ
4
Công đoàn

5
Công đoàn cơ sở
CĐCS
6
Ủy ban về tự do lập hội
CFA
7
Công nhân lao động
CNLĐ
8
Doanh nghiệp
DN
9
Doanh nghiệp nhà nƣớc
DNNN
10 ICCPR
Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, 1966
Công ƣớc quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong luật lao động quốc tế, tôn trọng quyền tự do công đoàn đƣợc xem nhƣ
là một nguyên tắc cơ bản trong lao động. Quyền này bao gồm quyền của ngƣời lao
động đƣợc tự do thành lập, tham gia hoặc không tham gia vào các công đoàn khác
nhau. Do đó, theo các công ƣớc quốc tế của Liên hợp quốc và Tổ chức lao động
quốc tế, tất cả ngƣời lao động đều có quyền tự do thành lập, tham gia vào các công
đoàn, nếu việc thành lập, tham gia đó không trái với trật tự công cộng hoặc xâm
phạm an ninh, lợi ích của quốc gia sở tại. Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự và
chính trị năm 1966 quy định “Mọi người đều có quyền tự do lập hội với những
người khác, kể cả quyền lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình”
(Điều 22, khoản 1). Quy định này cho phép tất cả mọi ngƣời lao động thực hiện
quyền tự do công đoàn một cách không hạn chế, ngoại trừ những trƣờng hợp pháp
luật của quốc gia thành viên quy định hạn chế đối với những đối tƣợng nhất định,
nhằm mục đính đảm bảo cho một xã hội dân chủ, vì lợi ích, an ninh quốc gia và trật
tự công cộng hoặc vì mục đích bảo vệ các quyền và tự do của những ngƣời khác.
Ngoài Liên hợp quốc, quyền tự do công đoàn của ngƣời lao động cũng luôn là tâm
điểm đƣợc bảo vệ bởi Tổ chức lao động quốc tế. Quyền này là một trong những yếu
tố thể hiện nền dân chủ và sự phát triển của một quốc gia. Nói cách khác, nền dân
chủ và sự phát triển bền vững về kinh tế của một quốc gia sẽ bị hạn chế rất nhiều
nếu một bộ phận ngƣời lao đô ̣ng bị tƣớc đi quyền đƣợc tự thành lập tổ chức để bảo
vệ quyền và lợi ích của mình . Do đó, tôn trọng quyền tự do thành lâ ̣p và gia nhập
công đoàn là việc làm quan trọng giúp bảo đảm quyề n của ngƣời lao đô ̣ng nói riêng,
quyề n con ngƣời nói chung.
Ở Việt Nam t ừ khi bƣớc vào thời kì đổi mới, doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế trên cả nƣớc đã tăng nhanh về số lƣợng và quy mô đầu tƣ, đặc biệt là
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã phát triển mạnh và thu hút số lƣợng lớn lao
động vào làm việc. Trƣớc thực trạng đó, nhiều văn bản pháp luật liên quan đến
quyền của ngƣời lao động đã đƣợc Nhà nƣớc ban hành hoặc bổ sung, sửa đổi cho
phù hợp với những đặc điểm của thời kì mới. Việc bảo đảm quyền con ngƣời nói

thành cả nƣớc, tập trung chủ yếu ở vùng kinh tế trọng điểm. Ngừng việc tập thể xảy
ra nhiều ở các doanh nghiệp có vốn nƣớc ngoài với 2.337 cuộc (chiếm 74,9%) [35].
Nhƣ vậy, bình quân mỗi năm xảy ra từ 300 - 450 cuộc ngừng việc và hầu hết mang
tính tự phát; không do Công Đoàn tổ chức, lãnh đạo…
Cùng với đó, Luâ ̣t công đoàn 2012 của Việt Nam đã đƣơ ̣c thông qua thay thế
cho Luâ ̣t Công đoàn năm 1990, theo đó viê ̣c bảo vê ̣ quyề n của ngƣời lao đô ̣ng đƣơ ̣c
xem xét chủ yế u trong viê ̣c bảo đảm mố i quan hê ̣ giƣ̃a ngƣời lao đô ̣ng với ngƣời sƣ̉
dụng lao động; bảo đảm quyền của ngƣời lao động thông qua hoạt động của tổ chức
công đoàn…Sự thay đổi này có ý nghĩa quan trọng song cũng đặt ra những vấn đề

2


cần nghiên cứu về thực thi và bảo đảm quyền trên thực tế cho phù hợp với các công
ƣớc quốc tế có liên quan mà Việt Nam đã là thành viên. Trong điều kiện đó, tác giả
lựa chọn nghiên cứu về vấn đề: “Quyề n thành lâ ̣p và gia nhâ ̣p công đoàn của
ngƣời lao đô ̣ng ở Viêṭ Nam hiêṇ nay” để chỉ ra những điểm còn hạn chế, bất cập;
từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện hơn nữa cơ sở pháp lý bảo đảm quyền thành
lập và tham gia công đoàn của ngƣời lao động ở Việt Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu của luận văn
Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu khoa học liên quan tới ngƣời lao động,
công đoàn nhƣ, đề tài, “Bảo đảm quyền của người lao động trong doanh nghiệp ở
Viê ̣t Nam”, PGS.TS Lê Thi ̣Hoài Thu , 2013; “Cơ chế bảo đảm quyề n của người lao
động trong các loại hình doanh nghiê p̣ ở Viê ̣t Nam hiê ̣n nay”, PGS.TS Lê Thi ̣Châu,
Đề tài khoa học cấp Bộ (Viện nghiên cứu lập pháp); “Bảo vê ̣ người lao động di trú:
tập hợp các văn kiện quan trọng của quốc tế, khu vực Asean và của Việt Nam liên
quan đến vị thế và việc bảo vệ người lao động di trú, Lao động, 2009; Bảo vệ người
lao động theo pháp luật lao động Viê ̣t Nam trong nề n kinh tế thi ̣ trường , Luâ ̣n văn
Ths Luâ ̣t: 6.01.05, Nguyễn Thi Yế
̣ n; Nghd TS Nguyễn Hƣ̃u Chí , Khoa Luâ ̣t, 2005;

̣ của pháp luật về bảo đảm quyền thành lập và gia
nhập công đoàn;
- Phân tích, đánh giá quy định của pháp luật Việt Nam về thành lập và gia
nhập công đoàn;
- Đánh giá thực trạng bảo đảm quyền thành lập và gia nhập công đoàn của
ngƣời lao động ở Việt Nam;
- Đề xuất giải pháp thiết thực nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyề n
thành lập và gia nhập công đoàn.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Luận văn nghiên cƣ́u những vấn đề lý luận, nghiên
cƣ́u các quy đinh
̣ của pháp luâ ̣t về quyề n thành lâ ̣p và gia nhâ ̣p c ông đoàn của ngƣời
lao đô ̣ng. Đồng thời đánh giá thực tiễn thi hành và phân tích các luận cứ khoa học
về quyền thành lập và gia nhập công đoàn của ngƣời lao động . Trên cơ sở đó góp
phần hoàn thiện pháp luật về quyề n thành lâ ̣p và gia nhâ ̣p công đoàn của ngƣời lao
đô ̣ng ở Viê ̣t Nam.
- Phạm vị nghiên cƣ́u: Luận văn tập trung phân tích quy đinh
̣ pháp luâ ̣t về bảo
đảm quyền thành lập và gia nhập công đoàn theo công ƣớc quốc tế, pháp luật Việt
Nam về quyền thành lập và gia nhập công đoàn. Từ đó, đánh giá thực trạng pháp luật
về quyề n thành lâ ̣p và gia nhập công đoàn của ngƣời lao đô ̣ng ở Viê ̣t Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu của Luận văn
Phƣơng pháp luận: trong quá trình nghiên cứu, luận văn dựa vào phƣơng
pháp luận là phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lê nin
và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh. Đồng thời vận dụng các quan điểm, tƣ tƣởng chỉ đạo của
Đảng cộng sản Việt Nam làm định hƣớng nghiên cứu.
Các phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc sử dụng trong luận văn, gồm: Phƣơng
pháp so sánh pháp luật; Phƣơng pháp phân tích quy phạm và phƣơng pháp đánh giá
thực trạng pháp luật; Phƣơng pháp tổng hợp. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng


ngƣời lao đô ̣ng
Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền thành lâ ̣p và gia nhâ ̣p công đoàn của
ngƣời lao đô ̣ng ở Viê ̣t Nam
Chương 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm quyề n thành lập và gia nhập công
đoàn của ngƣời lao đô ̣ng.

5


CHƢƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN THÀNH LẬP VÀ GIA NHẬP
CÔNG ĐOÀN CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG
1.1 Khái niệm quyền thành lập và gia nhập công đoàn của ngƣời lao động
1.1.1. Công đoàn
1.1.1.1. Lịch sử của tổ chức công đoàn
Cuộc Cách mạng công nghiệp diễn ra ở Anh vào giữa thế kỷ 18, sau đó tiếp
tục ở nhiều nƣớc khác. Cuộc cách mạng này bắt đầu từ việc phát minh và sử dụng
các máy kéo sợi, máy dệt và đặc biệt là máy hơi nƣớc…chuyển lao động bằng tay
sang lao động bằng máy đƣa năng suất lao động lên cao. Từ cuộc cách mạng công
nghiệp, giai cấp công nhân và giai cấp tƣ sản đã ra đời. Hai giai cấp này đối lập
nhau về quyền lợi. Do bị bóc lột, giai cấp công nhân đã đấu tranh chống giai cấp tƣ
sản từ lẻ tẻ, rời rạc, tự phát dần dần thành cuộc đấu tranh của cả một phân xƣởng,
một nhà máy, một ngành, một địa phƣơng. Trong đấu tranh, công nhân nhận thấy
cần tập hợp lực lƣợng, thống nhất hành động mới bảo vệ đƣợc quyền lợi của mình.
Do đó đã hình thành một tổ chức để đáp ứng yêu cầu ấy - đó là Công đoàn. Nhƣ vậy
nguyên nhân chủ yếu để công đoàn ra đời là do quan hệ lao động mâu thuẫn trong
mối quan hệ chủ thợ và để tập hợp bảo vệ quyền lợi của công nhân, công đoàn ra
đời là tất yếu khách quan. Công đoàn ra đời đầu tiên ở Anh vào đầu năm 1868,
Pháp năm 1884, Đức năm 1945…[6].
Dƣới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác, phong trào đấu tranh của công nhân ngày

Các học giả nghiên cứu về công đoàn đã đƣa ra các quan điểm của mình về
vấ n đề này . Cuốn Lịch sử Chủ nghĩa Công đoàn (1984) của Sidney và Beatrice
Webb có quan điểm rằng công đoàn là “một hiệp hội của những ngƣời làm công ăn
lƣơng có mục đích duy trì hay cải thiện các điều kiện thuê mƣớn họ” thắng thế. Có
một định nghĩa hiện đại khác của Cục Thống kê Úc Đại Lợi rằng công đoàn là
“...một tổ chức hợp thành chủ yếu bởi những ngƣời làm thuê, hoạt động cơ bản là
thƣơng lƣợng về lƣơng bổng và điều kiện thuê mƣớn cho các thành viên của nó”.
Nhƣ nhà sử học R.A Leeson, trong cuốn United We Stand (Tạm dịch: Chúng ta hãy
đoàn kết đứng lên) (1971) có viết: “Hai quan điểm mâu thuẫn nhau của phong trào
công đoàn đấu tranh với nhau để giành ƣu thế trong thế kỷ mƣời chín: một bên là
truyền thống phƣờng hội nghiêm ngặt có tính phòng thủ truyền lại qua các câu lạc
bộ thợ thuyền và các hội bạn thợ... bên khác là xu thế bành trƣớng có tính tấn công
nhằm thống nhất toàn thể “ngƣời lao động nam cũng nhƣ nữ để thiết lập một trật tự
mới...” Kinh tế gia thế kỷ XIX Adam Smith đã lƣu ý sự bất cân đối về quyền lợi của
ngƣời lao động so với của ngƣời sở hữu (hay “ông chủ”). Trong chƣơng 8, tập I
cuốn Của cải của các Quốc gia, Ad.Smith viết: Hiếm khi ta nghe nói đến sự liên

7


hiệp của các ông chủ, mà thƣờng nghe đến hội của những ngƣời làm công. Nhƣng
ai đó dựa trên điều này mà tƣởng tƣợng rằng các ông chủ hiếm khi tập hợp lại thì kẻ
đó thật dốt nát, cả về thế giới lẫn về vấn đề này. Các ông chủ ở mọi lúc mọi nơi đều
liên hiệp với nhau một cách ngấm ngầm nhƣng khƣ khƣ bất biến, hòng không nâng
lƣơng của nhân công lên trên mức hiện hữu…[Khi những ngƣời lao động tập hợp
lại,] các ông chủ… không ngừng làm ầm ĩ lên, kêu gọi sự hỗ trợ của chính quyền
dân sự, và đòi thực thi nghiêm khắc những luật lệ ngặt nghèo đƣợc ban hành nhằm
chống lại sự liên hiệp của những ngƣời đầy tớ, ngƣời làm công và thợ thuyền. Nhƣ
vậy điều đó cho thấy, công đoàn là bất hợp pháp trong nhiều năm ở hầu hết các
nƣớc. Đã có những hình phạt khắt khe đối với tổ chức công đoàn. Mặc dù thế, công

mƣớn lao động về lƣơng bổng, giờ làm cũng và các điều kiện thuê lao động khác.
Việc hai bên không thể đạt đến một thỏa thuận nào đó có thể dẫn đến những hành
động gây áp lực và đỉnh điểm là đình công. Trong một số trƣờng hợp cực đoan, việc
đình công có thể là hành vi bất hợp pháp. Bên ca ̣nh đó mô ̣t số công đoàn có thể
không có quyền đại diện hợp pháp cho công nhân hoặc quyền này bị hạn chế. Các
công đoàn có thể tham gia vào cuộc đấu tranh chính trị hay xã hội rộng lớn hơn.
Chủ nghĩa công đoàn xã hội bao gồm nhiều công đoàn có thể dùng sức mạnh quốc
tế để ủng hộ cho những chính sách và pháp luật có lợi hơn cho ngƣời lao động.
Hiện nay, trong cơ chế thị trƣờng đang diễn ra sôi động trên phạm vi toàn thế
giới, các tập đoàn tài chính quốc tế , các công ty đa quốc gia đã áp dụng chính sách
đầu tƣ linh hoạt và phƣơng pháp quản lý mềm dẻo

, đồ ng thời tăng cƣờng bóc lột

công nhân. Thêm vào đó là tình hình việc làm của công nhân và ngƣời lao động trên
thế giới đang trở thành vấn đề lớn. Vì vậy, công đoàn thế giới cần phải đổi mới,
kiện toàn tổ chức công đoàn phải phấn đấu vƣơn lên không ngừng vì sự nghiệp hoà
bình thế giới, ổn định kinh tế xã hội và bảo vệ ngƣời lao động.
1.1.1.2. Mục đích và vai trò của Công đoàn
Thứ nhất, mục đích của Công đoàn. Công đoàn hoạt động vì mục đích xã
hô ̣i, nhằ m bảo vệ quyền lợi của ngƣời lao động trong quan hệ lao động ... Mục đích
xã hội của công đoàn thể hiện ở chỗ tổ chức này bảo vệ các quyền gắn liền với việc
bảo vệ nhân phẩm của ngƣời lao động và nâng cao vị thế của ngƣời lao động trong
mối tƣơng quan lao động và xã hội của giới chủ.
Thứ hai, vai trò của Công đoàn. Trong xã hội tƣ bản, các nghiệp đoàn có vai
trò rất quan trọng. Ở đó, các tổ chức nghiệp đoàn có tƣ cách nhƣ là “lực lƣợng quân
bình” kéo cân lại vị thế vốn nhỏ bé của ngƣời lao động làm thuê so với thế lực “vạn
năng” của nhà tƣ bản. Nhà nƣớc tƣ sản đã dùng công cụ pháp lý để xác lập quyền
thành lập và hoạt động nghiệp đoàn của ngƣời lao động, và cũng bằng công cụ pháp


giữa phong trào công nhân Việt Nam với phong trào công nhân thế giới, đặc biệt là
với công nhân và công đoàn Pháp đã đƣợc công hội đỏ thiết lập. Trƣớc yêu cầu và
nhiệm vụ mới của cách mạng, ngày 20/6/1946, Hội nghị Cán bộ công đoàn cứu
quốc toàn quốc đã quyết định đổi tên “Hội công nhân cứu quốc” thành “Công đoàn”
và thành lập Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Ngày 28 tháng 7 đƣợc lấy là ngày
Công đoàn Việt Nam.

10


Hiện nay ở Việt Nam, “công đoàn” không đƣợc coi là một danh từ chung.
Định nghĩa về công đoàn đƣợc quy định trong Hiến pháp “Công đoàn Việt Nam là
tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của ngƣời lao động đƣợc thành
lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho ngƣời lao động, chăm lo và bảo vệ quyền , lợi
ích hợp pháp , chính đáng của ngƣời lao động ; tham gia quản lý nhà nƣớc , quản lý
kinh tế - xã hội; tham gia kiể m tra , thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà
nƣớc, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ
của ngƣời lao động; tuyên truyền, vận động ngƣời lao động học tập, nâng cao trình
độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (điều
10), và đƣợc cụ thể hóa trong Luật công đoàn 2012 “Công đoàn là tổ chức chính trị
- xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của ngƣời lao động, đƣợc thành lập trên
cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dƣới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên
chức, công nhân và những ngƣời lao động khác (sau đây gọi chung là ngƣời lao
động), cùng với cơ quan nhà nƣớc, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của ngƣời lao động; tham gia quản lý nhà
nƣớc, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của
cơ quan nhà nƣớc, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động ngƣời lao
động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” (Điều 1)

giữ vai trò chủ đạo, liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển có lợi
cho xã hội. Thứ ba, trong lĩnh vực văn hóa - tư tưởng: Công đoàn phát huy vai trò
của mình trong việc giáo dục công nhân, viên chức và lao động nâng cao lập trƣờng
giai cấp công nhân, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng; phát huy những giá trị cao đẹp, truyền thống văn hóa dân tộc và tiếp thu
những thành tựu tiên tiến của văn minh nhân loại, góp phần xây dựng nền văn hóa
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Thứ tư, trong lĩnh vực xã hội: Công
đoàn có vai trò quan trọng trong việc tham gia xây dựng giai cấp công nhân vững
mạnh cả về số lƣợng và chất lƣợng, không ngừng nâng cao trình độ giác ngộ chính
trị, tính tổ chức kỷ luật, trình độ văn hóa, khoa học - kỹ thuật của công nhân, làm
cho giai cấp công nhân trở thành lực lƣợng nòng cốt của khối liên minh công - nông
- trí, nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Công đoàn là cơ sở vững chắc bảo
đảm vai trò lãnh đạo của Đảng và tăng cƣờng sức mạnh của Nhà nƣớc.
1.1.2. Quyền của ngƣời lao động
Khái niệm “Quyền” thông thƣờng đƣợc hiểu là “cái mà luật pháp, xã hội,
phong tục hay lẽ phải cho phép hƣởng thụ, vận dụng, thi hành…và khi thiếu sẽ
đƣợc yêu cầu để có, nếu bị tƣớc đoạt có thể đòi hỏi để giành lại”. Quyền thƣờng gắn
với một chủ thể pháp luật. Luật pháp của các nƣớc trên thế giới đều quy định quyền

12


và nghĩa vụ cơ bản của công dân là một chế định cơ bản, giữ vị trí quan trọng trong
Hiến pháp. Ở Việt Nam, quyền cơ bản của công dân là những quyền gắn bó mật
thiết tới cuộc sống của mỗi cá nhân - con ngƣời với tƣ cách là một thành viên của
cộng đồng xã hội. Nhà nƣớc thừa nhận quyền của con ngƣời, của công dân trong
Hiến pháp và luật pháp, đƣợc bảo đảm thực hiện thông qua bộ máy công quyền từ
trung ƣơng đến địa phƣơng. Quyền của ngƣời lao động là một trong những nội
dung, thành tố cơ bản cấu thành quyền con ngƣời. Tuy nhiên ngƣời lao động với tƣ
cách là chủ thể tạo ra các sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội, quyền của

của ngƣời lao động” hoặc “bảo đảm quyền của ngƣời lao động” không có sự phân
biệt. Trên thực tế “Bảo đảm” có nghĩa là “Sự giữ đƣợc đầy đủ, trọn vẹn”, còn thuật
ngữ “Đảm bảo” có nghĩa là “Hứa giữ gìn chắc chắn” [19]. Trong tiếng anh, từ “đảm
bảo” hay “bảo đảm” đƣợc dịch là “ensure” hay “guarantee”. Với mục đích và nhiệm
vụ nghiên cứu của đề tài, việc sử dụng khái niệm “bảo đảm quyền của ngƣời lao
động” sẽ là đầy đủ và chính xác hơn. Quyền của ngƣời lao động và việc bảo đảm
quyền này trong thực tế phụ thuộc vào thể chế chính trị, truyền thống văn hóa, trình
độ phát triển kinh tế - xã hội, trình độ dân trí…trong mỗi giai đoạn và trong từng
thời kỳ lịch sử. Cho đến nay sau hơn hai thập kỷ xây dựng và phát triển kinh tế thị
trƣờng định hƣớng XHCN, nƣớc ta đã đạt đƣợc những thành tựu có ý nghĩa lịch sử
trong việc phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có việc bảo đảm quyền của ngƣời lao
động. Tuy nhiên đó mới chỉ là kết quả bƣớc đầu, hơn nữa việc xây dựng và phát
triển kinh tế thị trƣờng mới chỉ diễn ra trong thời gian chƣa đƣợc bao lâu, với những
hạn chế, yếu kém về mặt chủ quan đã làm cho việc bảo đảm quyền của ngƣời lao
động nói chung và quyền của ngƣời lao động trong các loại hình doanh nghiệp ở
nƣớc ta hiện nay bộc lộ nhiều bất cập. Vì vậy, việc xây dựng, hoàn thiện và vận
hành có hiệu quả cơ chế bảo đảm quyền của ngƣời lao động trong các loại hình
doanh nghiệp ở nƣớc ta hiện nay trở thành vấn đề mang tính cấp thiết.
Thông thƣờng, quyền của ngƣời lao động đƣợc chia thành: Quyền được làm
việc; Quyền tự do không bị lao động cưỡng bức; Quyền được hưởng mức lương
công bằng, hợp lý và được trả lương bằng nhau cho những công việc như nhau;
Quyền được đảm bảo điều kiện làm việc an toàn và vệ sinh; Quyền nghỉ ngơi;
Quyền công đoàn; Quyền được hưởng an sinh xã hội. Nhƣ vậy, quyền công đoàn là
một bộ phận cấu thành quyền của ngƣời lao động.
1.1.3. Quyền thành lập và gia nhập công đoàn
1.1.3.1. Khái niệm quyền thành lập công đoàn của người lao động
Theo từ điển Tiếng Việt thuâ ̣t ngƣ̃ “thành lập” có nghĩa là: chính thức lập
nên, dựng nên (thƣờng nói về một tổ chức quan trọng). Theo cách hiểu thông

14

yếu ở cấp ngành trung ƣơng để chỉ đạo công đoàn cơ quan bộ, đoàn thể trung ƣơng,
công đoàn tổng công ty và công đoàn cơ sở của các đơn vị thuộc bộ [5].
1.1.3.2. Khái niệm quyền gia nhập công đoàn của người lao động

15


Theo từ điển Tiếng Việt thuật ngữ “Gia nhập” nghĩa là đứng vào hàng ngũ,
trở thành thành viên của một tổ chức nào đó. Ví dụ: gia nhập quân đội, gia nhập
Liên hợp quốc…Ngƣời lao động đƣợc pháp luật hoặc xã hội công nhận cho đƣợc
hƣởng, đƣợc làm, đƣợc tham gia đứng vào hàng ngũ của tổ chức công đoàn để bảo
vệ lợi ích của mình. Bên cạnh đó, “gia nhập” còn đƣợc hiểu là một chủ thể (một
quốc gia một tổ chức, một cá nhân) đủ điều kiện tán thành những quy định của tổ
chức đã có trong xã hội và tự nguyện xin vào tổ chức đó, đƣợc tổ chức đó chấp
thuận. Việc gia nhập tổ chức phải có ít nhất hai điều kiện: một là, bên gia nhập phải
đủ điều kiện mà tổ chức yêu cầu, đồng thời phải tự nguyện xin vào tổ chức; hai là,
phải đƣợc đồng ý, chấp thuận theo quy chế nội bộ của tổ chức.
Nhƣ vậy quyền gia nhập tổ chức Công đoàn của ngƣời lao động là quyền của
ngƣời lao động dƣợc tự do gia nhập hoặc không gia nhập tổ chức Công đoàn, không
một cá nhân, tổ chức nào có thể ngăn cản quyền tự do gia nhập Công đoàn của
ngƣời lao động.
1.1.3.3. Mối quan hệ giữa quyền lập hội và quyền thành lập và gia nhập
công đoàn
Thƣ́ nhấ t , Lập hội là việc các cá nhân liên kết, tập hợp lại với nhau thành
nhóm để hƣớng đến những lợi ích, mục đích hay sự quan tâm chung. Trong khi các
nhóm, hội đoàn, tổ chức tự nguyện là các thành tố hạt nhân của xã hội dân sự thì
các chế độ độc đoán luôn tìm cách cản trở sự liên kết tự do của ngƣời dân, khống
chế sự hoạt động của các hội tự nguyện. Điều này đã đƣợc nhắc đến nhƣ nỗ lực
nhằm “nguyên tử hóa” (tách rời cá nhân ra thành các đơn vị riêng lẻ) của các chế độ
lạm quyền. Các hội có hình thức đa dạng, đó có thể là các câu lạc bộ, hội nghề

pháp nhân, hội có thể bị giới hạn một số quyền nhất định (nhƣ quyền sở hữu tài
sản...). Quyền lập hội gồm ba lĩnh vực cơ bản là: Một là, quyền thành lập hội; hai
là, quyền gia nhập hội; ba là, hoạt động, điều hành các hội.
Quyền thành lập và gia nhập hội. ICCPR tái khẳng định và cụ thể hóa quy
định về quyền tự do hội họp trong Điều 20 UDHR. Khoản 1 Điều 22 ICCPR xác
định: Mọi ngƣời có quyền tự do lập hội với những ngƣời khác, kể cả quyền lập và
gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình. Từ nội dung đó, có thể thấy
quyền này bao gồm cả ba khía cạnh: (i) Thành lập ra các hội mới, (ii) Gia nhập các
hội đã có sẵn, và (iii) Hoạt động, điều hành các hội, bao gồm cả việc tìm kiếm, huy
động các nguồn kinh phí. Quyền thành lập và gia nhập các hội là nội dung chủ yếu
của quyền tự do hiệp hội. Quyền này bao hàm cả quyền thành lập và gia nhập các
công đoàn để bảo vệ lợi ích của ngƣời lao động. Cũng cần lƣu ý là quyền thành lập
và gia nhập các công đoàn đƣợc bảo vệ cả trong ICCPR (Điều 22) và ICESCR

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status