NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỜI GIAN TỰ HỌC CỦA SINH
VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỬU LONG
Nguyễn Hoàng Minh1 , Ngô Thị Thúy An1, Lương Văn Út1
TÓM TẮT
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian tự học của sinh viên Trường Đại
học Cửu Long. Số liệu sử dụng trong nghiên cứu là phỏng vấn 573 bạn sinh viên hiện
đang học tại trường Đại học Cửu Long. Đề tài áp dụng phương pháp phân tích hồi quy
đa biến và cho thấy có 10 nhân tố ảnh hưởng đến thời gian tự học trong tuần của các
bạn sinh viên bao gồm: độ tuổi, giới tính, đi làm thêm, số điểm đậu Đại học, số năm học
tại trường, điểm trung bình tích lũy, tỷ lệ phần trăm các môn học có bài tập nhóm trong
học kỳ, trang bị máy tính cá nhân và có sử dụng internet để phục vụ việc học tập. Trên
cơ sơ đó, nhóm tác giả đã đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao thời
gian tự học của các bạn sinh viên trường Đại học Cửu Long trong thời gian tới.
Từ khóa: tự học, internet, trường Đại học Cửu Long.
1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, nền giáo dục nước ta đang trên đà phát triển, đi cùng
với sự phát triển của nền giáo dục là chất lượng học tập của các bạn sinh viên cũng đang
dần cải thiện. Mà chất lượng học tập của các bạn sinh viên luôn là vấn đề quan tâm hàng
đầu của toàn xã hội vì tầm quan trọng của nó gắn liền với sự nghiệp phát triển nguồn
nhân lực cho đất nước trong xu thế quốc tế hóa và toàn cầu hóa.
Tuy nhiên, một thực trạng đang xảy ra là có một số bạn sinh viên có kết quả học
tập ngày càng kém. Nguyên nhân chủ yếu là do sinh viên phải đối mặt với môi trường
học tập mới, môi trường này đòi hỏi các bạn sinh viên phải sáng tạo, tự học và tích cực
cùng với các phương pháp học tập mới mà bản thân các bạn sinh viên chưa sẵn sàng
chuẩn bị tâm lý cho việc học tập. Do đó, việc “nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến
thời gian tự học của sinh viên Đại học Cửu Long” là hết sức cần thiết để góp phần vào
việc cải thiện chất lượng học tập của các bạn sinh viên và góp phần nâng cao vị thế của
trường. Vì vậy, việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian tự học của sinh viên sẽ
giúp cho các bạn sinh viên có thể tự điều chỉnh các yếu tố để có được khoảng thời gian tự
học và nghiên cứu một cách hiệu quả nhất từ đó sẽ nâng cao được chất lượng học tập của
thời gian tự học trên tuần của 2 nhóm đối tượng sinh viên đào tạo theo 2 hình thức khác
nhau: Sinh viên đào tạo theo hình thức tín chỉ và sinh viên được đào tạo theo hình thức
niên chế. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn xem xét những nhân tố ảnh hưởng (đã được xác
định ở phần nghiên cứu định tính) đến thời gian tự học của sinh viên trong một tuần.
Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp chọn mẫu
Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện.Tổng thể nghiên cứu là các bạn
sinh viên đang học tại trường Đại học Cửu Long.
Phương pháp xác định cỡ mẫu
Đề tài sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để thực hiện phân tích các nhân tố ảnh
hưởng đến thời gian tự học của sinh viên trường Đại học Cửu Long. Đối với mô hình hồi
quy tuyến tính thì kích thước cỡ mẫu thường được xác định dựa vào kích thước tối thiểu
và số lượng biến đưa vào mô hình phân tích. Theo Mai Văn Nam (2008) cho rằng cỡ mẫu
nghiên cứu tối thiểu để sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính là 8 lần số biến cộng với 50.
Do đề tài có 13 biến được xây dựng trong mô hình hồi quy tuyến tính vì vậy cỡ mẫu ít
nhất của đề tài phải là (8 x 13) + 50 = 154 mẫu. Tóm lại, dựa vào phương pháp trên và
nhằm tăng thêm tính khoa học cho nghiên cứu nên trong nghiên cứu này nhóm tác giả
tiến hành phỏng vấn 573 bạn sinh viên. Cỡ mẫu được phân bổ như sau:
Bảng 1: Cỡ mẫu điều tra phân theo địa bàn nghiên cứu
STT
Khoa
Số quan sát (Người)
Tỷ lệ (%)
16,2
5
Kế toán – Tài chính – Ngân hàng
99
17,3
6
Ngữ văn
65
11,3
7
Quản trị Kinh doanh
111
19,4
Tổng cộng
573
Thời gian tự học
của sinh viên
Định
lượng
Giờ/tuần
GT
Giới tính
Biến giả
= 1 nếu là nam;
= 0 nếu là nữ
NO
Nơi ở
Biến giả
= 1 nếu ở nhà
trọ
Tác giả
Kỳ
Biến giả
= 1 tín chỉ;
Bộ GD&ĐT, 2007
+
SNDH
Số năm học Đại
học
Định
lượng
Số năm
Đặng và ctv, 2014
+
DTB
Số điểm tích lũy
trung bình
Định
lượng
DLT
Biến giả
= 1 có đi làm
thêm;
= 0 không đi
làm thêm
Đặng và ctv, 2014; Thu,
2014; Khoa, 2007; và
Anh, 2013
-
SOTC
Số tín chỉ trong
HK
Định
lượng
Số tín chỉ
Đặng và ctv, 2014
-
BTN
R
Internet
Biến giả
= 1 là có;
Đặng và ctv, 2014; Anh,
2013; Lê Đình, 2003
+
=0 là không có.
2.2 Kết quả nghiên cứu và bình luận
Tác động của phương pháp tự học đến thời gian tự học của sinh viên
Kiểm định giả thuyết Ho1: Có sự khác nhau về thời gian tự học giữa các bạn
sinh viên có trang bị phương pháp tự học và không có trang bị phương pháp tự học.
Bảng 3: Kết quả kiểm định sự khác nhau về thời gian tự học của sinh viên có trang bị
phương pháp tự học và không có trang bị phương pháp tự học
Kết quả kiểm định
Trang bị phương pháp tự học
bình
Giá trị trung
phương sai
Phân tích
định giả thuyết Ho1: Có sự khác nhau về thời gian tự học giữa các bạn sinh viên có
trang bị phương pháp tự học và không có trang bị phương pháp tự học được chấp
nhận.
Tác động của phương pháp tự học đến kết quả học tập
Kiểm định giả thuyết Ho2: Có sự khác nhau về kết quả học tập giữa các bạn sinh
viên có trang bị phương pháp tự học và không có trang bị phương pháp tự học.
Bảng 4: Kết quả kiểm định sự khác nhau về kết quả học tập giữa các bạn sinh viên có
trang bị phương pháp tự học và không có trang bị phương pháp tự học
Kết quả kiểm định
Trang bị phương pháp tự học
Giá trị trung bình
phương sai
Phân tích
ANOVA
Mức ý nghĩa
Mức ý nghĩa
0,812
0,085
Có phương pháp tự học
7,13
Không có phương pháp tự học
7,04
Hằng số (constant)
Hệ số B
Hệ số Beta
Mức ý nghĩa
VIF
9,071
TUOI
-0,961
-0,095
0,001
1,784
GIOITINH
-4,050
-0,214
0,000
0,585
0,131
0,000
2,050
DTB
1,077
0,071
0,017
1,935
SOTC
-0,024
-0,019
0,481
1,561
BTN
1,577
MT
6,236
0,326
0,000
1,685
INTER
4,833
0,196
0,000
1,899
Hệ số R2
0,748
Hệ số R2 hiệu chỉnh
0,742
điểm đậu Đại học, điểm trung bình tích lũy học kỳ, tỷ lệ môn học có bài tập nhóm trong
học kỳ cao hơn; các bạn sinh viên có kế hoạch tự học, có trang bị máy tính cá nhân và có
kết nối internet để phục vụ học tập thì thời gian tự học trong tuần của các bạn sinh viên sẽ
tốt hơn.
Ngược lại, giới tính của các bạn sinh viên, độ tuổi của các bạn sinh viên và các
bạn sinh viên đi làm thêm có tác động nghịch chiều với thời gian tự học trong tuần hay
nói cách khác nếu các bạn sinh viên là nam, sinh viên có đi làm thêm và độ tuổi của các
bạn sinh viên càng cao thì thời gian tự học trong tuần của các bạn sinh viên sẽ giảm. Điều
này được giải thích thực tế là các bạn sinh nữ có nhận thức đúng đắn hơn về việc tự học
hơn các bạn sinh viên nam và khi các bạn sinh viên có đi làm thêm thì họ sẽ dành nhiều
thời gian hơn cho công việc từ đó thời gian tự học trong tuần sẽ giảm là phù hợp.
2.3 Một số giải pháp nâng cao thời gian tự học cho sinh viên Trường Đại học
Cửu Long
2.3.1 Giải pháp về vấn đề thay đổi cách nghĩ, cách học của sinh viên
Để có thể thay đổi cách nghĩ, cách học tập của các bạn sinh viên thì giảng viên
đóng vai trò rất quan trọng, vì giảng viên sẽ là người hướng dẫn, giải thích cho các bạn
sinh viên về vai trò của tự học và cách thức để việc thực hiện việc tự học một cách tốt
nhất. Giảng viên nên tập trung vào việc định hướng và tổ chức cho các bạn sinh viên tự đi
tìm mài mò kiến thức thay vì truyền đạt những kiến thức trong bài giảng. Cụ thể, giảng
viên nên tạo cho sinh viên phong cách học tập mới như: Giảng viên sẽ giới thiệu sách và
ra yêu cầu về học phần đó còn các bạn sinh viên thì phải tự tìm sách, tự nghiên cứu các
vấn đề để có thể nắm vững kiến thức đó. Từ đó, các bạn sinh viên sẽ có thể phát huy
được năng lực tự học của mình thì những kiến thức mà các bạn sinh viên thu thập được sẽ
nhớ tốt hơn.
2.3.2 Giải pháp về kỹ năng lập kế hoạch cho sinh viên
Đầu tiên, các bạn sinh viên cần phải biết cách bố trí, sắp xếp công việc các công
việc một cách hiệu quả, đưa ra các dự định về kế hoạch sẽ thực hiện của cá nhân sao cho
phù hợp về thời gian, sức khỏe và các điều kiện khác cho phép. Để làm được điều này thì
đội ngũ giảng viên của trường (đặc biệt là các giảng viên cơ hữu). Nếu giảng viên không
am hiểu chính xác về đào tạo theo hình thức tín chỉ thì sẽ không thể cải thiện được chất
lượng đào tạo trong thời gian tới. Do đó, việc giảng viên hiểu rõ vấn đề về hình thức đào
tạo theo tín chỉ từ đó họ sẽ tự chủ động thay đổi các phương pháp dạy học theo hình thức
tín chỉ hiệu quả nhất nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo cho trường trong thời gian tới.
2.3.5 Các giải pháp khác
a) Giải pháp duy trì khả năng tự học thông qua việc thực hiện bài tập
Để thực hiện được giải pháp này thì giảng viên cần phải xây dựng được một hệ
thống bài tập hợp lý cho từng học phần. Trong đó, mỗi loại bài tập sẽ hướng đến một mục
tiêu cụ thể phù hợp với các công việc của nghề nghiệp trong tương lai mà các bạn sinh
viên sẽ thực hiện thông qua đó các bạn sinh viên sẽ tự rèn luyện được năng lực bản thân
của mình. Bên cạnh đó, từ kết quả nghiên cứu cho ta thấy, việc thực hiện càng nhiều bài
tập nhóm thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quỹ thời gian tự học của các bạn sinh viên. Vì vậy,
việc xây dựng các bài tập sẽ là tiền đề cho các bạn sinh viên rèn luyện kỹ năng cũng như
là những kinh nghiệm trong quá trình tự học từ đó giúp các bạn sinh viên có nhận thức tốt
hơn trong vấn đề tự học nhằm cải thiện kết quả học tập trong tương lai.
b) Giải pháp về rèn luyện các kỹ năng đọc sách và tài liệu tham khảo cho sinh
viên
Việc rèn luyện các kỹ năng đọc sách và tài liệu tham khảo sẽ giúp cho các bạn
sinh viên hoàn thiện, khắc sâu và mở rộng thêm kiến thức mà mình đã được tiếp thu. Do
đó, để các bạn sinh viên có thể đọc sách và tài liệu tham khảo một cách hiệu quả thì cần
phải thực hiện các bước sau: (1) Cần phải xác định rõ ràng mục đích là “đọc cái gì?” “đọc
để làm gì?”; (2) Các bạn sinh viên cần phải chọn lựa sách sao cho phù hợp, đảm bảo
đúng nội dung mình cần nghiên cứu và lựa chọn tài liệu thông qua kênh nào là phù hợp
nhất?; (3) Các bạn sinh viên cần phải xác định chính xác các phương pháp đọc sách phù
hợp nhất như: đọc mục lục, lời giới thiệu để hiểu sơ lược về cuốn sách, đọc lướt qua, đọc
có trọng điểm, đọc kỹ những nội dung cơ bản của cuốn sách để làm cơ sở nhận xét, đánh
giá về nội dung và kết cấu của cuốn sách; (4) Các bạn sinh viên nên tích cực suy nghĩ
phải xác định mục tiêu học tập rõ ràng từ đó kiên trì theo đổi mục tiêu đến cùng. Kèm
theo đó, là việc lập một kế hoạch tự học đầy đủ và chi tiết cho tất cả các môn học trong
học kỳ ngay từ đầu khóa học. Tuy nhiên, các bạn sinh viên cũng nên chú ý đến vấn đề
thời gian, chi phí, không gian và điều kiện bản thân. Cuối cùng, các bạn sinh viên cũng
nên học tập những kinh nghiệm từ anh chị, bạn bè, thầy cô, người thân, … từ đó sẽ giúp
cho các bạn sinh viên tăng cường thêm những kiến thức và rèn luyện được kỹ năng tự
học của mình trong tương lai.
3.1.2 Đối với Trường Đại học Cửu Long
Nhà trường nên có những hướng điều chỉnh về phương thức đào tạo sao cho phù
hợp với xu thế phát triển của trường, đặc biệt là đối với đội ngũ giảng viên cơ hữu của
trường trong công tác giảng dạy. Bên cạnh đó, nhà trường nên mở ra các khóa tập huấn
về phương pháp tự học, các kỹ năng lập kế hoạch, các buổi tọa đàm nhằm giúp các bạn
sinh viên thiết lập mục tiêu và quản lý thời gian một cách tốt nhất.
Cán bộ giảng viên nên lồng ghép các chương trình giảng dạy với việc kết nối bài tập
thực tế để các bạn sinh viên tự mài mò nghiên cứu từ đó cải thiện được thời gian tự học của
các bạn sinh viên.
Cuối cùng, nhà trường nên quan tâm hơn về các điều kiện cơ sở vật chất phục vụ
cho việc tự học của các bạn sinh viên. Đặc biệt, là việc trang bị các tài liệu, sách giáo
khoa ở thư viện trường đảm bảo về số lượng và chủng loại các loại sách để đáp ứng được
yêu cầu tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu khi cần của các bạn sinh viên.
3.1.3 Đối với Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên
Đoàn Thanh niên, Hội sinh viên nên phổ biến sâu rộng tầm quan trọng của việc tự
học đến với các bạn sinh viên nhằm giúp các bạn sinh viên cải thiện kết quả học tập theo
hướng tốt nhất.
Bên cạnh đó, Đoàn Thanh niên và Hội sinh viên nên có những buổi thảo luận, trao
đổi với các bạn sinh viên về kỹ năng tự học, phương pháp học, cách thức xác định mục
tiêu, … từ đó sẽ giúp cho các bạn sinh viên có thể cải thiện được việc tự học của mình
trong thời gian tới theo hướng tốt nhất.
3.2 Kết luận
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài thì nhóm tác giả đã chấp nhận 2 giả thuyết
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trịnh Thế Anh (2013), Đánh giá năng lực tự học của sinh viên các ngành sư phạm
được đào tạo theo học tín chỉ tại trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, luận văn Thạc
sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội.
2. Lê Đình (2003), Cơ sở khoa học của việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu
cho sinh viên sư phạm ngành Vật lý, Đề tài khoa học công nghệ cấp Bộ, Mã số
B2004.09.07, Trường Đại học Sư phạm Huế.
3. Nguyễn Hữu Đặng và ctv (2014), Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thời
gian tự học của sinh viên khoa kinh tế Đại học Cần Thơ, đề tài nghiên cứu khoa
học cấp Trường, Đại học Cần Thơ.
4. Nguyễn Hồ Anh Khoa (2007), Đánh giá sự ảnh hưởng của việc sử dụng quỹ thời
gian đến kết quả học tập của sinh viên khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, Đại
học Cần Thơ, đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, trường Đại học Cần Thơ.
5. Mai Văn Nam (2008), Giáo trình Kinh tế lượng (Econometrics), Nhà xuất bản Văn
hóa Thông tin.
6. Chu Nguyễn Mộng Ngọc, Hoàng Trọng (2008), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với
SPSS, NXB Thống kê.
7. Dương Thị Minh Thu, Nguyễn Hoàng Minh, Lê Trường Khanh và Nguyễn Thị
Kim Ngân (2014), Đánh giá sự tác động từ việc làm thêm đến kết quả học tập của
sinh viên trường Đại học Cửu Long, Tạp chí Khoa học, Đại học Cửu Long.