1. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi lợn là một trong những ngành sản xuất quan trọng của nền kinh
tế quốc dân, nó không những đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng hàng
ngày của mọi người dân trong xã hội mà còn là nguồn thu nhập quan trọng của
hàng triệu người dân hiện nay. Do vậy, phát triển chăn nuôi là góp phần vào sự
phát triển của nền nông nghiệp nói riêng, nền kinh tế nước ta nói chung.
Chăn nuôi lợn nói chung và chăn nuôi lợn thịt nói riêng đã có từ rất lâu.
Thực tế nước ta cho thấy, đâu đâu cũng nuôi lợn, từ vùng thấp đến vùng cao,
từ đồng bằng đến trung du miền núi. Trước đây, hầu hết các hộ gia đình đều
chăn nuôi lợn ở quy mô nhỏ để giải quyết nhiều mục đích như cung cấp phân
bón cho trồng trọt, tận dụng phụ phẩm của trồng trọt, tận dụng lao động nông
nhàn, đồng thời góp phần nâng cao thu nhập. Ngày nay, quy mô đàn lợn đã được
mở rộng, năng suất và chất lượng thịt cũng đã được cải thiện. Điều đó là do sự
phát triển của nền kinh tế thị trường, dân số tăng và thu nhập của người dân cũng
tăng, nên nhu cầu về tiêu dùng thịt lợn của người dân tăng lên rõ rệt.
Ý Yên là một huyện nông nghiệp của tỉnh Nam Định, với vị trí địa lý
thuận lợi, nằm giữa trung tâm kinh tế - chính trị của 3 tỉnh là Nam Định, Ninh
Bình và Hà Nam – đây là thị trường tiêu thụ lợn thịt đầy tiềm năng. Đồng thời
với dân số đông, tỷ lệ lao động thiếu việc làm lớn, diện tích đất nông nghiệp
nhiều, nguồn nguyên liệu tại chỗ để chế biến thức ăn gia súc như gạo, ngô, đậu
tương,... dồi dào. Đây chính là những điều kiện cho thấy phát triển chăn nuôi lợn
là một hướng đi đúng đắn. Từ đó góp phần khai thác thế mạnh của vùng, góp
phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cũng như mức sống cho người dân.
Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn ở Ý Yên nói riêng, ở Nam
Định nói chung đã có những chuyển biến căn bản. Quy mô chăn nuôi lợn của
hộ ngày càng lớn làm tăng số đầu con chăn nuôi và sản lượng chăn nuôi.
1
Chăn nuôi lợn của hộ theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa và sản xuất
Để đạt được mục tiêu chung đề ra, đề tài hướng tới giải quyết các mục
tiêu cụ thể sau:
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận về lợi ích kinh tế, tác nhân tham
gia sản xuất và tiêu thụ, kênh tiêu thụ.
- Đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ lợn thịt, lợi ích kinh tế của
các tác nhân tham gia sản xuất tiêu thụ lợn thịt tại huyện Ý Yên, tìm ra những
thuận lợi, khó khăn của từng tác nhân trong quá trình sản xuất và tiêu thụ lợn thịt.
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu khả thi nhằm nâng cao lợi ích kinh tế
của các tác nhân trong quá trình sản xuất và tiêu thụ lợn thịt, góp phần phát
triển chăn nuôi lợn trên địa bàn Huyện.
1.3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu lợi ích kinh tế của các tác nhân tham
gia sản xuất và tiêu thụ lợn thịt tại địa bàn huyện Ý Yên. Đó là người sản
xuất (Hộ chăn nuôi), thương lái, người giết mổ lợn.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về lợi ích kinh tế của các tác nhân
tham gia sản xuất và tiêu thụ lợn thịt trên địa bàn huyện Ý Yên.
- Về không gian: Đề tài được triển khai trên địa bàn toàn Huyện, trong
đó khảo sát một số nội dung tại 3 xã Yên Lộc, Yên Hồng và Yên Lợi.
Trên thực tế lợn thịt ở huyện Ý Yên có thể được tiêu thụ tại thị trường
khác như: Ninh Bình, Hà Nam, … Nhưng do hạn chế về thời gian và những
khó khăn khách quan, đề tài chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu, nghiên cứu các hộ
chăn nuôi, buôn bán, giết mổ lợn thịt trên địa bàn Huyện mà chưa nghiên cứu
được đối tượng ở ngoài địa bàn Huyện.
- Về thời gian: Đề tài thu thập số liệu thứ cấp tại địa phương trong thời
gian từ năm 2006 - 2008. Tập trung điều tra tình hình sản xuất và tiêu thụ lợn
thịt của các tác nhân của năm 2008.
3
+ Phân loại một cách khái quát nhất: Hệ thống lợi ích kinh tế được chia
thành lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội.
+ Dưới góc độ các thành phần kinh tế: có lợi ích kinh tế tương ứng với
các thành phần kinh tế đó.
+ Dưới góc độ các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội có lợi ích kinh
tế của người sản xuất, người phân phối, người trao đổi, người tiêu dùng.
Dù cách phân chia có thể khác nhau nhưng các lợi ích kinh tế bao giờ cũng
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau.
Mặt thống nhất thể hiện ở chỗ chúng cùng đồng thời tồn tại trong một
hệ thống trong đó lợi ích kinh tế này là tiền đề, là cơ sở của lợi ích kinh tế kia.
Chẳng hạn có lợi ích của người sản xuất thì mới có lợi ích của người trao đổi,
người tiêu dùng và ngược lại.
Mặt mâu thuẫn biểu hiện ở sự tách biệt nhất định giữa các lợi ích kinh
tế đó dẫn đến xu hướng lấn át của lợi ích kinh tế này đối với lợi ích kinh tế
khác. Do đó, nó có thể gây nên những xung đột nhất định, ảnh hưởng tiêu cực
đến các hoạt động kinh tế - xã hội.Trong các xã hội có đối kháng giai cấp thì
lợi ích kinh tế cũng mang tính đối kháng. Do đó, nó dẫn đến cuộc đấu tranh
không khoan nhượng giữa các giai cấp.
Trên thực tế, lợi ích kinh tế thường được biểu hiện ở các hình thức thu
nhập như tiền lương, tiền công, lợi nhuận, địa tô, thuế,…
2.1.1.3. Vai trò của lợi ích kinh tế
Trong hệ thống lợi ích của con người nói chung bao gồm lợi ích kinh
tế, chính trị, văn hóa tư tưởng…, thì lợi ích kinh tế giữ vai trò quyết định nhất,
chi phối các lợi ích khác. Bởi vì, nó gắn liền với nhu cầu vật chất, nhằm đaớ
ứng nhu cầu vật chất – là nhu cầu đầu tiên, cơ bản nhất cho sự tồn tại và phát
triển của con người, của xã hội. Đồng thời, khi lợi ích kinh tế được thực hiện
thì nó cũng tạo cơ sở, tiền đề để thực hiện các lợi ích khác. Đời sống vật chất
5
Mặt mâu thuẫn giữa ba lợi ích kinh tế thể hiện ở sự tách biệt nhất định giữa
chúng, do đó nếu dành quá nhiều cho lợi ích này thì lợi ích kia sẽ bị vi phạm.
Để phát huy tối đa tính tích cực của người lao động thì không phải chỉ
chú trọng đến lợi ích kinh tế mà cần phải phát huy vai trò của các lợi ích khác
như lợi ích chính trị, lợi ích tinh thần.
Mọi lợi ích kinh tế được thực hiện thông qua hệ thống quan hệ phân phối.
2.1.2. Các tác nhân trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
2.1.2.1. Khái niệm:
Quá trình vận hành của một sản phẩm từ khâu đầu tiên đến khâu cuối
cùng thực hiện được là nhờ các “tác nhân”. Có thể nói, các tác nhân chính là
các “mắt xích” quan trọng trong bất cứ một kênh tiêu thụ sản phẩm nào.
Thông qua các mắt xích ấy, luồng hàng vật chất được vận chuyển nhịp nhàng
để đến được tới tận tay của người tiêu dùng sản phẩm cuối cùng. Trong kênh
tiêu thụ sản phẩm, mắt xích đầu tiên và mắt xích cuối cùng là hai mắt xích đặc
biệt bởi xét cho đến cùng thì mục đích của quá trình tiêu thụ chính là làm cách
nào để có thể vận chuyển sản phẩm từ mắt xích đầu tiên đến mắt xích cuối
cùng. Các mắt xích kết nối giữa hai đầu mắt xích này còn được gọi bằng một
tên khác là “trung gian”- đây cũng là một mắt xích rất quan trọng trong một
kênh tiêu thụ. Số lượng các trung gian sẽ quyết định độ dài, ngắn của kênh
tiêu thụ.
2.1.2.2. Đặc điểm về các tác nhân kênh:
Các tác nhân của kênh tiêu thụ chính là các thành viên tham gia trong kênh.
Như vậy, trong kênh tiêu thụ sản phẩm, có 3 tác nhân cơ bản đó là:
(1) Người sản xuất
(2) Người trung gian
(3) Người tiêu dùng
a. Người sản xuất:
7
đại diện bán buôn của người sản xuất cũng hoạt động như người bán buôn và
cung cấp các sản phẩm được đặt hàng từ những người sản xuất khác.
Trung gian bán lẻ: Là những trung gian bán hàng hóa và dịch vụ trực
tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng trực tiếp vào mục đích cá
nhân, không kinh doanh. Có một số kiểu người bán lẻ chủ yếu như sau:
- Cửa hàng bán lẻ
- Siêu thị
- Bán lẻ trực tiếp
- Tổ chức bán lẻ (HTX tiêu thụ...)
c. Người tiêu dùng:
Là người sử dụng những sản phẩm do người sản xuất tạo ra nhằm thỏa
mãn nhu cầu trong cuộc sống của bản thân.
Mỗi một tác nhân trong kênh tiêu thụ có một chức năng riêng, thực
hiện một nội dung công việc riêng. Thông thường nội dung công việc trùng
với tên của tác nhân trong kênh tiêu thụ. Tuy nhiên, có thể có tác nhân có một
hoặc một vài chức năng. Các chức năng này thường phụ thuộc vào tính chất
sản xuất, sự hoàn thiện của sản phẩm của luồng hàng vật chất trong kênh. Mỗi
một hoạt động của các tác nhân trong kênh đều có quan hệ mật thiết với nhau.
Kết quả hoạt động của các tác nhân tốt hay chưa tốt đều có ảnh hưởng đến kết
quả hoạt động của các tác nhân khác.
2.1.3. Kênh tiêu thụ sản phẩm
2.1.3.1. Kênh tiêu thụ là gi?
Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về kênh tiêu thụ. Một số người
cho rằng kênh tiêu thụ có thể được coi là con đường đi của sản phẩm từ người
sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng, nó cũng được coi như một dòng
chuyển quyển sở hữu các hàng hóa khi chúng được mua bán qua các thành
viên khác nhau. Một số người khác lại mô tả kênh tiêu thụ là các hình thức
9
thành viên tham gia phân phối. Lượng sản phẩm chuyển tải qua từng kênh
riêng biệt sẽ hình thành nên mạng lưới kênh tiêu thụ (hoặc kênh phân phối).
Xu thế thị trường hóa một cách tối ưu đã thúc đẩy sự phối hợp hoạt
động marketing trong hệ thống tiêu thụ. Để điều hành một cách có hiệu quả
cho cả hệ thống thì việc thiết lập một cơ chế điều hành thích hợp với chính
sách marketing chung của hệ thống tiêu thụ là cần thiết.[11, trang 24-25].
Như vậy, tiêu thụ lợn thịt gồm có:
a, Tiêu thụ lợn thịt (lợn hơi) của người chăn nuôi lợn và của thương lái
mua lợn hơi từ người nông dân vận chuyển tập trung để bán lại (tiêu thụ) cho
Tư nhân giết mổ và cho những đối tượng khác.
b, Tiêu thụ thịt lợn là việc của lò mổ sau khi giết mổ, phân phối thịt lợn
sẽ đến người bán lẻ để họ bán cho người tiêu dùng.[4, trang 96-99]
2.1.3.2. Đặc điểm kênh tiêu thụ
Để có kênh tiêu thụ trước tiên phải có nhà sản xuất, tức là phải có
người tạo ra sản phẩm đầu tiên. Kế đến là các trung gian với các quy trình sản
xuất đã tạo ra các sản phẩm khác nhau. Vì thế việc hình thành kênh tiêu thụ
rất khác nhau cả về thời gian lẫn luồng sản phẩm.
Sau khi xuất kho từ nhà sản xuất, tùy theo từng ngành hàng qua các
khâu lưu thông – phân phối trong hệ thống kênh tiêu thụ, hình dáng, kích
thước và mẫu mã của sản phẩm không thay đổi một cách khác nhau.
Giá trị sản phẩm của từng mắt xích phụ thuộc khá nhiều vào qui trình
công nghệ sản xuất, phương pháp chế biến ra sản phẩm theo yêu cầu của
người tiêu dùng cuối cùng.[10, trang 36-37].
2.1.3.3. Vai trò, chức năng kênh tiêu thụ
a. Vai trò của kênh tiêu thụ
Bất kỳ nhà sản xuất nào cũng thiết lập mạng lưới tiêu thụ sản phẩm đến
người tiêu dùng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các trung gian,
11
Người sản xuất
Trung gian
Người sản xuất
Người tiêu dùng
Người tiêu dùng
Sơ đồ 2. 2: Người sản xuất tiếp xúc với người tiêu dùng qua trung gian.
12
Như vậy, thông qua kênh tiêu thụ có trung gian, người sản xuất giảm
được đầu tư về tiền bạc và nhân lực mà sản phẩm vẫn đến được tay người tiêu
dung. Mặt khác, người tiêu dùng được tiếp xúc nhiều chủng loại sản phẩm.
b. Chức năng kênh tiêu thụ
Các chức năng cơ bản của kênh tiêu thụ là mua, bán, vận chuyển, lưu
kho, tiêu chuẩn hóa và phân loại, cung cấp tài chính, quản lý rủi ro, thông tin
thị trường. Các chức năng này được thực hiện như thế nào và do ai làm? Điều
này có thể rất khác nhau giữa các quốc gia, các hệ thống kinh tế và chúng cần
được thực hiện qua hệ thống tiêu thụ.
Sự trao đổi thường liên quan đến mua và bán. Chức nằng mua có nghĩa
là tìm kiếm và đánh giá giá trị của các hàng hóa và dịch vụ. Chức năng bán
liên quan đến xúc tiến sản phẩm, bao gồm việc bán hàng hóa cá nhân, quảng
cáo và các phương pháp tiêu thụ.
Chức năng vận chuyển có nghĩa là chuyển hàng hóa từ nơi này đến nơi khác.
Chức năng lưu kho liên quan đến dự trữ hàng hóa cho đến khi có nhu
cầu thị trường
của kênh tiêu thụ.
Vấn đề đặt ra là phải phân chia hợp lý các chức năng này giữa các
thành viên kênh. Nguyên tắc để phân chia các chức năng là phải chuyên môn
hóa và phân công lao động. Nếu nhà sản xuất thực hiện các chức năng này thì
chi phí sẽ tăng và giá cả sẽ cao hơn. Khi một số chức năng được chuyển cho
người trung gian thì chi phí hoạt động của người trung gian sẽ cao hơn.
2.1.3.4. Các luồng trong kênh tiêu thụ
Hệ thống kênh tiêu thụ hoạt động thông qua các luồng. Khi hệ thống
kênh tiêu thụ hình thành và phát triển sẽ có nhiều luồng xuất hiện trong nó.
Những luồng này thể hiện sự kết nối, ràng buộc các thành viên trong kênh và
các tổ chức khác trong phân phối hàng hóa, dịch vụ. Sở dĩ dùng từ “luồng” là
vì các hoạt động phân phối trong kênh tiêu thụ là một quá trình vận động liên
14
tục, không ngừng. Mỗi luồng là một tập hợp các chức năng được thực hiện
thường xuyên bởi các thành viên của kênh.[1, trang 27].
- Luồng sản phẩm (luồng vận hành của sản phẩm về mặt vật chất)
Về mặt vật chất, luồng sản phẩm thể hiện sự di chuyển thực sự của sản
phẩm về không gian và thời gian qua tất cả các thành viên tham gia vào quá trình
di chuyển sản phẩm từ địa điểm sản xuất đến địa điểm tiêu dùng cuối cùng.
- Luồng đàm phán:
Biểu hiện sự tác động qua lại lẫn nhau của các bên mua và bán liên
quan đến quyền sở hữu sản phẩm. Đây là dòng tác động hai chiều, chỉ rõ đàm
phán liên quan đến sự trao đổi song phương giữa người mua và người bán ở
tất cả các cấp độ của kênh.
Các luồng trong kênh tiêu thụ sản phẩm được thể hiện qua sơ đồ 2.3:
Luồng
sản phẩm
Người BB
Người BB
Người BB
Người BB
Người BL
Người BL
Người BL
Người BL
Người BL
Người TD
Người TD
Người TD
Người TD
Người TD
Sơ đồ 2.3: Các luồng trong kênh tiêu thụ sản phẩm [1, trang 12].
- Luồng sở hữu (luồng chuyển quyền sở hữu)
Một số quan hệ xung đột kênh và hiệu quả hoạt động của kênh được
các nhà kinh tế nghiên cứu. Một số phân tích cho rằng, xung đột trong kênh
thường có ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của kênh, có thể đe dọa đến sự
tồn tại của kênh. Một số khác lại nhấn mạnh tác động tích cực của xung đột.
Có các loại ảnh hưởng sau đây của xung đột đến hiệu quả kênh:
Một là, sự tồn tại xung đột không làm thay đổi hiệu quả của kênh. Ảnh
hưởng của xung đột khối lượng đầu vào cần thiết để đạt được các mục tiêu
tiêu thụ là không lớn. Loại quan hệ này tồn tại trong các kênh mà trong đó có
phụ thuộc và hợp tác cao giữa các thành viên trong kênh. Tất cả họ đều nhận
thức được sự cần thiết của quan hệ của họ và những người khác và họ không
để cho các xung đột ảnh hưởng đến hiệu quả của kênh.
Hai là, sự xung đột coi như là nguyên nhân tăng hiệu quả của kênh.
Đây là xung đột có thể gây ra sức ép đến một hoặc hai bên thành viên kênh
làm thay đổi chính sách của họ, dẫn đến hoạt động của kênh có hiệu quả.
Ba là, xung đột gây ảnh hưởng tiêu cực làm giảm hiệu quả hoạt động
kênh. Điều này xảy ra khi các bên xung đột không còn muốn làm việc để đạt
mục tiêu chung của kênh nữa.[1, trang 77-79].
2.1.3.6. Kênh tiêu thụ sản phẩm lợn thịt
Đối với sản phẩm lợn thịt, kênh tiêu thụ lợn thịt được xem là đường đi
của sản phẩm từ khi lợn thịt xuất chuồng tại người chăn nuôi lợn thịt, qua
hoạt động của các thành viên trung gian tham gia phân phối (như thương lái)
đến người tiêu dùng sản phẩm lợn thịt là tư nhân giết mổ,...
- Đặc điểm:
+ Phần lớn lợn thịt là do những hộ gia đình nông dân chăn nuôi ( những
người chăn nuôi phân tán) và trang trại chăn nuôi lợn thịt tạo ra, nên việc tổ
chức tiêu thụ hết sức phức tạp (phải trải qua nhiều khâu như thu gom, vận
chuyển với phương tiện khác nhau từ thô sơ đến cơ giới, từ những địa phương
17
Luồng này cung cấp thông tin (từ người chăn nuôi đến các thành viên
tiêu thụ) về số lượng lợn thịt, trọng lượng lợn thịt, giá cả mà các bên có thể
chấp nhận được, địa điểm mua bán hàng, chất lượng của lợn, thời gian có thể
giao hàng... Vai trò của vận tải và liên lạc xuất hiện ở luồng này.
+ Luồng xúc tiến
Luồng này thể hiện sự hỗ trợ về thông tin sản phẩm lợn thịt của người
chăn nuôi cho tất cả các trung gian trong kênh tiêu thụ dưới các hình thức:
quảng cáo, xúc tiến bán và quan hệ công chúng... nhằm làm cho người tiêu
thụ hiểu được sản phẩm lợn thịt mà người chăn nuôi muốn bán như giống lợn,
thời gian nuôi, phương thức nuôi...
2.1.4. Chuỗi giá trị
a. Khái niệm [6, trang 18]
Một chuỗi giá trị là:
- Một loạt các hoạt động kinh doanh (hay chức năng) có quan hệ với
nhau, từ việc cung cấp các đầu vào cụ thể cho một sản phẩm nào đó, đếm sơ
chế, chuyển đổi, marketing, đến việc cuối cùng là bán sản phẩm đó cho người
tiêu dùng (đây là quan điểm theo chức năng đối với chuỗi giá trị).
- Là mộ loạt các doanh nghiệp (nhà vận hành) thực hiện các chức năng
này, có nghĩa là nhà sản xuất, nhà chế biến, nhà buôn bán và nhà phân phối
một sản phẩm cụ thể nào đó. Các doanh nghiệp kết nối với nhau bằng một
loạt các giao dịch kinh doanh trong đó sản phẩm được chuyển từ nhà sản xuất
sơ chế đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Theo thức tự các chức năng và các
nhà vận hành, chuỗi giá trị sẽ bao gồm một loạt các đường dẫn trong chuỗi
(hay còn gọi là khâu).
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Tình hình phát triển chăn nuôi lợn trên thế giới
19
2005, Công ty Topigs của nước này thông báo tỉ lệ lợn con cai sữa trung
bình/nái/năm tăng từ 24 con lên 25 con chỉ sau 5 năm; tỉ lệ lợn sơ sinh sống
sót trung bình là 12,1 /lứa đẻ; tỉ lệ chết trước cai sữa trung bình là 11,8%; và
số lứa để trung bình là 2,36/nái/năm. Các đàn lợn nái tốt nhất chiếm 10%,
sinh trung bình 27,9 con/nái/năm, trong đó có 12,7 con sống sót/lứa, tỉ lệ lợn
con chết trung bình là 9,8 %, đạt số lứa đẻ trung bình là 2.34 lứa/nái/năm.
d. Trung Quốc
Ở Châu Á, Trung Quốc đứng thứ nhất về sản xuất thịt lợn và đứng thứ
4 về sản xuất thịt bò trên thế giới. Nước này là một thị trường nhập khẩu lớn
cả thịt lợn và thịt bò. Tổng đàn lợn của Trung Quốc tăng từ 545 triệu con năm
2005 lên 719 con vào tháng 1 năm 2008, tăng trưởng bình quân 4,2% năm.
Trung Quốc đạt tổng sản lượng 51 triệu tấn thịt lợn xẻ vào năm 2006 tăng
21,43% so với năm 2001, chiếm 53% tổng lượng thịt lợn trên thế Giới. Tỉ lệ
lợn nái ở Trung Quốc chiếm 9,80% tổng đàn lợn năm 2005. ở Trung Quốc,
chăn nuôi qui mô nhỏ, với số lượng dưới 90 con/cơ sở, chiếm tới 70-80%.
Chuyển dịch nhanh, mạnh và vững chắc từ chăn nuôi nhỏ sang chăn nuôi bán
công nghiệp và công nghiệp là ưu tiên hàng đầu trong chính sách chăn nuôi
lợn của nước này. Là nước đứng đầu về chăn nuôi lợn nhưng Trung Quốc
cũng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng nội địa tăng nhanh. Hoa Kỳ là
nước xuất khẩu hàng đầu thịt lợn vào Trung Quốc, tuy nhiên thịt lợn nhập
khẩu chỉ chiếm từ 2-3% nhu cầu tiêu dùng thịt lợn của nước này. Vì vậy,
Trung quốc sẽ trở thành nước nhập khẩu thịt lợn và các sản phẩm chăn nuôi
khác lớn nhất trong những năm tới để đáp ứng như cầu trong nước do tăng
dân số, thu nhập và tốc độ đô thị hoá cao. Hiện nay lợn hướng nạc chiếm
khoảng 25-30% tổng đàn lợn đưa vào giết mổ. Trung bình mỗi nái để 1,7l
lứa/năm với tỉ lệ sống sót chỉ có 70-85%, trong khi đó ở Hoa Kỳ tỉ lệ trung
bình là 2,3 lứa/nái/năm và tỉ lệ sống sót là 95%.
21
24,8 triệu con và đứng thứ 8 trên thế giới về số lượng đầu lợn (sau Trung Quốc,
Mỹ, Braxin, Cộng hòa Liên bang Đức, Tây Ban Nha, Pháp và Ba Lan). Trong
tổng đàn lợn thì đàn lợn nái là 2,8 triệu con - chiếm 13,2%. Các tỉnh phía Bắc có
1,3 triệu con lợn nái - chiếm 46,4% số lợn nái cả nước. Tuy nhiên số lượng lợn
nái ngoại còn quá ít, mới chiếm khoảng 1,3% tổng đàn lợn nái; còn lại chủ yếu
là nái Móng Cái, nái Lai năng suất thấp. Sản lượng thịt lợn hơi năm 2001 của cả
nước đã đạt 1,5 triêu tấn, tăng gần 0,5 triệu tấn so với năm 1995 và chiếm
khoảng 76% tổng sản lượng thịt hơi các loại. Nếu như tốc độ tăng trưởng đàn
lợn từ năm 1995 đến năm 2001 bình quân là 5,0%/năm, thì tốc độ tăng trưởng
thịt lợn hơi là 8,2%/năm. Điều đó chứng tỏ chất lượng đàn lợn và trọng lượng
thịt hơi trên đầu lợn đã được quan tâm chú ý và tăng lên đáng kể. Tuy nhiên,
bình quân sản lượng thịt hơi các loại của nước ta còn quá thấp (năm 2000 là 23
kg/người, trong đó thịt lợn hơi là 17,6 kg) và so với các nước trong khu vực
Đông Nam Á thì vẫn còn thấp (Trung Quốc là 34,1 kg thịt xẻ/người, Đài Loan 38 kg/người. Hồng Kông - 55 kg/người, Thái Lan - 30 kg/người...). [20]
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ đổi mới, ngành chăn
nuôi nói chung và chăn nuôi lợn thịt nói riêng đã đạt được những kết quả
đáng kể. Theo Tạp chí Chăn nuôi gia súc quốc tế (năm 2007), Việt Nam đứng
vị trí thư 5 của 10 nước có số đầu lợn cao nhất thế giới sau Trung Quốc, Mỹ,
Brazin, Cộng hòa Liên bang Đức, Pháp.
- Tiêu thụ trong nước
Trong thời gian qua sản lượng thịt lợn sản xuất trong nước có sự tăng trưởng
rất lớn, từ 1,5 triệu tấn năm 2001 tăng lên 2,28 triệu tấn năm 2005, đạt khoảng 19
kg thịt hơi/ người (15,3 kg thịt xẻ/người) năm 2001 và 28 kg thịt hơi/người (19,6 kg
thịt xẻ/người) năm 2005. Tuy nhiên phần lớn khối lượng sản phẩm sản xuất vẫn
chủ yếu được tiêu thụ trong thị trường nôi địa (từ 98 – 99%) [20].
23
(ng.tấn)
(USD/kg)
Năm 2007
Giá
SL
(USD/kg
(ng.tấn)
)
Tổng
18.000
-
21.000
-
14.000
-
Thịt lợn mảnh
-
-
2,27
1,2
22,9
(Nguồn: Báo cáo cục thống kê năm 2007)
24
Ghi chú: Thị trường xuất khẩu lợn sữa, lợn choai là Hồng Kông, Đài
Loan; thịt lợn mảnh là Liên Bang Nga [22]
Tóm lại, tình hình tiêu thụ thịt lợn của chúng ta hiện nay vẫn chủ yếu là thị
trường trong nước; giá tiêu thụ thịt lợn tại thị trường trong nước thường cao hơn
so với các nước trong khu vực, điều này cũng là cơ hội thúc đẩy phát triển chăn
nuôi lợn, nhưng lại khó khăn cho việc cạnh tranh với thị trường xuất khẩu
* Tình hình phát triển chăn nuôi lợn ở huyện Ý Yên
Đối với Huyện Ý Yên trong vài ba năm trở lại đây chịu ảnh hưởng
nặng nề của dịch bệnh lở mồn long móng, lợn tai xanh cộng thêm vào đó là giá
thức ăn chăn nuôi tăng quá cao khiến nhiều hộ chăn nuôi giảm số lượng đầu lợn.
Do đó từ năm 2006- 2008 số đầu lợn của Huyện không những không tăng mà còn
giảm, năm 2006 là 120.504 con, đến năm 2008 chỉ còn 111.056 con.
Về phương thức chăn nuôi: đàn lợn vẫn được nuôi chủ yếu theo
phương thức bán thâm canh trong nông hộ (85- 90%) với quy mô nhỏ (3 -5
con/hộ), số hộ nuôi quy mô lớn hơn từ 6 con trở lên chiếm 3%. Một tỷ lệ nhỏ
đàn lợn (5- 10%) được nuôi trong các trang trại (50 – 150 con) theo phương
thức thâm canh (công nghiệp). Lợn vẫn là nguồn cung cấp thịt chính (75%
tổng lượng thịt các loại) và tiêu thụ trong nước là chủ yếu.