ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÂY CA CAO TRONG
MÔ HÌNH TRỒNG XEN VỚI CÂY ĂN TRÁI TẠI
HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
MỤC LỤC
Trang
Danh mục các chữ viết tắt viii
Danh mục các bảng x
Danh mục các hình xii
Danh mục phụ lục xiii
CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU 1
1.1.Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1.Mục tiêu chung 2
1.2.2. Mục tiêu cụ thể 3
1.3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
1.4. Cấu trúc khoá luận 3
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN 5
2.1. Quá trình hình thành cây Ca Cao ở Việt Nam 5
2.2. Giới thiệu chung về huyện Châu Thành - tỉnh Bến Tre 6
2.2.1. Điều kiện tự nhiên 6
2.2.1.1. Vị trí địa lí 6
2.2.1.2. Địa mạo, địa hình, địa chất 7
2.2.1.3. Tài nguyên đất đai, thổ nhưỡng 7
2.2.1.4. Thời tiết, khí hậu 8
2.2.1.5. Thuỷ văn 9
2.2.1.6. Tài nguyên khoáng sản 10
2.2.1.7. Tài nguyên sinh vật .10
2.2.2. Tình hình đất đai của huyện Châu Thành .11
2.2.2.1. Hiện trạng sử dụng đất đai của huyện biến
4.5.1. Chi phí kiến thiết cơ bản 39
4.5.2. Chi phí cho kỳ kinh doanh của ca cao 41
4.6. Kết quả hiệu quả kinh tế của ca cao 43
4.7. Phân tích độ nhạy của lợi nhuận và thu nhập ảnh hưởng
bởi giá và năng suất của hai giống ca cao 45
4.8. Đánh giá hiệu quả đầu tư một cao 46
4.9. Ngân lưu cây ca cao 48
4.9.1. Năng suất bình quân của cây ca cao lai 48
4.9.2.Năng suất bình quân của cây ca cao ghép 50
4.10. So sánh hiệu quả của hai giống ca cao 52
4.11. Đánh giá hiệu quả kinh tế của cây dâu 53
4.12. So sánh hiệu quả của cây ca cao với cây dâu 55
4.13. Kỹ thuật trồng và chăm sóc ca cao tại địa phương 55
4.13.1. Quy cách và mật độ trồng ca cao 55
4.13.2. Kỹ Thuật bón phân và Thuốc BVTV cho
cây ca cao tại địa phương 55
4.14. Các kênh tiêu thụ ca cao 58
4.15. Tìm hiểu xu hướng của các hộ đang trồng ca cao 60
4.16. Những khó khăn người dân gặp phải khi canh tác ca cao và
những giải pháp đề xuất cho tình hình canh tác ca cao của huyện 61
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .65
5.1. Kết luận 65
5.2. Kiến nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nôn thôn.
UBND: Ủy ban nhân dân
ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu Long
SXNN : Sản xuất nông nghiệp
của ca cao lai khi năng suất và giá giảm 45
Bảng 4.10. Độ nhạy của lợi nhuận ảnh hưởng bởi giá và năng suất
của ca cao ghép khi giá và năng suất giảm 46
Bảng 4.11. Bảng ngân lưu ca cao lai 49
Bảng 4.12. Ngân lưu ca cao ghép 51
Bảng 4.13. So sánh hiệu quả của hai giống ca cao 52
vớt suất chiết khấu r = 40,7%
Bảng 4.14. So sánh hiệu quả của hai giống ca cao với
suất chiết khấu r = 45,2% 52
Bảng 4.15. Ngân lưu cây dâu 54
Bảng 4.16. So sánh hiệu quả của cây ca cao với cây dâu 55
Bảng 4.17.Cơ cấu các loại phân bón và thuốc trừ sâu các hộ dân sử dụng 56
Bảng 4.18. Kỹ thuật sử dụng phân bón cho ca cao tại địa phương 58
Bảng 4.19. Các kênh tiêu thụ ca cao trên địa bàn huyện 59
Bảng 4.20. Những nhân tố tác động đến việc trồng ca cao 60
Bảng 4.21. Xu hướng canh tác ca cao hiện tại của người dân 61
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1. Bản đồ hành chính huyện Châu Thành 6
Hình 2.2. Cơ cấu các loại cây trồng xen trên địa bàn huyện năm 2007 13
Hình 2.3. Mô hình trồng xen cây ca cao trong vườn dừa 15
Hình 2.4. Giá trị sản lượng của huyện trong năm 2007 17
Hình 3.1. Cây ca cao trồng từ hạt lai 29
Hình 3.2. Cây ca cao ghép 30
Hình 4.1. Biểu đồ biểu diễn sự biến động diện tích trồng ca cao trên địa bàn 35
Hình 4.2. Biểu đồ mức biến động giá cả ca cao qua các năm 37
Hình 4.3. Biểu đồ cơ cấu diện tích trồng ca cao của huyện 38
Hình 4.4. Biểu đồ năng suất bình quân của cây ca cao lai 48
Hình 4.5. Biểu đồ năng suất bình quân của cây ca cao ghép 50
Hình 4.6. Kênh tiêu thụ ca cao 59
Nhưng thực tế cho thấy, trồng dưới tán dừa là tốt nhất cho năng suất và hiệu quả cao
nhất. Cây ca cao có mặt ở thị trấn Mỏ Cày, Thạnh Phú, Châu Bình (Giồng Trôm) trong
đó Châu Thành là nhiều nhất.Chúng ta có thể thấy cây ca cao bất cứ nơi nào trên
huyện ngay cả những xã vùng sâu của huyện. Do đặc tính trên của cây ca cao nên trên
địa bàn tỉnh huyện Châu Thành là nơi có đủ điều kiện để canh tác cây ca cao. Huyện
nằm ở vị trí thuộc đỉnh tam giác châu thổ sông Tiền, đất đai có độ phì nhiêu cao, chủ
động nước theo triều và gần như nước ngọt quanh năm, đây là huyện trọng điểm phát
triển kinh tế vườn của tỉnh phần lớn diện tích hiện đang được khai thác để trồng các
loại cây ăn trái có giá trị kinh tế cao có thể kết hợp trồng xen ca cao. Huyện nằm trên
trục đường giao thông chính của tỉnh, nằm sát thị xã Bến Tre và đối diện Thành Phố
Mỹ Tho qua Sông Tiền, có điều kiện thuận lợi cho việc chuyên chở sản phẩm từ nơi
sản xuất đến nơi tiêu thụ. Mặc khác Châu Thành là huyện đầu cầu, huyện ven của khu
đô thị thị xã Bến Tre, cửa ngõ đối ngoại của tỉnh Bến Tre với các luồng giao lưu từ
vùng trọng điểm kinh tế phía Nam và vùng ĐBSCL. Trong những năm trước, khi cây
ca cao chưa thật sự được đánh giá cao tại tỉnh, người dân Châu Thành đã mạnh dạn
đưa cây ca cao vào canh tác tuy nhiên không có hiệu quả do không có đầu ra. Hiện
nay, diện tích trồng ca cao ở Châu Thành tăng lên đang kể, vấn đề đầu ra đã được giải
quyết tuy nhiên người dân Châu Thành vẫn còn đắn đo khi thực hiện mô hình trồng
xen cây ca cao trên diện tích cây ăn trái mình đang canh tác vì không biết giá trị kinh
tế thực sự của nó có cao không? Chính vì vậy tôi xin thực hiện đề tài: “ ĐÁNH GIÁ
HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÂY CA CAO TRONG MÔ HÌNH TRỒNG XEN VỚI
CÂY ĂN TRÁI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Nhằm đánh giá hiệu quả trồng cây ca cao trên địa bàn huyện từ đó rút ra những
thuận lợi và khó khăn mà người dân có thể gặp phải trong quá trình trồng cây ca cao,
đưa ra những giảp pháp giúp người nông dân nâng cao năng suất hiện tại của vườn ca
cao, định hướng canh tác trong tương lai sao cho hiệu quả là lớn nhất. Những chỉ tiêu
được nghiên cứu là cơ sở giúp người nông dân có thể tiếp tục mở rộng diện tích đất
canh tác hay chuyển dịch cơ cấu cây trồng khác.
nghiên cứu, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của cây ca cao.Chương 4: Kết quả
và thảo luận: Từ những số liệu đã được thu thập qua điều tra sẽ được xử lý và phân
tích. Thông qua kết quả có được sẽ xác định được diện tích trồng ca cao hiện có tại địa
phương. Giá cả ca cao biến động qua các năm, chi phí bỏ ra và doanh thu có được tính
trên một đơn vị hecta. Phân tích những nhân tố tác động đến quá trình canh tác ca cao
từ đó đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả trồng ca cao trên địa bàn
huyện.Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Nêu lên cái nhìn tổng thể về kết quả nghiên
cứu từ đó đưa ra những đề nghị cần thiết với các cơ quan ban ngành cũng như hộ nông
dân để nâng cao hiệu quả cây ca cao.
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN
2.1. Quá trình hình thành cây Ca Cao ở Việt Nam
Cây ca cao có thể bắt nguồn từ những cánh rừng mưa Amazone thung lũng
Orinoco ở Venezuela hay vùng Chiapa của Mehico. Người Mayan và Aztec đã trồng
cây ca cao từ rất lâu trước khi những nhà thám hiểm Châu Âu tìm tới Châu Mỹ. Người
Mayan là những người đầu tiên trên trái đất sử dụng ca cao làm thực phẩm, họ đã làm
đồ uống với những hạt ca cao được nướng lên, nghiền nhiễn và pha với bột ngô nhằm
tạo độ sánh khi uống.
Năm1528, Cotes đã mang rất nhiều ca cao về Tây Ban Nha thì ca cao mới bắt
đầu một hành trình mới: Chinh phục Châu Âu. Người Tây Ban Nha trồng cây ca cao
trên các thuộc địa của họ để xuất khẩu tới những quốc gia khác trong châu lục và thu
lại khoản lợi nhuận khổng lồ. Ca cao đã lan truyền khắp Châu Âu, thành một trào lưu
ở Anh, Pháp.
Năm 1657, quán bar bán loại thức uống từ ca cao đầu tiên được khai trương.
Đầu thế kỷ thứ 18 nhà máy sản xuất thức uống từ ca cao và sôcôla được thành
lập. Năm 1730, những máy móc chế tạo thức uống từ ca cao và Sôcôla được phát minh
trong cuộc cách mạng công nghiệp tạo tiền đề cho nền công nghiệp sản xuất ca cao
phát triển với số lượng lớn và giá thành rẻ.
Đầu thế kỷ 20, thức uống từ ca cao trở thành nền văn hoá đặc trưng của Châu Âu
Cây ca cao được người Pháp, Ấn Độ du nhập vào từ những năm 40 - 50 của thế
nhiên là Sông Tiền.
Phía Nam giáp huyện Mỏ Cày (lấy sông Hàm Luông làm ranh giới).
Phía Đông và Đông Nam giáp huyện Bình Đại, thị xã .
Tọa độ địa lý
106
0
08’69” – 106
0
27’15” kinhh độ Đông.
10
0
14’23” – 10
0
20’18’’ vĩ độ Bắc
Huyện Châu Thành có vị trí địa lý thuận lợi để phát triển mô hình kinh tế vườn,
du lịch sinh thái và du lịch sông nước do được bao bọc bởi hệ thống sông Tiền và sông
Hàm Luông. Mặc khác QL60 đi qua huyện là trục giao thông chính nối liền trung tâm
thị xã Bến Tre đến công trình cầu Rạch Miễu sắp được hoàn thành, đây là điều kiện
thuận tiện để vận chuyển, thông thương hàng hoá, sản phẩm, nông sản từ huyện ra thị
trường bên ngoài, thúc đẩy kinh tế huyện phát triển.
2.2.1.2. Địa mạo, địa hình, địa chất
Huyện Châu Thành nằm trong vùng tam giác châu thổ sông Tiền, bao gồm hai
dạng địa mạo: đê sông Tiền và đê sông Hàm Luông (kể cả các cù lao) và đồng bằng
châu thổ giữa hai sông.
Vùng ven sông Tiền đất đai thuộc dạng phù sa bồi, cao trình 1,0 – 1,2 m và có
khuynh hướng cao dần về hướng Đông 1,8 mét. Vùng ven sông Hàm Luông 1,3 – 1,5
m. Vùng đồng bằng giữa 2 sông 0,8 – 1,3 m. Vùng có sông Ba Lai chảy qua (vùng An
Hoá giáp với Bình Đại) địa hình hai bên sông bằng phẳng, có khuynh hướng thấp dần
vào trung tâm.
Về địa chất, địa bàn được hình thành chủ yếu qua quá trình bồi lắng trầm tích
quanh năm tương đối mát mẻ, nhưng lại nằm ngoài ảnh hưởng của gió mùa cực đới,
nên nhiệt độ cao, ít biến đổi trong năm, nhiệt độ trung bình hằng năm từ 26
o
C – 27
o
C.
Trong năm không có nhiệt độ tháng nào trung bình dưới 20
o
C. Lượng bức xạ khá dồi
dào, trung bình đạt tới 160kcal/cm
2
.
Châu Thành chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc từ tháng 12 đến tháng 4
năm sau và gió mùa Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 11, giữa 2 mùa gió Tây Nam và
Đông Bắc là 2 thời kỳ chuyển tiếp có hướng gió thay đổi vào các tháng 11 và tháng 4
tạo nên 2 mùa rõ rệt. Mùa gió Đông Bắc là thời kỳ khô hạn, mùa gió Tây Nam là thời
kỳ mưa ẩm. Lượng mưa trung bình hằng năm thuộc vào loại trung bình thấp của khu
vực ĐBSCL (1.400 mm – 1.600 mm). Trong mùa khô, lượng mưa vào khoảng 2 đến
6% tổng lượng mưa cả năm.
Khí hậu Châu Thành cũng cho thấy thích hợp với nhiều loại cây trồng, đặc biệt
là cây ăn quả. Ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm thuận lợi cho sự quang hợp và phát dục của
cây trồng, vật nuôi. Châu Thành cũng gặp những khó khăn do thời tiết nóng ẩm nên
thường có nạn sâu bệnh, dịch bệnh, và nấm mốc phát sinh, phát triển quanh năm.
2.2.1.5. Thuỷ văn
Châu Thành có mạng lưới sông ngòi dày đặc với ba hệ thống sông chính là
sông Tiền (10% lưu lượng sông Cửu Long), sông Ba Lai (<1% lưu lượng), sông Hàm
Luông (14% lưu lượng), biên độ triều dao động trong khoảng 1,89 – 2,59 m. Ba con
sông này giữ vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế văn hoá tinh thần trong địa bàn
huyện. Nó cung cấp lượng nước phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của người dân và cho
hoạt động sản xuất nông nghiệp, bồi tụ phù sa, cung cấp nguồn tài nguyên thuỷ sản
0
/
00
trong tháng 3, 4 hàng năm.
Nơi dòng Ba Lai chảy qua, nước bị nhiễm mặn từ 1-1,5 tháng/năm. Vì vậy,
vùng này chỉ thích nghi có giới hạn cho cây trồng lâu năm.
Vùng An Hóa, nước bị nhiễm mặn từ 2-3 tháng/năm, nên thích nghi có giới hạn
cho canh tác cây lúa lẫn kinh tế vườn.
2.2.1.6. Tài nguyên khoáng sản
Các khoáng sản có trong đất phù sa bao gồm cát dùng để san lấp, cát xây dựng
và đất sét đủ loại, có giá trị kinh tế chấp nhận được, thông thường khai thác phục vụ
cho kế hoạch xây dựng nhà ở và các công trình xây dựng cơ bản. Ở Châu Thành có hai
loại cát:
Cát giồng: Thành phần hạt, chủ yếu là cát mịn chiếm hơn 95%, còn lại là sạn
sỏi và sét dạng bột. Thành phần khoáng vật, chủ yếu là thạch anh 57 – 73%, Fenpat từ
0,8 – 2,5%, mảnh sét từ 4 – 26,6%, mùn thực vật từ 0,015 – 0,84%. Phần lớn loại đất
này đã trở thành đất thổ cư, đất rồng màu và cây công nghiệp ngắn ngày. Mỏ cát lớn
nằm ở xã Phú Hữu.
Cát nơi lòng sông: Huyện giáp với hệ thống sông Tiền và sông Hàm Luông nên
đây là điều kiện để hình thành các mỏ cát nơi lòng sông, có giá trị cung cấp nguyên vật
liệu cho việc san lấp mặt bằng, cải tạo vườn tạp thấp, đặc biệt trong gia cố, xây dựng
đường giao thông, nhà cửa. Theo kết quả điều tra năm 1997, các mỏ cát lòng sông lớn
có giá trị kinh tế cao ở xã Phú Túc – Phú Đức, Phước Thạnh của huyện và một số đất
sét có khả năng làm ngói gạch ở Sóc Sải.
Huyện đang khai thác nhóm đất này để trồng các loại cây có giá trị kinh tế như:
cam, nhãn , Sapo, chôm chôm, sầu riêng,…Kết hợp với nuôi tôm, cá nước ngọt trong
mương vườn.
2.2.1.7. Tài nguyên sinh vật
Tài nguyên sinh vật chủ yếu của huyện là tài nguyên thuỷ sinh vùng nước ngọt
và ngọt pha lợ trên các thuỷ vực sông Tiền, sông Hàm Luông, sông Ba Lai tương đối
Bảng 2.2. Tình hình sử dụng đất Nông Nghiệp của huyện trong năm 2007
Nguồn tin : Phòng thống kê – UBND Huyện Châu Thành.
Trong tổng số 16.472,31 ha đất NN thì có đến 14.624,24 ha sử dụng cho cây
lâu năm chiếm tỷ trọng 88,78%, còn lại 11,22% là dành cho cây hàng năm. Trong điều
kiện tự nhiên , KT – XH của huyện thích hợp cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
sang kinh tế vườn nên lúa chiếm diện tích khá khiêm tốn trên tổng quỹ đất canh tác,
phân bố tại khác khu vực gần huyện Bình Đại nơi có đất phèn, địa hình thấp, bị xâm
nhập mặn, điều kiện tưới tiêu khó khăn. Diện tích trồng lúa đang có khuynh huớng
giảm do hệ thống đê bao ngăn mặn của huyện đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh
nên tại những khu vực có điều kiện thuận lợi đã chuyển sang kinh tế vườn. Phần lớn
diện tích trồng lúa được trồng luân canh hoặc thổ canh với cây lương thực hoặc rau
màu thực phẩm và sản lượng các loại cây này tăng liện tục trong các năm gần đây,
hình thành nên vùng rau an toàn tại các khu vực giáp ranh với thị xã.
Chỉ tiêu Diện tích Sản lượng Cơ cấu (%)
Diện tích Sản lượng
I. Cây hằng năm 5.065,49 22.429,26 11,22 13,8
Lúa 5.010,33 18.563,2 30,42 11,42
Bắp 55,16 1.634,5 0,33 1,01
Rau đậu các loại 432,49 2.231,56 2,63 1,37
II. Diện tích cây lâu năm 14.624,24 140.088 88,78 86,2
1. Dừa 5.154,81 38.289 31,29 23,56
2.Diện tích cây ăn trái 9.398,09 101.798 57,05 62,64
Nhãn 3.272,25 41.577 19,87 25,58
Chôm chôm 1.965,5 33.737,97 11,93 20,76
Sầu riêng 688,19 4.996,84 4,18 3,07
Bưởi 794,09 3.574 4,82 2,2
Cam / Quýt 826,83 5.753 5,02 3,54
Măng cụt ( xen) 778,87 1.903,25 4,73 1,17
Ca cao (xen) 1.600 3.240 9,71 1,99
Xoài 160,68 1.171,93 0,98 0,72
Chuối
Chanh
Măng cụt
Ca cao
Xoài
Các loại cây trồng
xen khác
phát triển rất tốt như:Đắc Lắc, Quảng Ngãi, Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long
An, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang, Bến Tre. Riêng Bến Tre là nơi rất thuận lợi để
áp dụng mô hình trồng xen cây ca cao trong đất vườn, đặc biệt là vườn dừa vì đây
không phải là vùng phèn và mặn nặng là điều kiện rất lý tưởng để ca cao phát triển.
Diện tích đất vườn của tỉnh lớn trong đó vườn dừa chiếm trên 50%. Chính vì vậy, từ
năm 2000, được sự hỗ trợ của Đại học Nông Lâm TP.HCM, chương trình phát triển
cây ca cao tại Bến Tre bắt đầu được thực hiện. Những cây ca cao giống mới đầu tiên
đã được trồng xen dừa thử nghiệm cho các hộ nông dân tại xã An Khánh huyện Châu
Thành của tỉnh. Trong suốt quá trình theo dõi cho thấy ca cao sinh trưởng rất tốt, có
khả năng kháng sâu bệnh, sau hai năm cây đã cho trái đều, chất lượng hạt cao và đạt
tiêu chuẩn xuất khẩu, đầu ra của sản phẩm hoàn toàn ổn định, số lượng lớn hạt ca cao
của Việt Nam được xuất khẩu sang thị trường Châu Âu và Châu Á. Cây ca cao không
cạnh tranh về đất nhiều nên có thể trồng xen trong vườn dừa, cây ăn trái đang cho
năng suất thấp để tăng hiệu quả sử dụng đất và có thể đốn tỉa các loại cây này khi cây
trưởng thành. Hàng năm cây ca cao cho một lượng lá rụng tạo ra một lớp thảm thực
vật có tác dụng chống xói mòn, giữ ẩm và trả lại một phần dinh dưỡng cho đất, mặc
khác cây không cạnh tranh chất dinh dưỡng với các loại cây trồng xen, các khoản chi
phí đầu tư cho ca cao hoàn toàn độc lập so với các loại cây trồng xen. Những thành
công bước đầu đã làm cho các hộ nông dân trên địa bàn tỉnh phấn chấn, lạc quan hơn
cộng với sự hỗ trợ và khuyến khích của các ban ngành nên diện tích trồng ca cao xen
dừa tăng dần trong những năm qua. Đến nay tỉnh Bến Tre có 3.000 ha ca cao, trong đó
có khoảng 1.900 ha trồng xen trong vườn dừa, 1.095 ha trồng xen trong vườn cây ăn
trái riêng Châu Thành có diện tích trồng cây ca cao lớn nhất tỉnh Bến Tre với khoảng
2.2.3. Điều kiện kinh tế - xã hội
2.2.3.1. Phân vùng kinh tế huyện Châu Thành
Trên phương diện phát triển kinh tế - xã hội tổng hợp, có thể phân vùng tổng
hợp huyện Châu Thành như sau:
Vùng I (Vùng phía Tây), diện tích 12.680 ha, chiếm 55,1% diện tích tự nhiên
( không kể sông rạch), là vùng trọng điểm thâm canh kinh tế vườn, đất đai có độ phì
nhiêu cao, phát triển chủ yếu là khu vực 1, dân cư phân tán, chia làm 2 tiểu vùng
Tiểu vùng I.1: Khu vực đê Sông Tiền và đê sông Hàm Luông, phát triển kinh tế
vườn rất mạnh và đa dạng, khu vực 2 phát triển kém, khu vực 3 ở mức trung bình. Dân
cư phân tán trong vườn, các kết cấu kinh tế - xã hội chưa hoàn chỉnh.
Tiểu vùng I.2: Khu vực đồng bằng giữa hai sông, đang hoàn thành chuyển dịch
từ lúa sang kinh tế vườn, khu vực 2 và 3 phát triển kém. Dân cư phân tán, kết cấu hạ
tầng kinh tế xã hội còn kém.
Vùng II ( Vùng phía Đông), diện tích 10.310 ha, chiếm 44,9% diện tích, đặc
trưng bởi trục phát triển Tân Thạch – Ngã Tư Huyện - Thị Xã Bến Tre và trục Ngã Tư
Huyện – An Hoá. Khu vực 2 và 3 tương đối phát triển so với vùng I, chia làm 2 tiểu
vùng.
Tiểu vùng II.1: Khu vực ven sông Tiền, phát triển kinh tế vườn, khu vực 2 và 3
khá phát triển tại các thị tứ (Tân Thạch, An Hoá, Châu Thành), các tuyến giao thông
trục và đang có những chuyển dịch kinh tế quan trọng. Các loại hình cư trú đa dạng và
kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tương đối phát triển.
Tiểu vùng II.2: Khu vực đồng bằng xa sông Tiền, các khu vực kinh tế phát triển
yếu và chậm chuyển dịch, các kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn kém.
2.2.3.2. Điều kiện kinh tế
Nền kinh tế huyện Châu Thành đến nay vẫn phát triển theo hướng nông nghiệp,
mặc dù CN – TTCN và TMDV quan trọng. Tuy nhiên do hệ thống cơ sở hạ tầng cho
công nghiệp chưa được đầu tư đồng bộ và đúng mức nên công nghiệp phát triển chưa
bền vững. Những hạn chế trên đã ảnh hưởng đến tổng sản phẩm trong nước, tiết kiệm