Đánh giá hiệu quả kinh tế của cây chè cành và cây chè trung du trên địa bàn xã Tân Cương thành phố Thái Nguyên. - Pdf 29



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ĐÀO CẢNH THỊNH

Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÂY CHÈ CÀNH VÀ CÂY
CHÈ TRUNG DU TRÊN ĐỊA BÀN XÃ TÂN CƯƠNG THÀNH PHỐ
THÁI NGUYÊN
" KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Lớp : K42 - KTNN
Khoa : Kinh tế & PTNT
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Hữu Thọ
BQ Bình quân
BQC Bình quân chung
ĐVT Đơn vị tính
FAO Tổ chức nông lương liên hợp Quốc tế
FAOSTAT Số liệu thống kê của Tổ chức nông lương liên hợp Quốc tế
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
HTX Hợp tác xã
SL Số lượng
UBND Ủy ban nhân dân
BVTV Bảo vệ thực vật
KHTS Khấu hao tài sản
CC Chè cành
CTD Chè trung du
MI Thu nhập hỗn hợp
TC Tổng chi phí
IC Chi phí trung gian
GO Tổng giá trị sản xuất
VA Giá trị gia tăng
GO/TC Tổng giá trị sản xuất/Tổng chi phí
VA/TC Giá trị gia tăng/Tổng chi phí
MI/CLĐ Thu nhập hỗn hợp / Công lao động MỤC LỤC


1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
1.1. Đối tượng nghiên cứu 23
1.2. Phạm vi nghiên cứu 23
1.2.1. Phạm vi về không gian 23
1.2.2. Phạm vi về thời gian 23
1.2.3. Địa điểm nghiên cứu 23
2. Nội dung nghiên cứu 23
3. Phương pháp nghiên cứu 23
3.1. Chọn điểm nghiên cứu 23
3.2. Phương pháp thu thập số liệu 24
3.3. Phương pháp xử lý thông tin 25
3.4. Phương pháp phân tích thông tin 26
4. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu. 27
4.1. Các chỉ tiêu nghiên cứu 27
4.2 Các chỉ tiêu so sánh hiệu quả kinh tế sản xuất chè 28
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
1. Khái quát về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của
xã Tân Cương, TP. Thái Nguyên 30
1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên 30
1.1.1. Vị trí địa lý 30
1.1.2. Địa hình, thổ nhưỡng 30
1.1.3. Điều kiện khí hậu, thời tiết. 33 1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội của xã Tân Cương 33
1.2.1. Đặc điểm kinh tế của xã Tân Cương. 33
1.2.2. Đặc điểm xã hội của xã Tân Cương 34
1.3. Những thuận lợi, khó khăn của xã 41
1.3.1. Thuận lợi 41
1.3.2. Khó khăn 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHIẾU PHỎNG VẤN NÔNG HỘ 712
DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1.1: Quan hệ giữa lượng mưa và sự phân bố sản lượng búp chè 9


Hình 3.1: kênh phân phối sản phẩm chè của các nông hộ xã Tân Cương 44
Hình 3.2: Năng suất, sản lượng chè bình quân của hộ 47
Hình 3.3 : Kết quả sản xuất chè của hộ 54 1
MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài
Chè là cây công nghiệp dài ngày được trồng lâu đời trên đất nước ta và
ngày càng có vị trí quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước.
Đã từ lâu chè có vị trí không thể thay thế ở một số vùng của đất nước trong
quá trình phát triển. Sản phẩm chè được tiêu dùng phổ biến ở đất nước ta bởi
tác dụng của chè được kiểm chứng qua chiều dài lịch sử. Ngày nay không chỉ
các nước trồng chè mới có tác dụng tiêu dùng mà sản phẩm này còn được tiêu
thụ rộng rãi trên thế giới nhờ tác dụng đặc biệt của chè và giá cả hợp lý của
sản phẩm chè. Ngành chè nước ta hiện nay vừa có lợi thế vừa có khả năng to
lớn để phát triển không những nội lực trong ngành được phát huy mạnh mẽ
mà còn có các điều kiện bên ngoài cũng rất thuận lợi để phát triển chè. Mặt
khác cây chè phát triển còn tạo công ăn việc làm cho một lượng lao động rất
lớn ở các vùng nông thôn, đem lại thu nhập cho họ góp phần xoá đói giảm
nghèo, giúp nông thôn rút ngắn khoảng cách về kinh tế với thành thị, thiết lập
công bằng xã hội.
Là một xã sản xuất chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Xã Tân Cương đang
từng bước có chính sách, kế hoạch, định hướng giúp nông dân làm giàu trên
chính đất quê hương của mình. Hình thức sản xuất chủ yếu của xã là kinh tế
hộ gia đình. Do đó việc tìm ra hướng đi đúng đắn cho kinh tế hộ là việc làm
cần thiết. Ngoài ra xã Tân Cương còn là vùng chè đặc sản nổi tiếng không
những trong nước mà còn được biết đến ở nhiều nước trên thế giới. Do đó,

- Nghiên cứu đề tài giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức cơ bản
và những kiến thức đào tạo chuyên môn trong quá trình học tập trong nhà
trường, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội tiếp cận với những
kiến thức ngoài thực tế.
- Nghiên cứu đề tài là cơ sở cho sinh viên vận dụng sáng tạo những
kiến thức đã học vào thực tiễn và là tiền đề quan trọng để sinh viên thấy được
những kiến thức cơ bản cần bổ sung để phù hợp với thực tế công việc sau này.
- Nghiên cứu đề tài nhằm phát huy cao tính tự giác, chủ động học tập,
nghiên cứu của sinh viên. Nâng cao tinh thần tìm tòi, học hỏi, sáng tạo và khả
năng vận dụng kiến thức vào tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình và định
hướng những ý tưởng trong điều kiện thực tế. 3
- Đây là khoảng thời gian để mỗi sinh viên có cơ hội được thực tế vân
dụng kiến thức đã học vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học.
3.2. Ý nghĩa của thực tiễn của đề tài
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của loại chè này giúp cho người nông dân
biết được hiệu quả của các loại chè và những khó khăn thuận lợi cũng như cơ
hội và thách thức của họ khi sản xuất các loại chè này.
- Góp phần phát triển cây chè tại địa phương một cách bền vững và
hiệu quả nhờ việc nghiên cứu so sánh, đánh giá hiệu quả kinh tế cũng như vấn
đề xoay quanh việc phát triển cây chè.Tận dụng quỹ đất hiện có và chưa khai
thác hoặc thay thế một số cây trồng kém hiệu quả tại địa phương.
- Kết quả của đề tài sẽ là cơ sở cho các cấp chính quyền địa phương,
các nhà đầu tư đưa ra những quyết định mới, hướng đi mới để phát triển
giống chè phù hợp với địa phương phát triển lâu dài và bền vững.
4. Cấu trúc của khóa luận
- Chương 1: Tổng quan nghiên cứu của đề tài
- Chương 2: Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu.

kinh doanh. Lợi ích kinh tế càng lớn thì hiệu quả kinh doanh càng cao và
ngược lại.
Hay nói cách khác, tiêu chí về hiệu quả kinh tế thực ra là giá trị. Có
nghĩa là, khi có sự thay đổi làm tăng giá trị sản xuất kinh doanh thì sự thay
đổi đó có hiệu quả và ngược lại là không hiệu quả. Các yếu tố đánh giá hiệu
quả kinh tế:
- Tổng thu nhập = Giá bán * Tổng sản lượng. 5
- Tổng chi phí = Chi phí đầu tư ban đầu + Chi phí trung gian +Chi phí khác.
- Lợi nhuận = Tổng thu nhập – Tổng chi phí
∗ Hiệu quả kĩ thuật: đòi hỏi các sản xuất tạo ra một số lượng sản phẩm
nhất định xuất phát từ việc sử dụng các nguồn lực đầu vào ít nhất. Hiệu quả
kỹ thuật được xem chỉ là một thành phần của hiệu quả kinh tế.
∗ Hiệu quả phân phối: thể hiệu giữa người sản xuất và người tiêu dung.
Có nghĩa là, người sản xuất phải cung cấp những sản phẩm mà người tiêu
dùng cần nhất.
1.2. Một số đặc điểm chung của sản xuất chè
1.2.1. Ý nghĩa của việc phát triển sản xuất chè
Chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao. Chè đóng vai trò
quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội, văn hóa của con người. Cây chè
được trồng ở nhiều nơi trên thế giới. Với nhiều giống chè khác nhau, chè
mang đến cho thế giới những sản phẩm đa dạng đáp ứng nhu cầu của hầu hết
người tiêu dùng trên thế giới. Ngoài tác dụng là nước giải khát chè còn được
coi như một loại thần dược phòng và chữa bệnh cho con người, là lớp thực vật
bảo vệ đất và môi trường.
Sản phẩm chè của nước ta không chỉ đáp ứng nhu cầu của người tiêu
dùng nội địa mà còn được xuất khẩu nhiều nơi trên thế giới. Góp phần mở
rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm nông sản trong nước, đồng thời thu về

búp to có lông tuyết, mật độ búp thấp, góc độ phân cành hẹp, tán tương đối
rộng. Đây là giống thích hợp chế biến chè xanh và chè đen chất lượng cao. Dễ
giâm cành, cây sinh trưởng khoẻ, khi trồng có tỷ lệ sống cao. Khả năng chống
chịu đối với sâu bệnh hại kém: bị bọ xít muỗi và rệp phảy phá hại nặng.
+ Giống mới: Các giống chè mới thường được nhập từ nước ngoài như:
Kim Tuyên, Bát Tiên, Phúc Vân Tiên, Thúy Ngọc Các giống này thường có
mùi thơm đặc trưng, hoàn toàn khác mùi hương chè thông thường.
+ Giống Kim Tuyên (Kim Huyên, A17 hoặc dòng 27) có nguồn gốc là
giống vô tính của Đài Loan, được chọn lọc từ tổ hợp lai hữu tính giữa mẹ là
giống Ôlong lá to của địa phương và bố là giống Raiburi của Ấn Độ vào năm
1975. Nhập nội vào Việt Nam từ 1994. Trồng ở các tỉnh Lâm Đồng, Yên Bái,
Phú Thọ, Lạng Sơn.
+ Giống chè Phúc Vân Tiên: Có nguồn gốc là giống vô tính của Trung
Quốc, chọn lọc từ tổ hợp lai hữu tính giữa mẹ là giống chè Phúc Đỉnh Đại 7
Bạch Trà và bố là giống chè Vân Nam lá to từ 1957-1971 bởi Viện Nghiên
cứu chè tỉnh Phúc Kiến nhập nội vào Việt Nam năm 2000 [12].
Còn nhiều giống chè khác, nhưng trên đây là giống chè phổ biến được
trồng tại Việt Nam. Cách phân biệt của nông dân thì người ta thường gọi
giống chè trung du (chè ta) là giống chè truyền thống vì nó được đưa vào Việt
Nam khá lâu đời (trồng bằng hạt). Giống chè lai (LDP1, LDP2 ) + giống chè
mới (Giống chè TRI777, Kim Tuyên, Bát Tiên, Phúc Vân Tiên, Thúy Ngọc )
người ta gọi chung là chè cành mới xuất hiện vài chục năm trở lại đây và có
đặc điểm phân biệt là khi trồng người ta dùng cành ươm sau đó mang đi trồng.
Nhìn chung các giống chè có những đặc điểm và quy trình chăm sóc
tương đối giống nhau. Tuy nhiên, mỗi loại giống chè có những đặc điểm riêng
nhất định. Sau đây chúng ta xét nhưng đặc điểm chung của cây chè.
1.2.3 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất chè

trên núi cao có hương thơm và mùi vị tốt hơn chè trồng ở vùng thấp và đồng
bằng. Kinh nghiệm nhận thấy chè được chế biến từ nguyên liệu ở núi cao
Xrilanca có mùi thơm của hoa mà hương vị đó không thể có được trong chè
trồng ở khu vực thấp.
Phần lớn các vùng trồng chè có phẩm chất tốt của các nước trên thế
giới thường có độ cao cách mặt biển từ 500 đến 800 m. Vùng chè ngon có
tiếng ở Ấn Độ trồng ở độ cao cách mặt biển 2.000 m. Ở độ vĩ càng cao phẩm
chất và sản lượng chè càng có xu hướng giảm thấp. Do độ nhiệt thấp, độ ẩm
thấp và ngày dài đã ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng và tích lũy vật chất
trong cây chè [8].
+ Điều kiện đất đai và địa hình:
Chè là loại cây ưa ẩm, là cây thu hoạch búp, lá non, nên càng cần nhiều
nước và vấn đề cung cấp nước cho quá trình sinh trưởng của cây chè lại càng
quan trọng hơn. Yêu cầu tổng lượng nước mưa bình quân trong một năm đối
với cây chè khoảng 1.500 mm và mưa phân bố đều trong các tháng. Bình quân
lượng mưa của các tháng trong thời kỳ chè sinh trưởng phải lớn hơn hoặc bằng
100 mm, nếu nhỏ hơn 100 mm chè sinh trưởng không tốt. Chè yêu cầu độ ẩm
không khí cao, trong suốt thời kỳ sinh trưởng độ ẩm không khí thích hợp là vào
khoảng 85%.
Lượng mưa và phân bố lượng mưa của một nơi có quan hệ trực tiếp tới
thời gian sinh trưởng và mùa thu hoạch chè dài hay ngắn, do đó ảnh hưởng
trực tiếp đến sản lượng cao hay thấp. Vùng chè Doomđome ở Bắc Ấn Độ
lượng mưa phân bố nhiều vào tháng 5 tới tháng 8 cho nên sản lượng chè thu 9
hoạch được trong năm cũng tập trung vào thời kỳ đó. Vùng chè Mlanji (Nam
Phi) lượng mưa tập trung vào tháng 11 đến tháng 4 nên sản lượng chè cao
nhất trong năm cũng tập trung vào thời kỳ này. Ở ta phân bố sản lượng chè
trong năm cũng có quan hệ rõ rệt với tình hình phân bố lượng mưa trong các

C và
sinh trưởng tốt trong phạm vi 15 - 23
o
C. Giới hạn độ nhiệt thấp đối với sinh
trưởng của chè biểu hiện rõ rệt qua thời kỳ ngừng sinh trưởng trong mùa đông
và sinh trưởng trở lại khi có độ nhiệt ấm áp của mùa xuân trong những vùng
khí hậu á nhiệt đới. Đối với sinh trưởng của cây trong thời kỳ này thì độ nhiệt
không khí trở thành nhân tố sinh thái chủ yếu. Cây chè yêu cầu lượng tích nhiệt
hàng năm 3.500 - 4.000
o
C. Độ nhiệt tối thấp tuyệt đối mà cây có thể chịu đựng
được thay đổi tùy theo giống, có thể từ -5
o
C đến -25
o
C hoặc thấp hơn[8].
+ Điều kiện ánh sáng:
Cây chè ở vùng nguyên sản sinh sống dưới tán rừng rậm, do vậy có tính
chịu bóng rất lớn, nó tiến hành quang hợp tốt nhất trong điều kiện ánh sáng
tán xạ. ánh sáng trực xạ trong điều kiện độ nhiệt không khí cao, không có lợi
cho quang hợp và sinh trưởng của chè. Trong thực tế sản xuất, ở một số nước
như Ấn Độ, Xrilanca thường áp dụng biện pháp trồng cây bóng mát cho chè
để hạn chế độ nhiệt cao và ánh sáng quá mạnh. 10
Yêu cầu của cây chè đối với ánh sáng cũng thay đổi tùy theo tuổi cây
và giống. Chè ở thời kỳ cây con yêu cầu ánh sáng ít hơn, cho nên ở vườn
ươm, người ta thường che râm để đạt tỷ lệ sống cao và cây sinh trưởng nhanh.
Giống chè lá to yêu cầu ánh sáng ít hơn giống chè nhỏ [8].

lâu dài.
+ Tưới nước cho chè: Chè là cây ưa nước, trong búp chè có hàm
lượng nước lớn, song chè rất sợ úng và không chịu úng. Chè gặp khô hạn sẽ
bị cằn cỗi, hạn chế việc hút các chất dinh dưỡng từ đất, khô hạn lâu ngày sẽ
làm giảm sản lượng thậm chí còn chết. Do đó, việc tưới nước cho chè là biện
pháp giữ ẩm cho đất để cây sinh trưởng phát triển bình thường, cho năng suất
và chất lượng cao. 11
+ Mật độ trồng chè: Để có năng suất cao cần đảm bảo mật độ trồng
chè cho thích hợp, mật độ trồng chè phụ thuộc vào giống chè, độ dốc ,điều
kiện cơ giới hóa. Nhìn chung tùy điều kiện mà ta bố trí mật độ chè khác nhau,
nếu mật độ quá thưa hoặc quá dầy thì sẽ làm cho năng suất sản lượng thấp,
lâu khép tán, không tận dụng được đất đai, không chống được xói mòn và cỏ
dại, vì vậy cần phải bố trí mật độ chè cho hợp lý.
+ Đốn chè: Đốn chè là biện pháp kỹ thuật không những có ảnh hưởng
đến sinh trưởng phát triển của cây chè mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng
suất, chất lượng chè. Do vậy, kỹ thuật đốn chè đã được nhiều nhà khoa học chú
ý nghiên cứu.
Kỹ thuật đốn chè ở Việt Nam đã được đề cập từ lâu, đầu tiền từ những
kinh nghiệm của thực tiến sản xuất. Trước năm 1945 nhân dân vùng Thanh
Ba -Phú Thọ đã có kinh nghiệm đốn chè kinh doanh: "Năm đốn - năm
lưu".Những công trình nghiên cứu về đốn chè ở Trại Thí nghiệm chè Phú Hộ
- Phú Thọ từ năm 1946 - 1967 đã đi đến kết luận hàng năm đốn chè tốt nhất
vào thời gian cây chè ngừng sinh trưởng và đã đề ra các mức đốn hợp lý cho
từng loại hình đốn:
− Đốn Phớt: Đốn hàng năm, đốn cao hơn vết đốn cũ 3 - 5cm, khi cây
chè cao hơn 70cm thì hàng năm đốn cao hơn vết đốn cũ 1 - 2cm.
− Đốn lửng: Đốn cách mặt đất 60 - 65cm.

tục đòi hỏi đủ phân P, K nên cơ sở bón đủ đạm. Như vậy, cây chè cần được
cung cấp N, P, K với lượng cân đối hợp lý và thường xuyên. Tuy nhiên, mỗi
giai đoạn cây cần với liều lượng khác nhau với nguyên tắc: từ không đến có, từ
ít đến nhiều, bón đúng lúc đúng cách, đúng đối tượng và kịp thời.Nếu bón phân
hợp lý sẽ giúp cho cây chè sinh trưởng và phát triển tốt, tăng khả năng chống
chịu với điều kiện thời tiết bất thuận, sâu bệnh dẫn đến tăng năng suất.
+ Hái chè: Thời điểm, thời gian và phương thức hái có ảnh hưởng đến
chất lượng chè nguyên liệu, hái chè gồm một tôm hai lá là nguyên liệu tốt cho
chế biến chè, vì trong đó chứa hàm lượng Polyphenol và Caphein cao, nếu hái
quá già thì không những chất lượng chè giảm mà còn ảnh hưởng đến sinh
trưởng phát triển của cây chè.
+ Vận chuyển và bảo quản nguyên liệu: Nguyên liệu chè sau khi thu
hái có thể đưa thẳng vào chế biến, có thể để một thời gian nhưng không quá
lâu chất lượng chè sẽ giảm và có thể bị ôi. Do vậy khi thu hái không để dập
nát búp chè và để trong túi quá lâu.
+ Công nghệ chế biến: Tùy thuộc vào mục đích của phương án sản
phẩm mà ta có các quy trình công nghệ chế biến phù hợp với từng nguyên
liệu đầu vào, nhìn chung quá trình chế biến gồm hai giai đoạn sơ chế và tinh
chế thành phẩm.
Chế biến chè đen gồm các công đoạn: Hái búp chè - Làm héo - Vò -
Lên men - Sấy khô - Vò nhẹ - Phơi khô. Chè đen thường được sơ chế bằng
máy móc hiện đại với năng suất chất lượng cao, trong các khâu này đòi hỏi
quy trình kỹ thuật phải nghiêm ngặt tạo hình cho sản phẩm và kích thích các
phản ứng hóa học trong búp chè. 13
Chế biến chè xanh: Là phương pháp chế biến được người dân áp dụng
rất phổ biến từ trước đến nay, quy trình gồm các công đoạn: từ chè búp xanh
(1 tôm 2 lá) sau khi hái về đưa vào chảo quay xử lý ở nhiệt độ 100

cần thiết cho ngành chè góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ngành nông nghiệp.
+ Cơ cấu sản xuất sản phẩm: Đa dạng hoá sản phẩm là quan điểm có
ý nghĩa thực tiễn cao, vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội. Đa dạng hoá sản
phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu khác nhau của thị trường và tiêu thụ được nhiều 14
sản phẩm hàng hoá nhưng đồng thời phải phát huy những mặt hàng
truyềnthống đã có kinh nghiệm sản xuất, chế biến, được thị trường chấp nhận.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1.Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới
2.1.1. Tình hình sản xuất chè trên thế giới
Hiện nay, hàng tỷ người trên thế giới đã sử dụng chè làm thứ nước
uống hàng ngày. Ngay cả ở các nước Tây Âu thì số người chuyển từ uống
cafe sang uống chè ngày càng nhiều. Đến nay, trên thế giới có trên 50 quốc
gia trồng chè từ 42 độ Bắc (Gruzia) đến 27 độ Nam (Achentina) với lịch sử có
từ rất lâu đời khoảng 4000 năm, cây chè được phân bố từ 30 vĩ độ Nam đến
45 vĩ độ Bắc. Chè được trồng tập trung nhiều nhất ở châu Á , sau đó đến châu
Phi và ít nhất Châu Đại Dương. Chè được trồng ở độ cao khá lớn , phân bổ từ
0m đến 220m so với mặt nước biển (Lê Tất Khường, 2006) [3]. Theo FAO
(2014) thì tình hình sản xuất chè trên thế giới tính đến năm 2012 như sau:
Bảng 1.2: Diện tích, năng suất chè năm 2012 của một số nước trên thế giới
STT

Tên nước Diện tích (1000 ha)

Năng suất (tạ khô/ha)
1 Trung Quốc 1.513,00 11,334
2 Ấn Độ 605,00 16,529

Năm

Châu lục
2008 2009 2010 2011 2012
Thế giới 4.206,90

4.244,83

4.547,82

4.668,99

4.818,12

Châu phi 546,96

524,89

614,92

582,10

599,35

Châu Mỹ 92,52

83,89

100,48


1.640,31

1.714,90

Ấn Độ 987,00

972,70

991,18

966,73

1000,00

Kenya 345,80

314,20

399,01

377,91

369,40

Sri lanka 318,70

290,00

331,40


quốc gia duy nhất báo cáo sản lượng có sự gia tăng.
Nhu cầu tiêu thụ ổn định ở mức cao trong khi nguồn cung lại sụt giảm
mạnh đang là nguyên nhân chính đẩy giá chè thế giới tăng cao.
Giá chè tại thị trường Kenya trong tháng 7/2012 đã tăng 1,35% so với
tháng trước, lên mức 345,59 Uscent/kg. Tại thị trường Ấn Độ, kết thúc tháng
8/2012 giá chè chính thống tiếp tục tăng 9,4 Rs/kg so với 1 tháng trước, lên
mức 246,10 Rs/kg. Giá chè bụi CTC cũng tăng 6,2%, đạt 161 Rs/kg.
2.2. Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè của Việt Nam
2.2.1. Tình hình sản xuất chè của Việt Nam
Với 3/4 diện tích là đồi núi, lại thêm khí hậu nhiệt độ nóng ẩm, Việt
Nam có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho cây chè sinh trưởng và phát triển.
Tuy nhiên ở nước ta sản xuất chè chỉ thực sự bắt đầu từ sau những năm 1925.
Lịch sử phát triển cây chè ở Việt Nam được chia ra làm các giai đoạn sau:
+ Giai đoạn 1890-1945:
Vào các năm 1890,1891 người pháp tiếp tục điều tra và thành lập
những đồn điền chè đầu tiên ở Việt Nam: Ở Tĩnh Cương (Phú Thọ) với diện
tích 60 ha, ở Đức Phổ (Quảng Nam) với diện tích 250 ha, ở giai đoạn này 2
tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi có 1990 ha chè. Các trạm nghiên cứu chè cũng
được thành lập ở Phú Hộ ( Phú Thọ) năm 1918, ở Plâycu năm 1927 và ở Bảo
Lộc( Lâm Đồng) năm 1931 (theo Nguyễn Hanh Khôi 1983).

Trích đoạn Thực trạng phát triển sản xuất chè xã Tân Cương – TP Thái Nguyên Thông tin chung về các hộ Tình hình sản xuất chè của hộ Chi phí sản xuất của cây chè trung du và cây chè cành của hộ điều tra Chi phí lao động trong sản xuất chè của hộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status