BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Tên đề tài: “Biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy bài tập rèn luyện tư
thế và kỹ năng vận động cơ bản cho học sinh lớp 3 trường tiểu học Thuận An”.
Họ và tên: Trần Ngọc Linh.
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thuận An.
1/ Lý do chọn đề tài:
Thực hiện đổi mới phương pháp trong việc hướng dẫn học sinh bài tập rèn luyện
tư thế và kỹ năng vận động cơ bản nhằm để nâng cao chất lượng dạy học môn Thể dục
ở học sinh khối lớp 3.
2/ Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh khối lớp 3. Trường tiểu học Thuận An.
3/ Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp làm mẫu.
- Phương pháp thực hành.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp khuyến khích, động viên.
- Phương pháp đánh giá, tổng kết.
- Phương pháp thi đấu.
- Phương pháp trực quan.
- Phương pháp trò chơi.
- Phương pháp sửa chữa động tác sai.
4/ Đề tài đưa ra giải pháp mới:
- Cách tổ chức các hoạt động giảng dạy.
- Phát huy về tính tích cực của học sinh.
- Nâng cao chất lượng và hiệu quả của giáo dục rèn luyện thể chất.
5/ Hiệu quả áp dụng:
Kết quả tăng rõ rệt so với năm học trước.
6/ Phạm vi áp dụng:
Học sinh khối lớp 3. Trường tiểu học Thuận An, năm học 2014 - 2015.
thức và kỹ năng luyện tập cho học sinh trong nhà trường hiện nay.
- Bản thân tôi đã nhiều năm trực tiếp giảng dạy thể dục, tôi nhận thấy một số bài
tập rèn luyện tư thế cơ bản là một trong những nội dung quan trọng trong chương trình
thể dục bậc Tiểu học. Thông qua bài tập rèn luyện tư thế và kỹ năng vận động cơ bản
nhằm giúp các em củng cố thêm vốn kỹ năng vận động cơ bản cần thiết thường gặp
trong đời sống hằng ngày như: đi, chạy, nhảy, mang, vác, . . . phù hợp với khả năng
đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi, nhằm góp phần bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho
học sinh, phát triển các tố chất thể lực và linh hoạt. Bên cạnh đó còn tạo cho các em
tinh thần dũng cảm khắc phục khó khăn, vượt khó trong học tập.
- Do yêu cầu và tác dụng của bài tập rèn luyện tư thế và kỹ năng vận động cơ bản
rất cần thiết và quan trọng trong nhà trường nói riêng và trong cuộc sống hằng ngày
nói chung. Nên bản thân tôi đưa ra “Biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy bài
tập rèn luyện tư thế và kỹ năng vận động cơ bản cho học sinh lớp 3 trường tiểu
học Thuận An”.
2. Mục đích nghiên cứu:
Phương pháp giảng dạy bài tập rèn luyện tư thế và kỹ năng vận động cơ bản
cho học sinh lớp 3.
Rèn luyện kĩ năng thự c hiệ n đú n g mộ t số kỹ năng vậ n độ n g cơ bả n qua
mỗi bà i tậ p .
Tạo sự hứng thú trong tập luyện, giúp học sinh học tốt bài học.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy bài tập rèn luyện tư thế và kỹ năng vận
động cơ bản cho học sinh lớp 3.
- Đối với giáo viên:
+ Nghiên cứu sách giáo viên thể dục lớp 3.
+ Yêu cầu chuẩn kiến thức, kĩ năng cơ bản chương trình lớp 3.
+ Phương pháp giảng dạy bà i tậ p rè n luyệ n tư thế và kỹ năng vậ n độ n g
cơ bả n cho họ c sinh lớ p 3.
thu thập được nhiều thông tin có ích cũng như một vài số liệu cần thiết để định
hướng hay cách giải quyết phù hợp.
c) Phương pháp quan sát:
Là phương pháp thu thập thông tin về đối tượng nghiên cứu, bằng cách tri giác
trực tiếp đối tượng và các nhân tố có liên quan. Phương pháp này cũng không kém
phần quan trọng vì thông qua nó sẽ phản ánh chân thật về thực tiễn của vấn đề nghiên
cứu. Từ đó giúp chúng ta lập ra kế hoạch, định hướng đúng đắn, chính xác để chuẩn bị
xử lý các tình huống có thể xảy ra trong quá trình nghiên cứu.
d) Phương pháp so sánh:
Được tiến hành trước và sau khi thực hiện đề tài, để thấy rõ những ưu,
khuyết điểm, đề ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả giả n g dạ y bà i tậ p rè n
luyệ n tư thế và kỹ năng vậ n độ n g cơ bả n trong việc hướng dẫn và sửa sai cho
học sinh.
e) Phương pháp thi đấu:
Đây là phương pháp tổ chức cho học sinh thi đua giữa các tổ, nhóm trong
quá trình rè n luyệ n tư thế và kỹ năng vậ n độ n g cơ bả n .
g) Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
Phương pháp này đóng một vai trò hết sức quan trọng. Đây là phương pháp
mang tính chất khoa học. Thông qua việc nghiên cứu tài liệu, những kinh
nghiệm có được từ các thế hệ đi trước, từ bạn bè, đồng nghiệp hoặc từ kiểm
nghiệm những công việc đã làm của mình. Đây là phương pháp góp phần rất lớn
trong quá trình nghiên cứu đề tài và việc vận dụng để nâng cao hiệu quả, thành
tích đạt được.
h) Phương pháp trực quan:
Là sự cảm thụ trực tiếp của người tập với động tác làm mẫu của giáo viên hoặc
sự “cảm giác quan” của người tập. Làm mẫu là động tác hoặc một phần động tác của
giáo viên. Làm mẫu có thể thực hiện theo 2 cách:
- Biểu diễn tự nhiên (mang tính nghệ thuật).
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động và triển khai phong trào thi đua “Xây
dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Trong đó có rèn luyện kỹ năng
sống cho học sinh.
- Thông tư 41/ 2010/ TT - BGD&ĐT ngày 30 thá ng 12 năm 2010 ban
hành Điều lệ trường Tiểu học.
- Công văn số 5842/ BGD&ĐT - VP ngày 01 tháng 09 năm 2011 của Bộ
Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn điề u chỉ nh nội dung dạy học giá o dụ c phổ
thông.
- Thông tư số 30/ 2014/ TT - BGD - ĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộ
trưở n g Bộ Giá o dụ c và Đà o tạ o về việ c ban hà nh Quy định đánh giá và xếp loại
học sinh tiểu học.
- Công văn số 662/ PGD - ĐT - HCTH ngày 09 tháng 09 năm 2014 của
Phòng Giáo dục và Đào tạo về phương hướng và nhiệm vụ năm học 2014 - 2015.
1.2. Các quan điểm khác về giáo dục:
- Một số người cho rằng trong quá trình học tập và rèn luyện của học sinh, chỉ cần
các em học tốt các môn như: Toán, Tiếng Việt, Lịch sử, Địa lí,… Vì các môn học ấy
quyết định đến kết quả thi cử sau này ở các cấp Trung học Cơ Sở, Trung học Phổ Thông,
…
- Một số người lại cho rằng: Các em chỉ cần học giỏi ngoại ngữ, vi tính là đủ
còn môn Thể dục thì không cần thiết.
- Tuy nhiên, mục tiêu của Ngành Giáo dục là phát triển con người một cách
toàn diện. Mặt khác, có sức khỏe tốt thì học sinh mới học tốt được tất cả các môn
học và tham gia tốt được các hoạt động ở trường, ở nhà và xã hội. Trong khi đó,
môn Thể dục là một trong những phân môn quan trọng quyết định đến sự phát triển
toàn diện về sức khỏe và thể chất cho học sinh.
2. Cơ sở thực tiễn:
2.1. Thực tiễn vấn đề nghiên cứu:
Chương trình thể dục trong trường Tiểu học lấy củng cố sức khỏe, phát triển thể
lực cho học sinh là mục tiêu số 1 và quan trọng nhất. Nội dung chương trình môn Thể
3. Nội dung của đề tài:
3.1. Vấn đề đặt ra:
- Bài tập rèn luyện tư thế và kỹ năng vận động cơ bản lớp 3 gồm có ôn tập và
nâng cao các nội dung đã học ở các lớp 1, 2:
+ Đứng kiễng gót, hai tay chống hông.
+ Đứng đưa một chân ra sau, hai tay giơ cao thẳng hướng.
+ Đứng đưa một chân sang ngang, hai tay chống hông.
+ Đứng hai chân rộng bằng vai (hai bàn chân thẳng hướng), hai tay đưa ra trước
thẳng hướng.
+ Đứng hai chân rộng bằng vai (hai bàn chân thẳng hướng), hai tay dang ngang.
+ Đứng hai chân rộng bằng vai (hai bàn chân thẳng hướng), hai tay giơ lên cao
chếch hình chữ V.
- Ôn phối hợp một số kĩ năng trên.
+ Đi theo vạch kẻ thẳng, hai tay chống hông.
+ Đi theo vạch kẻ thẳng, hai tay dang ngang.
+ Đi kiễng gót, hai tay chống hông.
+ Đi nhanh chuyển sang chạy.
- Học mới:
+ Đi vượt chướng ngại vật thấp.
+ Đi chuyển hướng phải, trái.
+ Nhảy dây kiểu chụm hai chân.
+ Tung và bắt bóng bằng hai tay.
+ Tung bóng bằng một tay, bắt bóng bằng hai tay.
+ Tung và bắt bóng theo nhóm hai người.
+ Tung và bắt bóng theo nhóm ba người trở lên.
Đây là những kĩ năng vận động rất cần trong đời sống của mỗi con người, phù
hợ p vớ i khả năng vận động của học sinh lớp 3. Dạy cho học sinh lớp 3 những kĩ
năng trên nhằm mục đích tiếp tục rèn luyện tư thế đúng và làm giàu thêm những
+ Giáo viên làm mẫu kết hợp giải thích động tác và chỉ dẫn trên sân.
+ Cho một hoặc một số học sinh tập thử, giáo viên kết hợp giải thích thêm.
+ Cho học sinh tập dưới sự điều khiển của giáo viên 1 - 2 lần.
+ Chia tổ tập luyện.
+ Giáo viên giúp đỡ cán sự tổ chức tập luyện, sau đó tổ chức đánh giá.
- Khi học sinh đã nắm được các bài tập trên, giáo viên có thể tổ chức cho các em
tập như một trò chơi tiếp sức có phân thắng, thua. Ngoài ra, giáo viên nên tìm tòi, sáng
tạo thêm các cách tổ chức tập luyện khác để các tiết học thêm sinh động, hấp dẫn, phù
hợp với thực tế của địa phương mình.
* Để giúp học sinh thực hiện tốt bài tập rèn luyện tư thế và kỹ năng vận động cơ
bản, trong quá trình nghiên cứu, tôi tiến hành thu thập số liệu, thống kê của khối lớp 3
môn Thể dục năm học 2013 - 2014 như sau:
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
Năm học
Khối 3
Số lượng
Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)
2013 - 2014
109/48
80/28
73,4%
29/20
26,6%
3.2. Giải pháp, chứng minh vấn đề được giải quyết:
Tôi đã vận dụng những biện pháp sau: Ngay tiết học đầu tiên, giáo viên hướng
dẫn sơ lược về các bài tập rèn luyện tư thế và kỹ năng vận động cơ bản, giáo viên mở
rộng trong cuộc sống hằng ngày, các em thường tham gia rất nhiều hoạt động mang
tính chất tập thể nhưng cần phải sử dụng đến kỹ năng vận động cơ bản này.
Giáo viên cần thực hiện mẫu cho học sinh xem kết hợp giải thích động tác, nhấn
để sẵn sàng vượt qua). Mỗi động tác vượt chướng ngại vật thực hiện 2 - 3 lần. Sau đó
mới cho tập theo 2 - 4 hàng dọc, tùy theo sự chuẩn bị đồ dùng dạy học. Cách tập theo
dòng nước chảy, em nọ cách em kia 3 - 4m.
* Một số sai thường mắc và cách sửa:
+ Sai: Khi tập động tác đi, học sinh thường cúi đầu, bước chân không tự nhiên,
bàn chân không thẳng hướng với vạch kẻ hoặc để mất thăng bằng, đi lệch ra ngoài
đường kẻ sẵn, sợ không dám bước dài và nhảy qua.
+ Cách sửa: Giáo viên chỉ ra động tác mà học sinh làm chưa đúng hoặc làm lại
động tác sai của học sinh, sau đó hướng dẫn lại động tác đồng thời làm mẫu đúng cho
học sinh cùng tập. Cần uốn nắn kịp thời những động tác sai cho học sinh. Nếu tập đi
theo hàng, nên để những em thực hiện tốt đi trước, những em thực hiện chưa tốt đi sau
để bắt chước theo.
3.2.2. Đi chuyển hướng phải, trái:
- Tư thế chuẩn bị: Đứng chân trước, chân sau hoặc hai chân bằng nhau sau vạch
xuất phát, hai tay buông tự nhiên, thân hơi ngả về trước, trọng tâm dồn nhiều vào chân
trước.
- Động tác: Khi có lệnh, từng em đi thường hoặc đi nhanh theo đường quy định.
Khi đi đến các mốc quy định, thì chuyển hướng đi và cứ tiếp tục như vậy cho đến đích.
Động tác đi tự nhiên, khi cần chuyển hướng bàn chân xoay về hướng đó, thân người
ngay ngắn. Sau khi đi xong, về đứng tập hợp ở cuối hàng.
* Phương pháp dạy:
- Giáo viên nêu tên, làm mẫu và giải thích động tác, sau đó học sinh bắt chước
làm theo. Lúc đầu đi chậm, sau tốc độ tăng nhanh dần. giáo viên có thể dùng tiếng vỗ
tay hoặc tiếng gõ với nhịp điệu đều để điều khiển học sinh tập luyện. Đội hình tập
luyện 2 - 4 hàng dọc, khi thực hiện từng em đi theo đường quy định, người trước cách
người sau 1 - 2m.
- Cho học sinh ôn tập đi theo đường thẳng trước, rồi mới đi chuyển hướng. Lúc
+ Động tác nhảy chụm hai chân: Đứng chụm hai chân phía trước dây, hai tay
cầm hai đầu dây theo vị trí đã so dây để dây hơi chùng sát mặt đất ở phía sau. Dùng cổ
tay và cẳng tay quay nhẹ, đưa dây từ phía sau vòng lên cao - ra trước - xuống thấp ở
phía trước - ra sau. Vòng quay dây cứ tiếp tục như vậy, khi dây chuyển động gần đến
chân, thì thực hiện động tác bật nhảy bằng hai chân lên cao khoảng một gang tay hoặc
thấp hơn để cho dây đi qua. Động tác tiếp tục như vậy một cách nhịp nhàng, khéo léo
sao cho không để dây vướng chân.
* Phương pháp dạy:
- Trước khi tập cần cho học sinh khởi động kĩ các khớp cổ chân, cổ tay, đầu gối,
khớp vai, khớp hông.
- Giáo viên nêu tên và làm mẫu động tác, kết hợp giải thích từng cử động một để
học sinh nắm được.
- Tại chỗ tập so dây, mô phỏng động tác trao dây, quay dây và cho học sinh tập
chụm hai chân bật nhảy không có dây, rồi mới có dây.
- Khi tổ chức tập luyện có thể chia thành từng nhóm tập hoặc cho luân phiên
từng nhóm thay nhau tập. Giáo viên thường xuyên hướng dẫn, sửa chữa động tác sai
cho học sinh, đồng thời động viên kịp thời những em nhảy đúng. Cũng có thể chỉ định
một số em nhảy đúng ra làm động tác để tất cả cùng quan sát và nhận xét.
- Cách so dây, trao dây, quay dây. Khi hướng dẫn cho học sinh, giáo viên cần
nhấn mạnh, khi so dây các em cầm hai đầu dây, chân phải hoặc chân trái giẫm lên dây
(dây đặt sát mặt đất), co kéo dây cho vừa, độ dài của dây từ đất lên tới ngang vai là
thích hợp. Khi quay dây, các em dùng cổ tay quay dây, đưa dây từ phía sau - lên cao ra trước - xuống dưới, dây gần đến chân thì chụm hai chân bật nhảy lên cho dây qua và
cứ như vậy bật nhảy qua dây một cách nhịp nhàng theo nhịp quay của dây, không để
dây vướng vào chân.
* Một số sai thường mắc và cách sửa:
- Sai: So dây dài hoặc ngắn quá hoặc quay dây không đều, phối hợp giữa tay
quay dây và hai chân bật nhảy không nhịp nhàng làm cho dây vướng chân, động tác
vò n g cung (cầ u vồ ng) vừ a tầ m bắ t củ a bạ n, ngườ i đó n bó ng khé o lé o bắ t bó ng,
sau đó tung bó ng lạ i cho bạ n. Thự c hiệ n liên tụ c như vậ y, không để bó ng rơi vớ i
số lầ n cà ng nhiề u cà ng tố t.
* Một số sai thường mắc và cách sửa:
- Sai: Động tác tung bóng quá mạnh hoặc quá nhẹ; quá cao hoặc quá thấp; tung
lệch hướng; không bắt được bóng vì chưa phán đón đúng tầm bóng hoặc động tác của
tay quá cứng, nên khi thực hiện động tác tung và bắt bóng một cách vụng về.
- Cách sửa: Cho học sinh tập nhiều lần động tác tung và bắt bóng, hướng dẫn
các em phối hợp toàn thân khi thực hiện động tác và cách di chuyển để bắt bóng. Khi
chuẩn bị bắt bóng các ngón tay nên xòe rộng, tiếp xúc với bóng các ngón tay cần nhẹ
nhàng. Khi tung bóng dùng lực vừa phải và hất bóng đi đúng phương hướng.
3.2.5. Tung bóng bằng một tay, bắt bóng bằng hai tay:
- Tư thế chuẩn bị: Tương tự như phần chuẩn bị tung và bắt bóng bằng hai tay
hoặc đứng chân cùng bên với tay cầm bóng phía trước, chân khác bên phía sau (trọng
tâm dồn nhiều vào chân trước), nhưng tay thuận cầm bóng.
- Động tác: Tương tự như phần động tác tung và bắt bóng bằng hai tay, nhưng
tung bóng bằng một tay, bắt bóng bằng hai tay.
* Phương pháp dạy:
- Giáo viên tập hợp, cho các em ôn cách cầm bóng, tư thế đứng chuẩn bị tung
bóng, bắt bóng. Các em đứng tại chỗ tập tung bóng và bắt bóng một số lần, sau đó mới
tập di chuyển để đón bắt bóng.
- Giáo viên theo dõi học sinh thực hiện nhằm phát hiện những em làm sai để có
biện pháp sửa chữa, uốn nắn kịp thời.
- Tổ chức tập luyện dưới dạng thi đua giữa các tổ, nhóm với nhau hoặc thi đua
giữa các cá nhân với cá nhân nhằm nâng cao chất lượng luyện tập một cách có hiệu
quả.
mới tập, từng đôi di chuyển chậm và lần lượt tung, bắt bóng, cố gắng tung và bắt bóng
chính xác.
* Một số sai thường mắc và cách sửa:
- Sai: Khi tập các động tác tung và bắt bóng, động tác chuẩn bị và tung bóng
chưa đúng, chưa nhịp nhàng, tung bóng không đúng hướng, quá nhanh, quá mạnh
hoặc ngược lại do chưa biết sử dụng lực hợp lí. Khi bắt bóng thường vội vàng, động
tác của tay không đúng, không đoán đúng tầm bay của bóng.
- Cách sửa:
+ Giáo viên làm mẫu kết hợp giải thích, chỉ dẫn tư thế hai bàn tay cầm bóng
đúng, sai, cho học sinh tập cách cầm bóng, giáo viên kiểm tra uốn nắn.
+ Tập đứng cố định tung bóng và bắt bóng, khi thấy học sinh tung tương đối
đúng mới tập di chuyển bắt bóng.
+ Chỉ dẫn tư thế hai bàn tay khi tiếp xúc với bóng đúng, sai và cách co dần tay
để giảm tốc độ bay của bóng. Đứng tại chỗ tập bắt bóng do bạn tung hay chuyền đến.
+ Tập có thi đua, đánh giá, tập như trò chơi tiếp sức.
3.2.7. Tung và bắt bóng theo nhóm ba người trở lên:
- Tư thế chuẩn bị: Nếu có 3 học sinh đứng theo hình tam giác, 4 học sinh đứng
theo hình vuông em này cách em kia 2,5 - 4m hoặc nhiều học sinh hơn thì theo vòng
tròn, em này cách em kia tối thiểu 1,5m. Mỗi nhóm tập với một quả bóng, học sinh
nào có bóng cầm bóng bằng hai tay.
- Động tác: Trong mỗi nhóm chỉ một học sinh cầm bóng, em có bóng tung bóng
bằng một tay hoặc hai tay cho một bạn trong nhóm. Người nhận bóng bắt bóng bằng
hai tay rồi tung bóng cho bạn khác. Nếu để bóng rơi, nhanh chóng nhặt bóng lên, tiếp
tục tập. Khi tung bóng cho ai, cần hướng người về phía đó rồi mới tung bóng. Những
học sinh khác luôn nhìn theo bóng và sẵn sàng bắt bóng khi có bóng đến.
* Phương pháp dạy:
- Từng học sinh đứng tại chỗ tập tung và bắt bóng một số lần.
- Chia số học sinh trong lớp thành từng nhóm mỗi nhóm 3 người. Từng nhóm
Xây dựng nếp đi và về khi học môn Thể dục:
Do đặc điểm môn học Thể dục là ngoài trời, thực hành gần trước cửa các lớp
khác đang học, mà đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 3 dễ bị lôi cuốn vào các hoạt
động khác. Mặt khác, ở ngoài sân, khi học Thể dục, học sinh thường thiếu tập trung,
nói chuyện, đùa giỡn với nhau. Những điều đó đã làm ảnh hưởng đến việc học của các
lớp khác. Do đó, ngay từ đầu năm học, chúng tôi đã xây dựng cho các em học sinh đi
thành một hàng dọc từ trong lớp ra ngoài sân, không xô đẩy, chen lấn, không nói
chuyện khi đi, giữ khoảng cách khi đi.
Trong quá trình ra sân học tập ở đầu tiết và vào lớp ở cuối tiết, giáo viên cùng với
lực lượng cán sự thể dục ở lớp giám sát chặt chẽ, thường xuyên nhắc nhở học sinh
thực hiện đúng kỷ luật của giờ học. Từ khi thực hiện nếp này thì các em ra sân học thể
dục và vào lớp rất nghiêm túc, không làm ảnh hưởng đến việc học của các lớp khác.
Xây dựng nếp học trong một tiết học Thể dục:
Do đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 3, các em thường thiếu tập trung khi
học ngoài trời. Điều này làm ảnh hưởng đến kết quả tiếp thu kiến thức mới của bài học.
Từ đó, chúng tôi thống nhất xây dựng nếp trong một tiết học thể dục ở học sinh khối 3 như
sau:
- Khi ra sân học thể dục phải trật tự, đi hàng một và giữ đúng khoảng cách. Tập
trung đồng loạt, không được đi trể. Tuyệt đối mặc đồng phục thể dục khi ra sân học.
- Khi ngồi xuống đất thì hai tay để trên đầu gối, tập trung nghe giáo viên triển
khai nội dung học tập.
- Không dùng đất, đá ném bạn.
- Không nói chuyện riêng hoặc giỡn với nhau trong giờ học.
- Không giải quyết việc đi vệ sinh trong giờ học (trừ trường hợp bất khả kháng).
- Tuyệt đối tuân theo khẩu lệnh của giáo viên, cán sự lớp và nhóm trưởng. Mọi
thắc mắc sẽ có ý kiến và được giải quyết sau cuối mỗi tiết học.
- Nhóm trưởng báo cáo lại hoạt động của nhóm mình sau mỗi hoạt động (sau khi
chia nhóm luyện tập).
Từ khi thực hiện nề nếp này, đã giúp cho mỗi tiết học tiết kiệm được nhiều thời
gian để nhắc nhở học sinh phạm quy. Mặc dù thời gian không nhiều, nhưng có thể làm
khi chơi. Do đó, chúng tôi thống nhất chọn và thay đổi ngay trò chơi sao cho các em
vẫn được hứng thú học tập mà vẫn đảm bảo an toàn.
Nêu gương điển hình:
Để tạo thêm hứng thú học tập và nâng cao khả năng phấn đấu cho bản thân các
em, hằng ngày, chúng tôi thường xem đài, đọc báo về các sự kiện thể thao hoặc tìm
hiểu về nhân thân của các vận động viên điển hình. Bằng hình thức kể chuyện cho các
em nghe, để tạo cho các em lòng hâm mộ, yêu mến các vận động viên tiêu biểu. Từ
đó, tạo cho các em hướng phấn đấu, tự rèn luyện thể dục thể thao lâu dài cho bản thân
mình.
Động viên khen thưởng, kỷ luật:
Đối với những học sinh thường hay mắc phải những sai sót trong khi tập luyện,
chúng tôi luôn dùng lời nói nhẹ nhàng, ân cần để giải thích giúp các em thấy được cái
sai của mình mà sửa chữa, còn những em có những tiến bộ trong học tập, mặc dù rất
nhỏ, chúng tôi vẫn động viên và tuyên dương các em trước lớp để khích lệ tinh thần trong
học tập.
Phát động phong trào, luyện tập Thể dục thể thao trong toàn trường:
Ngoài quá trình giảng dạy thể dục nội khóa, chúng tôi còn phát động phong trào
tự tập luyện thể dục buổi sáng, giữa giờ và các môn Thể dục thể thao khác trong toàn
lớp, toàn khối, toàn trường. Để từ đó các em tự rèn luyện thêm nhiều môn thể dục như:
Cầu lông, Đá cầu, Điền kinh, Cờ vua,… Sau đó tôi có thể chọn các em vào nhóm năng
khiếu, tạo nguồn đội tuyển tham gia các giải Hội khỏe Phù Đổng các cấp.
4. Kết quả đề tài:
Qua quá trình nghiên cứu và vận dụng đề tài “Biện pháp nâng cao chất lượng
giảng dạy bài tập rèn luyện tư thế và kỹ năng vận động cơ bản cho học sinh khối lớp
3”, tôi thấy đã đạt kết quả khả quan hơn so với những năm học trước:
Năm học
2013 - 2014
2014 - 2015
dễ hiểu, dễ thực hiện.
Kịp thời sửa chữa, uốn nắn học sinh khi thực hiện động tác sai.
Học sinh nghiêm túc tích cực tập luyện và đảm bảo an toàn.
Từ những kinh nghiệm trên đã giúp cho học sinh ham thích, hăng say trong
quá trình tập luyện. Đây cũng là bước khởi đầu góp phần rèn luyện tư thế, tác phong
nhanh nhẹn, khéo léo. Nên hàng năm, các em đạt được những kết quả rất khả quan
trong những kỳ thi Hội khỏe Phù Đổng do Phòng Giáo dục Huyện tổ chức:
- Năm học: 2012 - 2013
+ Bốn học sinh đạt giải môn cờ vua.
+ Một học sinh đạt giải khuyến khích ném bóng.
- Năm học 2013 - 2014
+ Ba học sinh đạt giải môn cờ vua.
+ Một học sinh đạt giải ba môn điền kinh chạy 60m.
+ Một học sinh đạt giải khuyến khích ném bóng.
- Năm học 2014 - 2015
+ Bốn em đạt giải môn cờ vua.
+ Một em đạt giải nhì môn ném bóng.
+ Một em đạt giải khuyến khích môn điền kinh chạy 60m.
5. Phạm vi áp dụng:
Trước hết, tôi sẽ áp dụng đề tài này vào việc giảng dạy trực tiếp cho học sinh
khối 3 Trường tiểu học Thuận An và cho tất cả học sinh ở các khối lớp của Trường.
Đồng thời có thể nhân rộng cho các đơn vị bạn trong huyện.
III. KẾT LUẬN
1. Bài học kinh nghiệm:
Qua thời gian áp dụng đề tài “Biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy bài tập
rèn luyện tư thế và kỹ năng vận động cơ bản cho học sinh lớp 3 trường tiểu học Thuận
An”. Tôi nhận thấy sự phát triển về sức khỏe, thể lực của học sinh tăng rất rõ rệt, đặc
biệt tính chất mềm dẻo, khéo léo và khả năng hoạt động trong đời sống: đi, chạy, nhảy,
Người thực hiện
Trần Ngọc Linh
MỤC LỤC
1. Lý do chọn đề tài:................................................................................................................2
2. Mục đích nghiên cứu: ........................................................................................................2
3. Đối tượng nghiên cứu: .......................................................................................................3
4. Phạm vi nghiên cứu:............................................................................................................3
5. Phương pháp nghiên cứu:...................................................................................................3
6. Giả thuyết khoa học: ..........................................................................................................4
II - NỘI DUNG...........................................................................................................................6
1. Cơ sở lý luận:......................................................................................................................6
1.1. Các văn bản chỉ đạo:....................................................................................................6
1.2. Các quan điểm khác về giáo dục: ................................................................................6
2. Cơ sở thực tiễn:...................................................................................................................6
2.1. Thực tiễn vấn đề nghiên cứu:.......................................................................................6
2.2. Sự cần thiết của đề tài:.................................................................................................7
3. Nội dung của đề tài:............................................................................................................7
3.1. Vấn đề đặt ra: ..............................................................................................................7
3.2. Giải pháp, chứng minh vấn đề được giải quyết: .........................................................9
3.2.1. Đi vượt chướng ngại vật thấp:..............................................................................9
3.2.2. Đi chuyển hướng phải, trái:.................................................................................10
3.2.3. Nhảy dây kiểu chụm hai chân:............................................................................11
3.2.4. Tung và bắt bóng bằng hai tay: ..........................................................................13
3.2.5. Tung bóng bằng một tay, bắt bóng bằng hai tay:................................................15
3.2.6. Tung và bắt bóng theo nhóm hai người: ...........................................................15
3.2.7. Tung và bắt bóng theo nhóm ba người trở lên: .................................................17
4. Kết quả đề tài:...................................................................................................................21