SKKN GIẢI PHÁP GIÚP học SINH lớp 5d TRƯỜNG TIỂU học cầu KHỞI a học tốt PHÂN môn tập làm văn TIẾT TRẢ bài VIẾT - Pdf 35

BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Đề tài: “GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5D TRƯỜNG TIỂU HỌC CẦU
KHỞI A HỌC TỐT PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN TIẾT TRẢ BÀI VIẾT”
Giáo viên thực hiện: Trần Thị Hạnh
Đơn vị công tác: Trường tiểu học Cầu Khởi A
1. Lí do chọn đề tài:
Trong chương trình Tiếng Việt ở bậc tiểu học thì phân môn Tập làm văn tiết
Trả bài viết có một vị trí rất quan trọng vì nó mang tính thực hành cao, rèn cho học
sinh kĩ năng kiểm tra, kĩ năng đánh giá, tự điều chỉnh bài viết của các em. Nhưng thực
tế học sinh lớp tôi các em điều mắc phải lỗi về viết không đúng yêu cầu đề bài, sai về
bố cục, dùng từ chưa chính xác, câu văn thiếu thành phần chủ ngữ, vị ngữ, viết sai lỗi
chính tả, sai về câu, dấu câu, cách diễn đạt, cách liên kết câu trong đoạn văn dẫn đến
bài văn không đạt kết quả như mong muốn. Chính vì vậy mà tôi đã chọn đề tài: “ Giải
pháp giúp học sinh lớp 5D trường Tiểu học Cầu Khởi A học tốt phân môn Tập làm
văn tiết Trả bài viết”. Trong bài viết này tôi muốn đưa ra một số giải pháp nhằm giúp
học sinh lớp 5 học tốt phân môn Tập làm văn tiết Trả bài viết nói chung, mà cụ thể là
học sinh lớp 5D của tôi nói riêng.
2. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu để tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng dạy - học môn Tiếng Việt
nói chung và phân môn Tập làm văn tiết Trả bài viết nói riêng nhằm giúp các em học
tập tốt hơn và có kết quả cao trong học tập.
3. Đối tượng, phương pháp nghiên cứu:
Giải pháp giúp học sinh lớp 5D trường Tiểu học Cầu Khởi A học tốt phân môn
Tập làm văn tiết Trả bài viết.
Phương pháp nghiên cứu là: Phương pháp đọc tài liệu; phương pháp quan sát;
phương pháp trao đổi, trò chuyện; phương pháp kiểm tra, đánh giá; phương pháp so
sánh, đối chiếu.
4. Giải pháp, chứng minh vấn đề cần giải quyết:
Một số giải pháp: Giáo viên hướng dẫn cho học sinh sửa lỗi về bài làm không
đúng yêu cầu, bố cục, chính tả, cách dùng từ, đặt câu, dấu câu, về diễn đạt, cách liên
kết các câu trong đoạn văn cho học sinh lớp 5 khi dạy phân môn Tập làm văn tiết Trả

ngữ, vị ngữ, viết sai lỗi chính tả, sai về câu, dấu câu, cách diễn đạt, cách liên kết
các câu trong đoạn văn dẫn đến bài văn không đạt kết quả như mong muốn.
Chính vì vậy mà tôi đã chọn đề tài: “Giải pháp giúp học sinh lớp 5D trường
Tiểu học Cầu Khởi A học tốt phân môn Tập làm văn tiết Trả bài viết”. Trong
bài viết này tôi muốn đưa ra một số giải pháp nhằm giúp học sinh lớp 5 học tốt
phân môn Tập làm văn tiết Trả bài viết nói chung, mà cụ thể là học sinh lớp 5D
của tôi nói riêng.
2. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu để tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng dạy - học môn Tiếng
Việt nói chung và phân môn Tập làm văn tiết Trả bài viết nói riêng nhằm giúp
các em học tập tốt hơn và có kết quả cao trong học tập.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp giúp học sinh lớp 5D trường Tiểu học Cầu
Khởi A học tốt phân môn Tập làm văn tiết Trả bài viết.
Khách thể nghiên cứu: Học sinh lớp 5D trường Tiểu học Cầu Khởi A.
4. Phạm vi nghiên cứu:
Trong đề tài này tôi nghiên cứu: Một số giải pháp Sửa lỗi về làm bài không
đúng yêu cầu, bố cục, chính tả, cách dùng từ, đặt câu, dấu câu, về diễn đạt, cách
liên kết các câu trong đoạn văn cho học sinh lớp 5 khi dạy phân môn Tập làm
văn tiết Trả bài viết.
Học sinh lớp 5D trường Tiểu học Cầu Khởi A.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Các phương pháp sử dụng để nghiên cứu đề tài này là:
a. Phương pháp đọc tài liệu:
Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến phân môn Tập làm văn tiết Trả bài
viết để nắm được những vấn đề liên quan đến nội dung, đề tài nghiên cứu. Trên
cơ sở đó, tôi xác định cơ sở lí luận cần thiết trong việc thực hiện các giải pháp
khoa học, phù hợp với nội dung triển khai.
b. Phương pháp quan sát:
Thu nhập thông tin về đối tượng nghiên cứu bằng các tri giác trực tiếp đối

Trong những năm gần đây, Nghị quyết của đại hội Đảng, những văn kiện
khác của Nhà nước và của Bộ Giáo dục và Đào tạo đều nhấn mạnh rằng: cần đổi
mới phương pháp giáo dục cho phù hợp với sự phát triển của đất nước, đồng
thời dạy học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh. Chính vì thế Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã có những công văn hướng dẫn thực hiện chương trình,
sách giáo khoa và chỉ đạo dạy học phù hợp với đối tượng học sinh như:
- Công văn 9832/BGDĐT- GDTH ngày 01 tháng 9 năm 2006 về Hướng
dẫn thực hiện chương trình các môn học lớp 1,2,3,4,5.
- Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 về tài liệu
Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở tiểu học.
- Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 Thông tư
Ban hành Quy định đánh giá học sinh tiểu học.
Chúng ta đã biết học các tiết Tập làm văn, học sinh có điều kiện tiếp cận
với vẻ đẹp của con người, thiên nhiên qua các bài văn, đoạn văn điển hình. Khi
phân tích đề tập làm văn, học sinh lại có dịp hướng tới cái thiện, cái thẩm mĩ
được định hướng trong các đề bài. Đặc biệt là tiết Trả bài viết chiếm vị trí rất
quan trọng trong phân môn Tập làm văn, đối với học sinh tiểu học nói chung, ở
lớp tôi nói riêng. Nếu học tốt phần này sẽ giúp các em có thêm kĩ năng nói, kĩ
năng viết, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với
mục đích giao tiếp yêu cầu cần đạt, sửa chữa về nội dung và hình thức diễn đạt
hình thành cho các em kĩ năng và thói quen tự điều chỉnh, tự học tập để luôn
luôn tiến bộ. Đây cũng chính là khâu cuối cùng để hoàn thiện kĩ năng làm văn
của các em.
Thông qua phân môn Tập làm văn tiết Trả bài viết giúp các em trau dồi vốn
Tiếng Việt, vốn văn học, phát triển tư duy, mở rộng sự hiểu biết của các em về
cuộc sống, nhằm phục vụ cho đời sống và việc học tập của bản thân.
Ngoài ra phân môn Tập làm văn tiết Trả bài viết còn bồi dưỡng tư tưởng,
tình cảm và tâm hồn lành mạnh, trong sáng, tình yêu quê hương đất nước, tình
yêu cái đẹp, cái thiện và thái độ ứng xử đúng mực trong cuộc sống, giúp các em
yêu thích Tiếng Việt.

yêu
bố
cầu đề
cục
bài
2

3

Dùng
Sai về câu, dấu
Viết
từ
câu, cách diễn
sai
chưa
đạt, cách liên
chính
chính
kết các câu
tả
xác
trong đoạn văn
7

15

7

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, tôi suy nghĩ tìm tòi đưa ra các giải pháp

. Câu văn có chủ ngữ, vị ngữ chưa?
. Câu văn nào quá dài hoặc quá ngắn?
. Câu văn nào hay, có sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóa?

5


Những lỗi sai, những câu văn hay tôi đều ghi nhận vào sổ tay cá nhân của
tôi để theo dõi các em. Em nào sai lỗi nào và đưa ra hướng sửa chữa để tôi thiết
kế bài dạy cho phân môn Tập làm văn tiết Trả bài viết. Bên cạnh đó, sổ tay này
còn giúp tôi so sánh đối chiếu với những bài làm sau của các em xem các em có
tiến bộ hay chưa?
Qua việc kiểm tra tôi cũng đánh giá được kết quả bài làm của các em, đồng
thời cũng giúp tôi đánh giá lại kết quả giảng dạy của mình có chất lượng hay
không để từ đó tôi sẽ điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp và có hướng
sửa chữa lỗi cho các em.
3.2. Thiết kế bài dạy:
Thông qua việc kiểm tra, nhận xét bài và ghi nhận những ưu, khuyết điểm
của các em. Đây chính là nội dung để tôi thiết kế bài dạy cho phân môn Tập làm
văn tiết Trả bài viết.
I. Mục tiêu:
Biết rút kinh nghiệm để làm tốt bài văn miêu tả về các mặt: bố cục, trình tự
miêu tả, chọn lọc chi tiết, cách diễn đạt, dùng từ, cách trình bày và lỗi chính tả;
Nhận biết được lỗi trong bài văn, viết lại một đoạn văn cho đúng hoặc hay hơn.
HS tự chữa bài trong bài văn.
Giáo dục học sinh.
II. Đồ dùng dạy học:
GV: Bảng phụ
III. Các hoạt động dạy học:
A. Kiểm tra bài cũ.

C. Củng cố, dặn dò:
3.3. Tiến hành trả bài viết trên lớp:
3.3.1. GIẢI PHÁP I:
a) Sửa lỗi về làm bài không đúng yêu cầu:
Ví dụ: Tả hoạt động của một người mà em quen biết.
Các em đi sâu vào ngoại hình mà không tả hoạt động. Đối với những em
mắc lỗi này tôi thường cho em đó đọc lại đề bài từ 2 đến 3 lần và hỏi: Đề bài
yêu cầu em điều gì? Lúc các em trả lời tôi gạch chân để các em dễ dàng nhận ra
yêu cầu đề bài và cho các em viết lại bài văn.
b) Sửa lỗi về bố cục:
Đối với dạng lỗi sai này tôi gọi các em nêu lại cấu tạo của một bài văn (Mở
bài, thân bài, kết bài) các em nhớ lại dàn ý đã lập. Tôi tổ chức cho các em nhận
dạng bài sai của mình nếu các em không phát hiện lỗi sai. Tôi gọi các em đọc lại
bài và xác định đâu là phần mở bài, thân bài và kết bài. Bài văn được sắp xếp ý
như thế nào? Tôi tiến hành cho em đó làm lại bài cá nhân và sau đó trao đổi với
bạn để cùng kiểm tra lẫn nhau.
c) Sửa lỗi về chính tả:
Trong quá trình kiểm tra, nhận xét bài những từ nào sai tôi đều gạch chân
bằng mực đỏ.
Phần này tôi tổ chức trao đổi nhóm đôi (nhóm tương trợ): một em học tập
tốt với một em học chậm (sai nhiều lỗi) cùng tương trợ nhau sửa những lỗi sai
theo phát âm của bản thân. Tôi giúp các em phân biệt một số nghĩa có liên quan
đến cách dùng từ của các em. Sau đó tôi tổ chức trò chơi bằng cách cho các em
ghi những từ sai lên bảng theo 3 nhóm, chia lớp 3 đội theo dãy bàn, yêu cầu các
em thi đua nhau viết lại cho đúng, đội nào ghi đúng và nhanh sẽ chiến thắng.
Ví dụ: Viết sai chính tả
Viết đúng chính tả
Máy tóc bạc phơ.
Mái tóc bạc phơ.
Bà em rất khẻo mạnh.

Vậy em có thay thế từ nào?( xa)
Gọi các em viết lại câu hoàn chỉnh. “Bà đã xa em về sống với cô ở thành
phố Hồ Chí Minh, em vẫn nhớ bà.”
Lúc này tôi chốt lại cho các em từ vĩnh biệt dùng chỉ người đã khuất, còn
từ xa nói về sự xa cách trong một khoảng thời gian nào đó thì nên dùng từ xa thì
mới đúng sắc thái của câu văn.
Ví dụ 3: Cây phượng già xanh mượt yên tĩnh rủ bóng. (Bài viết số 2-Tuần
10)
Em có nhận xét gì về câu văn trên? (dùng từ chưa phù hợp)
Từ nào chưa phù hợp? (yên tĩnh)
Tại sao? (Yên tĩnh là không bị xáo động) VD: không khí đồng quê yên tĩnh
hoặc mặt biển yên tĩnh.
Vậy em có thay thế từ nào?(im lìm)
Gọi các em viết lại câu hoàn chỉnh. “Cây phượng già xanh mượt im lìm rủ
bóng.”
đ) Sai lỗi về câu, dấu câu, về diễn đạt:
Thông thường các em mắc lỗi này là do các em viết thiếu chủ ngữ hoặc
thiếu vị ngữ nên ý câu chưa trọn vẹn, câu có nhiều từ ngữ thừa, rườm rà, lủng
củng. Do đó để sửa lỗi sai này tôi thường cho các em đọc lại lỗi sai và ghi câu
đó lên bảng.
Ví dụ 1: Câu thiếu chủ ngữ: “Được rải bằng đá mi.” (Bài viết số 2-Tuần
10)
Khi kiểm tra bài tôi gạch bằng mực đỏ, gọi em đó đọc lại câu em viết và
hỏi: Đây có phải là một câu không? Nếu em viết như thế người đọc sẽ hiểu được
không? Theo em cái gì được rải bằng đá mi? (Sân trường)
Lúc bấy giờ các em sẽ nhận ra câu thiếu chủ ngữ và tự sửa chữa vào vở câu
hoàn chỉnh: Sân trường được rải bằng đá mi.
Ví dụ 2: Đứng từ xa. Nhìn ngôi trường thật đẹp. Mái lớp được lợp tôn,
tường vôi trắng. (Bài viết số 2-Tuần 10)
Em có nhận xét gì về đoạn văn trên? (dùng dấu câu chưa phù hợp)

giỏi.)
Gọi các em đọc câu hoàn chỉnh: Đứng trước cảnh đẹp của công viên Cây
Xanh, em càng thêm yêu đất nước và quyết tâm học giỏi để đưa quê hương Tây
Ninh ngày một giàu đẹp.
e) Sai lỗi về cách liên kết các câu trong đoạn văn:
Ví dụ 1: Em rất thích chú danh hài Hiếu Hiền. Dáng ổng mập. Danh hài
Hiếu Hiền hài rất hay và có duyên. Em xin hứa sẽ học thật giỏi để cho anh Hiếu
Hiền vui mừng. (Đoạn kết bài - Bài viết số 4 - Tuần 20)
Em có nhận xét gì về các câu trong đoạn văn trên? (ý các câu liên kết chưa
chặt chẽ, câu Dáng ổng mập dùng để tả ngoại hình không nên ghi câu này ở
phần kết bài), dùng từ lặp lại (Hiếu Hiền), dùng từ xưng hô chưa chính xác (chú,
anh, ổng), ý câu cuối chưa đúng với thực tế cuộc sống)
Cho học sinh đọc lại đoạn văn trên và suy nghĩ sửa lại cho hay hơn.
Học sinh nêu đoạn văn đã sửa: Em rất thích danh hài Hiếu Hiền vì anh ấy
diễn hài rất hay và có duyên. Em xin hứa sẽ học thật giỏi để được ba mẹ chở đi
xem anh Hiếu Hiền biểu diễn lần nữa.
Ví dụ 2: Tả đồ vật (bài viết số 6 – Tuần 25)
HS tả hình dáng cái bàn như sau:
Cái bàn nhỏ của em xinh xắn. Cái bàn được đặt ngay cửa sổ. Cái bàn có
bốn chân. Cái bàn có nắng gió, hương hoa từ ngoài vườn theo gió đưa vào. Cái

9


bàn hình chữ nhật, chiều dài khoảng một mét, chiều rộng khoảng bảy mươi
xăng-ti-mét. Ở dưới mặt bàn có hai ngăn vừa đủ để em bỏ cặp, sách vở vào.
Em có nhận xét gì về các câu trong đoạn văn trên?
Học sinh đọc lai đoạn văn nhận ra và nêu: Các câu trên chưa có sự liên kết
chặt chẽ về ý, sắp xếp các ý chưa hợp lí và chưa rõ ràng, mỗi câu đều lặp lại từ
(cái bàn), câu 5 dùng từ chưa đúng (cái bàn)

- Nước da của cô em trắng như hoa bưởi.
- Đôi môi đỏ hồng như vừa thoa một lớp son.
Ví dụ 3: Sử dụng biện pháp nhân hóa khi Tả một ngày mới bắt đầu ở quê
em. (Bài viết số 1-Tuần 4)
Ngày mới bắt đầu bằng tiếng gáy của những chú gà trống. Dậy từ rất sớm,
chúng rủ nhau xuống chuồng, đứng vững trên thanh tre, vỗ cánh phành nhạch
và cất cao giọng “Ò…ó…o”. Ông mặt trời đang ngon giấc cũng bị đánh thức,
từ từ hé đôi mắt nhìn xuống trần gian. Dần dần ông lên cao, đến đầu ngọn tre
10


thì đứng lại. Ông bắt đầu tỏa ra những cánh tay dài màu vàng nhạt ra khắp
xung quanh, xuyên qua kẽ lá, rọi xuống mặt đất.
g) Những điểm cần lưu ý khi kết thúc tiết học:
Sau khi đọc bài văn mẫu xong tôi dặn dò các em một số lưu ý sau:
. Cần học kĩ các nội dung kiến thức thông qua tiết chính tả, tiết luyện từ và
câu ở trên lớp, nhằm khắc phụ việc viết sai chính tả, cách dùng từ, cách đặt câu.
. Khuyến khích các em thường xuyên đọc sách, báo và ghi lại những từ ngữ
giàu hình ảnh, giàu cảm xúc nhằm làm giàu vốn từ cho các em, từ đó giúp các
em có thể vận dụng một cách sáng tạo hơn trong bài viết của mình.
3.3.2.GIẢI PHÁP II:
a) Các em tự sửa lỗi sai trong bài làm của mình.
Đối với những em sai tôi ghi tên các em trong thiết kế bài dạy, trong sổ
theo dõi, nhưng khi trả bài sửa lỗi tôi không nêu tên các em lên, vì tránh trường
hợp các em mặc cảm để tự các em phát hiện lỗi sai của mình và tự sửa chữa.
Trong quá trình kiểm tra, nhận xét bài tôi có gạch chân những chỗ sai bằng mực
đỏ. Tôi gọi các em đọc những chỗ gạch mực đỏ và hỏi: Em có nhận xét gì về
câu văn em vừa đọc? Em định trình bày như thế nào? Lúc này các em dễ dàng
diễn đạt theo ý của mình. Theo em phải sửa lại như thế nào?
Ví dụ: Ở quê em có một cánh đồng rất đẹp cánh đồng rất là rộng. (Bài

chữa ghi vào bảng phụ. Các em tìm tiếng sai chính tả vì những tiếng trong quá
trình kiểm tra, nhận xét được tôi gạch mực đỏ, trao đổi với nhóm tìm cách sửa
chữa ghi vào bảng phụ. Các em tìm từ dùng sai, câu lủng củng, trao đổi với
nhóm tìm cách sửa chữa ghi vào bảng phụ. Các em tìm những câu văn hay. Sau
khi hoàn tất các em đính lên bảng lớp để cùng nhau nhận xét. Nếu các em trong
nhóm ghi thiếu tôi bổ sung vì trong quá trình kiểm tra, nhận xét bài tôi có ghi
nhận vào sổ tay của mình.
Đây cũng là phần mà tôi tạo cho học sinh mình mạnh dạn hơn, nhằm giúp
các em phát triển ý kiến của bản thân. Tuy nhiên khi các em thực hiện tốt yêu
cầu này tôi luôn động viên khuyến khích, tuyên dương các em để các em hứng
thú trong học tập.
c) Trao đổi ý kiến với phụ huynh:
Tôi trao đổi với phụ huynh về việc học tập ở nhà của các em. Kết hợp với
phụ huynh nhắc nhở các em đọc thêm sách báo, những bài văn hay và ghi lại
những từ ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc nhằm làm giàu vốn từ cho các em, từ
đó giúp các em có thể vận dụng một cách sáng tạo hơn trong bài viết của mình.
Vào 15 phút đầu giờ tôi cho các em học tập tốt viết lại những từ ngữ hay,
những câu văn hay mà các em đã đọc thêm ở nhà. Khi các em ghi xong tôi cho
các em học chậm đọc lại. Đồng thời tôi cũng kiểm tra sự ghi chép của các em
học chậm ở nhà (Nếu các em này ghi được những câu văn hay, những từ ngữ
hay tôi tuyên dương các em để động viên, khuyến khích các em.)
Để tiết học đạt hiệu quả tôi áp dụng cả hai giải pháp trên vào tiết dạy phân
môn Tập làm văn tiết Trả bài viết để phát huy được tính tích cực, chủ động và
sáng tạo của học sinh.
TÓM LẠI:
Về phía học sinh:
 Nắm vững dàn ý, yêu cầu đề bài – hoàn thành bài văn.
 Các em tự giác, tích cực trong học tập.
 Biết nhận xét, đánh giá bài của bạn.
 Mạnh dạn trong học tập.

29

Viết
Viết
không
sai
đúng
về
yêu
bố
cầu đề
cục
bài
2
0

3
0

Dùng
Sai về câu, dấu
Viết
từ
câu, cách diễn
sai
chưa
đạt, cách liên
chính
chính
kết các câu

Có lòng say mê nghề nghiệp, luôn có ý thức tìm tòi và sáng tạo trong dạy
học.
Giáo viên phải không ngừng học tập nâng cao trình độ, phải nghiên cứu kĩ
nội dung chương trình để nắm mục tiêu và kĩ năng cần đạt đối với từng bài dạy.
Tham khảo thêm các tài liệu có liên quan đến môn học để từ đó có thể vận dụng
vào tiết dạy đạt hiệu quả.
Giáo viên chuẩn bị thật chu đáo trước khi lên lớp, để chọn cho mình một
phương pháp và hình thức tổ chức phong phú, phù hợp với nội dung kiến thức
cần truyền đạt vào tình hình thực tế của học sinh nhằm phát huy tối ưu tính tích
cực sáng tạo của học sinh.
Giáo viên mạnh dạn giao việc cho học sinh dưới mọi hình thức thích hợp.
Qua những bài tập cụ thể giúp học sinh vận dụng những điều đã học để làm bài.
Giúp các em biết và tìm từ một cách chính xác, đặt được những câu văn hay,
sinh động.
Giáo viên tuyên dương những học sinh thực hiện tốt yêu cầu. Động viên,
khuyến khích kịp thời dù chỉ là sự tiến bộ rất nhỏ của những em học còn chậm.
b. Đối với học sinh:
Cần đọc trước bài, suy nghĩ về nội dung bài học, tự mình có thể nêu ra
những câu hỏi để tự kiểm tra kiến thức. Chuẩn bị tốt các đồ dùng học tập như
bút, vở làm kiểm tra bài văn. Trong quá trình học tập cần thể hiện vai trò chủ thể
tích cực trong các hoạt động để có được kĩ năng cần thiết. Cần phát huy tính chủ
động, năng động sáng tạo trong hoạt động học, tự do phát biểu ý kiến để rèn
luyện cho mình phương pháp học tập tích cực và bản lĩnh tự tin, biết ứng xử
thông minh, đúng đắn với môi trường xung quanh.
2. Hướng phổ biến đề tài:
Đề tài trên đã mang lại hiệu quả trong việc giảng dạy phân môn Tập làm
văn tiết Trả bài viết ở lớp 5D trường Tiểu học Cầu Khởi A góp phần nâng cao
chất lượng trong công tác giảng dạy. Đề tài này đã được vận dụng trong khối lớp
5 của trường và các trường lân cận trong cụm.
3. Hướng nghiên cứu đề tài:


16


MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài .................................................................................Trang 1
2. Mục đích nghiên cứu ..........................................................................Trang 1
3. Đối tượng nghiên cứu .........................................................................Trang 1
4.Phạm vi nghiên cứu .............................................................................Trang 1
5. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................Trang 1
6. Giả thiết khoa học ...............................................................................Trang 2
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận ........................................................................................Trang 3
2. Cơ sở thực tiễn ....................................................................................Trang 3
3. Vận dụng các giải pháp vào thực tiễn giảng dạy................................ Trang 4
4. Kết quả ..............................................................................................Trang 12
III. KẾT LUẬN
1. Bài học kinh nghiệm .........................................................................Trang 13
2.Hướng phổ biến đề tài .......................................................................Trang 13
3. Hướng nghiên cứu ............................................................................Trang 13

17


Ý KIẾN NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
1. Nhận xét, đánh giá và xếp loại của Hội đồng khoa học trường Tiểu học Cầu
Khởi A.
-Nhận xét, đánh giá :
……………………………………………………………………………………

……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
TM. HĐKH TỈNH

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status