DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ
MỞ ĐẦU
Sự phát triển của nền kinh tế quốc dân và sự tiến bộ của nhân loại đã đẩy
nhanh tiến trình xây dựng công trình. Từ đó, quy mô, kích thước và độ phức tạp của
công trình xây dựng ngày càng gia tăng. Do vậy việc nghiên cứu phương pháp nâng
cao độ chính xác chuyển trục công trình lên sàn tầng xây dựng là rất quan trọng.
Nhiệm vụ chính của phương pháp nâng cao độ chính xác chuyển trục chính công
trình lên sàn tầng xây dựng là đảm bảo cho nó được xây dựng đúng vị trí thiết kế,
đúng kích thước hình học và điều quan trọng nhất của phương pháp nâng cao độ
chính xác chuyển trục công trình lên sàn tầng xây dựng là đảm bảo độ thẳng đứng
của nó.
Để đảm bảo độ thẳng đứng của tòa nhà trên suốt chiều cao cần xây dựng
theo đúng thiết kế, các trục chính của công trình tại tất cả các sàn tầng xây dựng đều
phải được định vị cho cùng nằm trong một mặt phẳng thẳng đứng đi qua các trục
tương ứng trên mặt bằng gốc.
Ngày nay, với việc ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất,việc chuyển trục
chính công trình lên sàn tầng xây dựng đã đạt được độ chính xác cao hơn rất nhiều.
Nhưng do các công trình ngày càng cao hơn nên cần thiết phải tìm ra một phương
án chuyển trục công trình lên sàn tầng xây dựng vừa khả thi đạt được độ chính xác
cao hơn. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng với việc thi công nhà cao tầng và dể
đảm bảo an toàn cho các công trình xây dựng.
Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng đó em đã chọn và nghiên cứu đề tài :
“ Nghiên cứu phương pháp nâng cao độ chính xác chuyển trục chính công
trình lên sàn tầng xây dựng ”.
Nội dung đồ án được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Công tác trắc địa cơ bản trong thi công nhà cao tầng.
xây dựng công trình thì cần phải có một loạt các điểm nối trắc điạ có tọa độ và độ
cao đã biết. Cũng như trong các công tác đo vẽ địa hình, người ta gọi hệ thống các
điểm như thế là “lưới cơ sở của các công tác trắc địa công trình” hoặc “cơ sở trong
bố trí xây dựng”. Nhưng để phục vụ cho bố trí công trình thì lưới trắc địa trên khu
vực xây dựng cần được lập theo hệ tọa dộ giả định (gốc tùy chọn, giá trị tọa độ gốc
tùy đặt, hướng các trục tọa độ tự quy ước và việc đo nối với tọa độ nhà nước chỉ để
dùng cho việc quy đổi tọa độ).
- Mục đích
Trong giai đoạn khảo sát thiết kế:
+ Ở giai đoạn này lưới khống chế chủ yếu phục vụ cho công tác đo vẽ bản đồ
địa hình tỷ lệ 1:500.
Trong giai đoạn thi công công trình các công tác trắc địa có nhiệm vụ chính
là định vị công trình.
+ Từ các mốc trắc địa với các số liệu tương ứng, chuyển các trục chính của
công trình ra ngoài thực địa.
+ Bố trí các trục phụ của công trình, dựa trên cơ sở các trục chính đã được bố
trí
+ Bố trí các điểm chi tiết: Đây là bước đòi hỏi độ cao chính xác cao nhất để
đảm bảo ch công đoạn lắp ráp sau này. Công tác bố trí điểm chi tiết diễn ra trong
suốt quá trình thi công.
+ Đo vẽ hoàn công: Công tác đo vẽ hoàn công được tiến hành khi xây dựng
xong từng bộ phận và khi xây dựng xong toàn bộ công trình, từ đó thành lập bản vẽ
hoàn công tổng thể của công trình.
Trong giai đoạn vận hành công trình:
5
Nhiệm vụ trong giai đoạn này là việc kiểm tra hoạt động của các hạng mục
công trình trong quá trình vận hành khai thác công trình.
- Dạng lưới
Quy phạm đã quy định: Sai số giới hạn vị trí điểm của lưới khống chế đo vẽ
so với các điểm của lưới khống chế cơ sở (lưới nhà nước và tăng dày) không vượt
quá 0,2mm trên bản đồ, tức là MP≤ 0,2mm.M. Đối với vùng cây cối rậm rạp thì yêu
cầu độ chính xác này giảm đi 1,5 lần tức là M P≤ 0,3mm.M, ở đây M là mẫu số tỷ lệ
bản đồ cần thành lập. Đối với bản đồ địa hình dùng để thiết kế, thi công công trình
thì tỷ lệ bản đồ cần thành lập 1:500.
Từ sai số giới hạn MP≤ (0,2mm ÷0,3mm).M, suy ra sai số trung phương vị trí
điểm của cấp khống chế cuối cùng phục vụ cho đo vẽ tỷ lệ lớn 1:5000 ÷ 1:500 m p sẽ
phải nhỏ hơn 2 lần sai số giới hạn vị trí điểm :
mp ≤ 0,5. MP= 0,01mm.M
Với M=500 => mp=50mm
Trường hợp 2: Nếu lưới khống chế mặt bằng được phục vụ cho thi công
công trình (bố trí công trình, lắp đặt thiết bị v.v…) thì tiêu chuẩn đánh giá độ chính
xác của nó là “sai số vị trí tương hỗ của hai điểm lân cận nhau thuộc cấp khống chế
cuối cùng” hoặc “sai số tương hỗ giữa hai điểm trên cùng một khoảng cách nào đó”.
1.1.2. Lưới khống chế độ cao
- Mục đích thành lập lưới
Lưới khống chế độ cao được thành lập trên khu vực xây dựng để cung cấp số
liệu độ cao dùng cho đo vẽ bản đồ địa hình công trình tỷ lệ lớn (M=500), quy hoạch
độ cao của khu xây dựng, cải tạo bề mặt địa hình tự nhiên của khu xây dựng thành
các bề mặt phẳng có độ dốc hoặc hướng dốc theo thiết kế và phục vụ cho công tác
bố trí và xây lắp các công trình về độ cao.
- Đặc điểm
Lưới được thành lập dưới dạng lưới độ cao hạng III, IV. Trên các khu vực có
diện tích rộng cần đặt thêm các vòng thủy chuẩn hạng II.
Lưới độ cao trên khu vực xây dựng công trình thường là lưới độ cao tự do,
trong đó độ cao khởi tính là một độ cao gốc giả định. Tuy nhiên để thống nhất về độ
cao trong đo vẽ bản đồ trong toàn quốc thì lưới độ cao này cần được đo nối với lưới
độ cao nhà nước.
thẳng đi qua mép tường ngoài thiết kế của công trình hoặc có thể là đường thẳng đi
qua tâm của các cột chịu lực của công trình.
+ Đối với các công trình nhỏ, đứng riêng lẻ thì trục chính là các trục đối
xứng.
8
+ Đối với các dạng công trình khác (các công trình có dạng hình tròn, hình
bát giác v.v…) thì trục chính là các đường thẳng xuyên tâm.
+ Tên gọi trục chính: Thông thường các trục dọc thường được đánh dấu bằng
các chữ cái A, B, C,….Z còn các trục ngang được đánh dấu bằng các số 1, 2,…,n.
Điểm các trục chính công trình là điểm giao nhau giữa các trục chính dọc và
các trục chính ngang. Điểm trục chính công trình cũng có thể là điểm đánh dấu một
hướng trục nào đó. Vì vậy, nó là 1 cặp điểm nằm trên hướng của một trục và được
bố trí về hai phía đối diện công trình.
- Yêu cầu về độ chính xác
Theo quan niệm truyền thống, trục cơ bản của tòa nhà thường được chọn là
các đường thằng đi qua mép tường ngoài của tòa nhà và giới hạn đường biên của
nó, hoặc cũng có thể được chọn là trục đối xứng của tòa nhà. Song song với các trục
này sẽ là các trục dọc và ngang định vị các bộ phận chính của tòa nhà. Thông
thường đó là đường tim của các dãy cột chịu lực của tòa nhà. Khoảng cách giữa các
cột này chính là các bước cột và có giá trị từ 6-8m đối với nhà cao tầng. Trong điều
kiện hiện nay các công việc đo đạc về gốc và chiều dài có thể được tiến hành một
cách đồng thời, nhanh chóng với độ chính xác cao bằng các máy toàn đạc điện tự,
thêm vào đó là phạm vi mặt bằng để xây dựng các tòa nhà cao tầng là không lớn
lắm nên hầu như người ta thường sử dụng máy toàn đạc điện tử để bố trí trực tiếp
ngay các điểm định vị các trục công trình (trục định vị các bộ phận chính của tòa
nhà). Các điểm cố định trục này sẽ được dùng làm cơ sở để bố trí các trục chi tiết
của tòa nhà (trục tường, trục cột, v.v.).
điểm trục về sau theo phương pháp tọa độ cực và giao hội cạnh. Sau khi bố trí các
điểm trục cần kiểm tra lại kích thước các đường chéo. Phương pháp đo kích thước
các đường chéo là cách tốt nhất để kiểm tra các khung chữ nhật hoặc hình vuông.
- Cố định các mốc trục
Tùy thuộc vào điều kiện mặt bằng xung quanh công trình mà việc cố định
các trục chính có thể theo các cạch sau:
+ Nếu mặt bằng xây dựng thông thoáng thì ở xung quanh phạm vi xây dựng
công trình và trên hai phía đối diện của hố móng theo hướng mỗi trục chính, cần đặt
một cặp mốc thẳng hàng. Đường thằng đặt qua tâm của hai mốc này và kéo dài vòa
phạm vi xây dựng công trình sẽ chính là hướng của một trục cơ bản nào đó.
+ Nếu mặt bằng xây dựng hẹp hơn, phần đất xung quanh công trình về mỗi
phía không thể đặt được hai mốc (một mốc gần và một mốc xa) như nêu ở trên, thì
ta có thế đặt được một mốc cố định trục.
10
Điểm lưu ý:
+ Các mốc có thể là các cột gỗ hoặc các cột khối bê tông có kích thước
(10x10x70)cm , được chôn sau vào đất và được gia cố chắc chắn, tâm mốc được cố
định bằng đầu đinh có khoan tròn bằng sơn đỏ (hoặc là dấu vạch chữ thập hay lỗ
khoan nhỏ trên tấm thép ở đầu mốc bê tông), bên cạnh có ghi số hiệu của trục.
+ Sau khi kiểm tra thật chắc chắn thì có thể phóng tuyến bằng máy kinh vĩ
dọc trục và đánh dấu trục lên tường của các tòa nhà và công trình xung quanh bằng
dấu kí hiệu trục.
+ Vì các mốc này nằm gần hoặc cách không xa khu vực thi công xây dựng
nên phải thường xuyên theo dõi sự ổn định và kiểm tra sự bảo toàn của các mốc
trong suốt quá trình sử dụng chúng cho các công tác bố trí.
1.3. CÔNG TÁC TRẮC ĐỊA TRONG THI CÔNG MÓNG NHÀ CAO TẦNG
Giai đoạn thi công phần móng công trình là giai đoạn tiến hành xây dựng tòa
nhà đến mức sàn của tầng đầu tiên của công trình. Cơ sở trắc địa cho giai đoạn này
do góc với sai số m ≤ ± 30”, đo cao với sai số m h ≤ ± 10mm. Sau khi làm phẳng đáy
móng thì phải đo vẽ hoàn công. Kích thước thực hiện không được vượt quá kích
thước thiết kế ± 5cm.
Hình 1.2. Truyền độ cao xuống đáy hố móng
12
1.3.2. Công tác trắc địa phục vụ thi công các cọc khoan nhồi
Cọc khoan nhồi hiện nay là loại móng chủ yếu đê xây dựng nhà cao tầng
trong phạm vi thành phố, vì vậy bố trí các loại cọc khoan nhồi là dạng công việc
thường gặp nhất trong việc xây dựng phần móng công trình.
- Yêu cầu về độ chính xác vị trí cọc khoan nhồi
Yêu cầu về độ chính xác vị trí cọc khoan nhồi tùy thuộc vào công nghệ
khoan, phương pháp giữ thành, vị trí của cọc trong hệ thống móng, công nghệ đổ bê
tông sau đó.v.v.
Dưới đây là trích dẫn các sai số cho phép đối với khoan cọc nhồi ( Bảng 1.1.)
Bảng 1.1. Bảng sai số cho phép đối với khoan cọc nhồi
Phương pháp tạo lỗ cọc
Sai số về vị trí cọc
Cọc đơn, cọc Cọc đơn, cọc dưới
dưới móng băng móng băng theo
theo trục ngang, trục dọc, ở trong
cọc
1- Cọc khoan giữ D ≤ 1000mm
thành bằng dung dịch
D > 1000m
sét
cốt cao đầu cọc quy định trong thiết kế, D là đường kính thiết kế của cọc.
Cần lưu ý rằng sai số lớn nhất ảnh hưởng đến vị trí cọc nhồi, sai số đo đạc bố
trí lỗ khoan có thể cho phép từ 15-30mm.
- Phương pháp bố trí
13
Do đặc điểm địa chất của đất nền , nên hầu hết các nhà cao tầng đều được
xây dựng trên các móng cọc, trong đó chủ yếu là khoan cọc nhồi. Có thể nói, cọc
khoan nhồi là một trong những giải pháp móng thích hợp nhất đối với những công
trình có tải trọng lớn, nhất là khi các điều kiện thi công bằng cách khác gặp khó
khăn, hoặc điều kiện địa chất công trình phức tạp và trong điều kiện xây chen.
Dựa vào bản vẽ móng cọc ,vị trí các cọ khoan nhồi sẽ được xác định từ các
điểm cố định trục theo phương pháp tọa độ cực bằng máy toàn đạc điện tử, hoặc có
thể sử dụng máy kinh vĩ cộng thước thép để bố trí theo phương pháp tọa độ cực
hoặc phương pháp giao hội hướng. Vị trí cọc khoan nhồi sẽ được đánh dấu trên mặt
đất bằng các cọc gỗ, đầu cọc được sơn đỏ và có ghi số hiệu cọc để đơn vị thi công
dễ nhận biết.
Sau khi các cọc khoan nhồi đã được thi công xong và đầu cọc nhồi đã được
cắt đến độ cao thiết kế, người ta bắt đầu đào bớt đất tại các cụm cọc nhồi để chuẩn
bị cho việc thi công các đài cọc.
- Đo kiểm tra hoàn công các đầu cọc
Công việc kiểm tra hoàn công các đầu cọc nhồi cũng được thực hiện từ các
điểm cố định trục bằng phương pháp tọa độ cực. Hoặc có thể tiến hành một cách
đơn giản là chuyển trực tiếp các trục dọc và ngang thiết kế của dãy cọc lên đầu các
cọc và đo trực tiếp độ lệch của tâm cọc so với các vạch trục này. Đồng thời với việc
kiểm tra vị trí mặt bằng, người ta cũng kiểm tra vị trí độ cao của các đầu cọc nhằm
phát hiện các sai lệch sau quá trình thi công, lập biên bản bàn giao cho đơn vị thi
công tiếp theo.
trục chính, hệ thống các khung định vị và các trục đã được chuyển lên ván khuôn.
Dựa vào các trục này người ta dùng dây dọi và thước thép để đo khoảng cách đến
các tâm của các bộ phận trong móng. Kiểm tra lại vị trí tương hỗ của các tim cột,
các thanh chờ cà độ cao của các bộ phận quan trọng trong móng cũng được kiểm tra
bằng máy thủy chuẩn. Theo các số liệu kiểm tra, ta tính được các sai lệch so với
thiết kế đọc theo các trục dọc và ngang, các sai lệch về độ cao, sai lệch về kết cấu
thép chờ .v.v. để từ đó có biện pháp chỉnh kịp thời trước khi đổ bê tông móng.
- Đo vẽ hoàn công hố móng sau khi đổ bê tông
Trong quá trình đổ bê tông, dưới tác động của đầm rung, các bộ phận được
đặt trong móng cũng như các ván khuôn có thể bị xê dịch đi đôi chút.
Ngoài ra do sự co ngót của bê tông cũng làm cho bề mặt bị bê tông bị giảm
độ cao .v.v. Vì vậy, để biết rõ vị trí thực tế của các bộ phận lắp đặt cũng như xác
15
định các kích thước và độ cao phần móng, sau khi tháo dỡ các ván khuôn cần phải
đo vẽ hoàn công móng.
Để làm việc này, các trục chính sẽ được chuyển trực tiếp lên bề mặt bê tông
của móng bằng phương pháp dóng hướng và đánh dấu chúng bằng nét vạch mảnh, ở
những chỗ có đặt mốc bằng kim loại thì trục được đánh dấu trực tiếp lên mặt các
mốc này. Sau đó dùng thước cuộn đo trực tiếp trên bề mặt bê tông khoảng cách từ
các trục dọc và ngang đến các chốt bulông và các bộ phận khác đã được lắp đặt vào
móng, các khoảng cách đến ranh giới của bê tông, các chỗ lồi lõm, các lỗ cửa được
chừa ra ... Đồng thời xác định độ cao của các đầu bulông, các bản neo, bản tựa và
mặt bê tông ở cạnh chúng, độ cao các vị trí đặc trưng của các đường ống trong
móng … Đối với các móng đai của tường nhà, cần đo vẽ vị trí của mặt bằng và độ
cao của tất cả các lỗ hổng đã được chừa ra để sau này đặt các đường ống dẫn ngầm.
Độ chính xác đo vẽ hoàn công móng được quy định như sau: Khoảng cách
đo từ trục đến các bộ phận được đặt trong móng và độ cao của chúng được xác định
các điểm trục vừa chuyển này. Tiến hành bình sai thu được tọa độ thực tế các điểm
trục vừa bố trí. Tọa độ sau bình sai của các điểm lưới (điểm trục gửi) so với thiết kế
nếu nhỏ hơn hạn sai thì sử dụng các điểm này là cơ sở chuyển lên các mặt sàn xây
dựng, nếu vượt hạn sai tiến hành hoàn nguyên điểm lưới để đưa chúng về vị trí thiết
kế.
Độ chính xác của các điểm trục này phải cao hơn độ chính xác chuyển trục
công trình lên sàn tầng một bậc. Nếu yêu cầu độ chính xác chuyển trục lên các sàn
tầng xây dựng khoảng ± 5mm, thì độ chính xác của các điểm trục gửi trên mặt bằng
móng khoảng ±2mm ÷ ±3mm.
- Xây dựng cơ sở về độ cao
Cùng với việc chuyển các điểm trục công trình vào trong lòng nhà và lập
lưới bố trí cơ sở mặt bằng gốc của tòa nhà, tiến hành chuyển độ cao từ mốc đã biết
phía ngoài công trình vào trong lòng nhà. Việc chuyển độ cao được thực hiện bằng
phương pháp thủy chuẩn hình học, các điểm độ cao được gắn trên mặt sàn, lên
tường hoặc cột tại những vị trí thuận tiện cho công tác đo đạc nhưng vẫn phải đảm
bảo độ an toàn và ổn định trong suốt quá trình thi công công trình.
1.4.2. Chuyển các yếu tố mặt bằng và độ cao lên các sàn tầng
1.4.2.1. Chuyển mặt bằng lên các sàn tầng
Để đảm bảo độ thẳng đứng của tòa nhà trên suốt chiều cao cần xây dựng
theo thiết kế, các trục công trình tại tất cả các tầng xây dựng đều phải được định vì
17
sao cho cùng nằm trong mặt phẳng đúng đi qua các trục tương ứng trên mặt bằng
gốc cần được chuyển lên mặt sàn tầng thi công xây dựng của các tầng theo một
đường thẳng đứng.
Thông thường người ta không chuyển trực tiếp tất cả các điểm của lưới bố trí
cơ sở trên mặt bằng gốc lên các mặt bằng lắp ráp xây dựng tiếp theo mà chỉ chuyển
một số điểm nhất định được chọn làm điểm gốc. Việc lựa chọn các điểm nào làm
điểm gốc để chuyển lên các tầng trên được dựa trên cơ sở:
3
4
5
5
Trong xây dựng các công trình cao nhiều tầng, tùy thuộc vào kiểu của tòa
nhà hoặc công trình, chiều cao và sô tầng, các đặc điểm kết cấu và sự phức tạp của
các thiết bị và công nghệ lắp đặt bên trong công trình đó, cũng như tùy thuộc vào
điều kiện mặt bằng xung quanh công trình đang xây dựng mà việc chuyển (chiếu)
các điểm của lưới cơ sở lên các mặt bằng xây lắp có thể thực hiện bằng một trong
các phương pháp sau:
18
+ Phương pháp dùng dây dọi chính xác
+ Phương pháp sử dụng máy kinh vĩ
+ Phương pháp sử dụng máy toàn đạc điện tử
+ Phương pháp sử dụng máy chiếu đứng
+ Phương pháp chuyển điểm bằng công nghệ GPS
Các phương pháp trên sẽ được trình bày cụ thể ở chương 2 đồng thời sẽ có
một số đề xuất để nâng cao độ chính xác công tác chuyển trục công trình trên các
sàn tầng xây dựng.
1.4.2.2. Chuyển độ cao lên các sàn tầng
Khi các điểm độ cao đã được chuyển vào trong công trình, coi độ cao các
điểm này là cơ sở để chuyển lên sàn tầng xây dựng.
Một số phương pháp chuyển độ cao lên các sàn tầng:
+ Dẫn độ cao hình học theo đường cầu thang bộ
Để nâng cao độ chính xác và kiểm tra kết quả đo, việc chuyển độ cao
như trên có thể được thực hiện từ một mốc độ cao góc thứ hai và sau
khi đã thay đổi độ cao máy hoặc vị trí của thước thép treo.
•
Thước thép phải được kiểm nghiệm trước khi sử dụng.
•
Để khắc phục các sai số của máy (sai số góc i) thì vị trí đặt máy thủy
chuẩn nên đảm bảo sự cân bằng khoảng ngắm giữa máy đến thước
thép và mia.
1.4.3. Công tác bố trí chi tiết và đo kiểm tra trong thi công xây dựng
- Công tác bố trí chi tiết
Bố trí mặt bằng: Công việc bố trí mặt bằng kể từ mặt sần của tầng thứ 2 được
thực hiện ngay từ trước khi đổ bê tông sàn. Công việc bố trí về mặt bằng lúc này là
phải định vị rõ vị trí đường biên theo thiết kế của mặt sàn và vị trí của tất cả các trục
và các chi tiết khác của tòa nhà.
Cơ sở để bố trí chi tiết về mặt bằng là các điểm khống chế đã được lần lượt
chuyển lên các tầng từ mạng lưới trên mặt bằng gốc. Việc bố trí chi tiết theo hướng
các cạnh, hoặc dựng các góc vuông với các cạnh của lưới. Sau đó dựa theo hướng
chuẩn vừa xác định, người ta sẽ đặt khoảng cách thiết kế giữa các trục được lấy từ
bản vẽ thi công để xác định các trục chi tiết của từng bộ phận. Việc đo chiều dài
20
được tiến hành bằng thước thép do trực tiếp lên mặt bê tông. Vị trí giao nhau giữa
các trục sẽ được đánh dấu bằng các đinh bê tông dài 3-5cm có dấu tâm tròn hoặc
nằm trên thành phía trong của cốt pha biên. Tất cả các giá trị đo kiểm tra trên đều
được so sánh với giá trị thiết kế đã được ghi trên các bản vẽ thi công. Tùy thuộc vào
tính chất quan trọng của từng vị trí đo kiểm tra mà sai lệch so với giá trị thiết kế có
thể cho phép từ 0,5 – 1cm.
Khi đổ bê tông các cột chịu lực, tường bê tông của tông của giếng thang
máy, các bộ phận công trình bê tông khác, công tác đo kiểm tra bao gồm: Kiểm tra
độ lệch so với thiết kế của đường mép trong ván khuôn, vị trí các trục ván khuôn,
độ thẳng đứng của thành ván khuôn, kích thước và hình dạng của các ván khuôn…
Tất cả các mục kiểm tra chi tiết đều phải lập bản vẽ hoàn công, trên đó có chỉ
rõ các giá trị độ lệch tại các vị trí so với giá trị thiết kế, độ nghiêng và hướng
nghiêng. Sau đó bàn giao cho đơn vị thi công để chỉnh sửa lại ngay. Công việc đổ
bê tông chỉ được cho phép tiến hành đối với các hạng mục công trình mà kết quả
kiểm tra lần cuối cho thấy đã đạt các yêu cầu độ chính xác đã cho trong bản thiết kế
nhà thầu quy định.
Các công việc đo kiểm tra hoàn công sau khi đổ bê tông hoặc sau khi xây
dựng các tường ngăn cũng được tiến hành tương tự.
Các phương pháp đo kiểm tra hoàn công thường áp dụng là: Phương pháp
các đường vuông góc (tọa độ vuông góc), phương pháp ngắm chuẩn cạnh sườn,
phương pháp giao hội cạnh hoặc phương pháp đo tọa độ bằng các máy toàn đạc
điện tử chính xác, sử dụng các gương chuyên dụng loại nhỏ.
Để làm cơ sở cho các công việc đo kiểm tra nêu trên, sau khi đổ bê tông và
tháo dỡ ván khuôn, cần khôi phục lại vị trí các trục đã đánh dấu dựa vào các dấu
đinh bê tông đã được cố định trên mặt sàn sau khi đổ bê tông sàn tầng.
Đo kiểm tra về độ cao: công việc đo kiểm tra về độ cao đối với mỗi tầng
được bắt đầu bằng việc đo kiểm tra độ cao mặt sàn trước khi đổ bê tông. Để làm
việc này, máy thủy chuẩn cần đặt tại các vị trí ổn định, ví dụ như trên đầu các cột
lớn đã đổ bê tông hoặc trên các mặt sàn đã đổ bê tông của các công trình lân cận.
Các điểm đo kiểm tra phải bố trí theo các tuyến song song với các trục và phân bố
số
phương
trung
chuyển
các điểm, các trục
theo
Chiều cao của mặt bằng thi công xây dựng (m)
thực hiện và thi công.
Sau khi đã gửi các điểm đầu trục ra ngoài ta tiến hành chuyền tọa độ. Máy
kinh vĩ được đặt tại các điểm gửi và được định tâm, cân bằng cẩn thận. Sau đó dùng
chỉ đứng giữa ngắm vào điểm dấu trục ở tường bao rồi cố định trục quay máy, nâng
ống kính lên đánh dấu trục vào chân tường tầng 1. Tiếp tục nâng ống kính lên đánh
dấu trục lên tường ở mặt sàn cần chuyển lưới ở phía trên bằng hai vị trí bàn độ.
Sauk hi thực hiện việc chiếu điểm theo hai phương vuông góc với nhau ở mặt bằng
tầng 1 đi qua điểm đã có là sẽ chuyển được điểm trục lên theo phương pháp thẳng
đứng như hình 2.2.
25