BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÌNH HÌNH SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI DÂN TẠI MỘT SỐ XÃ VEN BIỂN TỈNH BẾN TRE - Pdf 35

Viện Vệ sinh Y tế Công cộng thành phố Hồ Chí Minh
HỘI NGHỊ KHOA HỌC KỸ THUẬT YTCC-YHDP 2012

BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÌNH HÌNH SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI DÂN TẠI
MỘT SỐ XÃ VEN BIỂN TỈNH BẾN TRE
Đặng Ngọc Chánh*, Lê Ngọc Diệp*, Ngô Khần*
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Trong các thập kỷ gần đây, các thiên tai như bão, lụt, xâm nhập mặn... xảy ra
thường xuyên hơn và khó dự đoán. Trong đó, Bến Tre được đánh giá là một trong những tỉnh bị
ảnh hưởng nặng và người dân tại các vùng ven biển sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp và nặng nề
nhất. Do đó, nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu, cụ thể là tác động lên tình trạng sức
khỏe của người dân hiện đang sinh sống trên khu vực ven biển là một điều hết sức cần thiết để
từ đó có thể đưa ra các chính sách chiến lược phù hợp nhằm ứng phó kịp thời với những thay
đổi trên.

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá mức độ biến đổi thời tiết và tình trạng sức khoẻ của
người dân tại các huyện ven biển tỉnh Bến Tre.
Phương pháp nghiên cứu: Phỏng vấn thông qua bảng câu hỏi kết hợp với thu thập số liệu
tại trạm khí tượng thủy văn tỉnh Bến Tre.
Kết quả nghiên cứu: Số liệu cung cấp từ trạm khí tượng thủy văn tỉnh Bến Tre cho thấy
mức nhiệt trung bình của tỉnh Bến Tre hiện nay cao hơn 5 năm trước từ 0,2 – 0,50C. Mực nước
tại 2 khu vực sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên đang có khuynh hướng dâng lên và mức độ
nhiễm mặn gia tăng rõ rệt. Tỷ lệ mắc các bệnh có liên quan hay chịu ảnh hưởng do tình trạng
biến đổi khí hậu tại các xã đều chiếm trên 80%, đặc biệt ở một số bệnh như tiêu chảy, cảm và
tai mũi họng.
Kết luận: Kết quả phân tích khí tượng thủy văn cho thấy diễn biến của khí hậu thời tiết có
sự thay đổi qua các năm, tỷ lệ mắc các bệnh có liên quan hay chịu ảnh hưởng do tình trạng biến
đổi khí hậu tại các xã ven biển tại đây khá cao.
Từ khoá: biến đổi khí hậu, tình hình sức khoẻ, vùng ven biển

SUMMARY

communes community is high.
Key words: climate change, health status, coastal area.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Biến đổi khí hậu ngày càng trở thành vấn đề thách thức to lớn được toàn cầu quan tâm, các
nhà khoa học đã tìm ra mối liên quan chặt chẽ giữa khí hậu địa phương ảnh hưởng đến sự xuất
hiện hay mức độ nghiêm trọng của một số bệnh và các mối đe dọa khác đối với sức khỏe con
người. Tổ chức Y Tế Thế Giới ước tính rằng 1/4 gánh nặng bệnh tật của thế giới là do ô nhiễm
không khí, đất, nước và thực phẩm, các khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất bao gồm châu Phi,
tiểu lục địa Ấn Độ và tại Đông Nam Á [1]. Tại Việt Nam trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ
trung bình năm đã tăng lên khoảng 0,3-0,50C, mực nước biển đã dâng lên khoảng 20cm [2]. Biển
đổi khí hậu đã làm cho các thiên tai, đặc biệt là bão, lũ, hạn hán ngày càng ác liệt. Những yếu tố
đó sẽ làm gia tăng ngập lụt, xâm nhập mặn, lan tràn chua phèn… và dẫn tới những hệ lụy khác
như làm gia tăng các rủi ro về sức khỏe do các đợt nắng nóng gay gắt. Một nghiên cứu cho thấy
nếu mực nước biển dâng cao 1m sẽ ảnh hưởng khoảng 5% diện tích đất của Việt Nam và 11%
dân số cả nước [3]. Trong các thập kỷ gần đây, yếu tố khí tượng thủy văn tại vùng đồng bằng
sông Cửu Long tiếp tục thay đổi theo chiều hướng xấu. Các thiên tai như bão tố, lụt lội, xâm
nhập mặn... xảy ra thường xuyên hơn và khó dự đoán [4]. Khảo sát của Viện Khoa học Khí
tượng thủy văn và môi trường cho biết tại Bến Tre mực nước biển đã dâng lên khoảng 20cm, ô
nhiễm mặn đã tăng lên khoảng 20% so với trước đó 10 năm (năm 1990) và hiện tượng thời tiết
cực đoan xuất hiện ngày càng nhiều [2]. Nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu, cụ thể là
tác động lên tình trạng sức khỏe của người dân hiện đang sinh sống trên khu vực ven biển là
một điều hết sức cần thiết, từ đó có thể đưa ra các chính sách chiến lược phù hợp để có thể ứng
phó kịp thời với những thay đổi trên.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu tổng quát: Đánh giá mức độ biến đổi thời tiết và tình trạng sức khoẻ của người dân
tại các huyện ven biển tỉnh Bến Tre.
Mục tiêu cụ thể:
− Đánh giá mức độ biến đổi thời tiết thay đổi trong 5 năm từ 2006-2010.
− Khảo sát tình trạng sức khoẻ của người dân tại 4 xã ven biển thuộc huyện Thạnh Phú
và Ba Tri, tỉnh Bến Tre.


Nhiệt độ (oC)

29
28
27
26
25
24
1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

4 người bị thương và 2 người chết [5].
Mùa mưa năm 2009 và năm 2010 huyện Ba Tri có lưu lượng mưa thấp nhất trong 5 năm
từ 2006 – 2010 chỉ có 78,5 mm. Trong thời điểm giữa mùa mưa từ 2006 – 2009 (từ tháng 5 đến
tháng 9 hằng năm), lưu lượng mưa thấp nhất đo được là 200 mm và cao nhất là 358 mm. Tuy
nhiên trong năm 2010 lượng mưa diễn biến có phần bất thường hơn, cụ thể là vào thời điểm
giữa mùa mưa, lượng mưa đo được thấp nhất là 78,5 mm và cao nhất 288,2 mm.
450

400

400

350

350

L ư ợ n g m ư a (m m )

450

300

L ư ợ n g m ư a (m m )

300

250

250



6
2007

7
2008

8
2009

9

10

11

12

2010

1

2

3

4

5
2006

bình cao nhất tăng ít hơn, từ 41cm lên 43cm. Điều này cho thấy mực nước tại 2 khu vực sông
Hàm Luông và sông Cổ Chiên đang có khuynh hướng dâng lên, gây nguy cơ xâm lấn ảnh
hưởng đến đời sống của người dân tại huyện Ba Tri nói riêng và người dân tại các vùng ven lưu
vực sông nói chung.

4


Viện Vệ sinh Y tế Công cộng thành phố Hồ Chí Minh
HỘI NGHỊ KHOA HỌC KỸ THUẬT YTCC-YHDP 2012
50

40

40

30

30

20

20

10

10

2006
2007

Hình 3: Mực nước bình quân tại 2 huyện từ năm 2006 đến 2010
Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn tỉnh Bến Tre
Tại huyện Thạnh Phú, độ mặn cao nhất xảy ra vào khoảng từ tháng 3 và tháng 4 mỗi
năm, dao động từ 26,1‰ (năm 2009) đến 29,6‰ (năm 2007). Đặc biệt trong năm 2010 mức độ
nhiễm mặn có khuynh hướng tăng vượt trội từ tháng 5 đến tháng 7 trong khi mực nước sông
giảm không đáng kể so với các năm trước đó. So với huyện Thanh Phú, tại Ba Tri mức độ
nhiễm mặn tại đây khá cao và cũng tăng dần rõ rệt theo các năm. Trong đó độ mặn đạt đỉnh cao
nhất trong suốt 5 năm khảo sát là 30‰ vào tháng 3 năm 2010, tăng 6,1‰ so với tháng nhiễm
mặn cao nhất của năm 2006. Với tình hình tiếp diễn như trên sẽ gây ảnh hưởng khá nghiêm
trọng đối với hệ sinh thái động thực vật, đồng thời bên cạnh đó sẽ ảnh hưởng đến đời sống kinh
tế của người dân tại đây. Chính vì vậy người dân và các cấp chính quyền cần có các biện pháp
khắc phục phù hợp, thay đổi cơ cấu sản xuất kinh tế, hệ sinh thái động thực vật nhằm thích ứng
và giảm thiểu tác hại với tình hình biến đổi như trên.
35
30
25
20

15
10
5
0
2

3

4

Tháng


Tuy nhiên, thói quen trong sử dụng nước ăn uống của người dân nguồn nước mưa vẫn
đóng vai trò chủ yếu, tỷ lệ hộ chỉ sử dụng nước giếng cho mục đích ăn uống chiếm 8,8% tại
huyện Thạnh Phú và 5,8% tại huyện Ba Tri.
100

87.5 85.67

80
60

Thạnh Phú
Ba Tri

%
40

19.67

20
0

13.67

11.33
0.17
Nước máy

Nước mưa

Nước giếng

khí hậu sẽ gây ảnh hưởng lớn hơn nữa đến các đối tượng này, đặc biệt là hạn chế về mặt dinh
dưỡng và điều trị ở các đối tượng có điều kiện kinh tế thấp.
250

200

203

150

Thạnh Phú

122

Ba Tri
100

86

85
43

38

50

21

55
28

Hình 6: Tình hình mắc bệnh của của người dân tại huyện Thạnh Phú và Ba Tri
Tuy nhiên tỷ lệ mắc tiêu chảy trong vòng 1 năm trước thời điểm khảo sát ở cả 2 huyện
tương đối thấp (chiếm 2,27% tại Thạnh Phú và 3,67% tại Ba Tri), điều này một phần do tình
hình sử dụng nước dùng cho mục đích ăn uống đều là nước mưa hoặc nước giếng đã qua đun
nấu. Thêm vào đó, các thói quen xử trí thức ăn thừa hằng ngày của người dân (hình 7) cho thấy
rằng đa số đều tuân thủ khá tốt, phần lớn thức ăn thừa được hâm nóng trước khi ăn hoặc không
để thức ăn thừa vào các ngày kế tiếp, riêng chỉ có 2 hộ tại mỗi xã Thạnh Phong, Bảo Thuận và
An Thuỷ chưa đảm bảo được vấn đề trên.
80

58.83
57.17

%

60

Thạnh Phú

40
20

19.83
11.67

18.67
13.50

17.00



các xã ven biển cách xa trung tâm huyện cũng như thị xã, đối với người dân tại huyện Thạnh
Phú để có thể đến bệnh viện hay trung tâm y tế huyện khám chữa bệnh phải di chuyển qua phà
gây khó khăn trong việc đi lại. Việc người dân tập trung đến khám tại trạm y tế bên cạnh việc
giúp quản lý được tình hình bệnh tật của địa phương, giảm được hiện tượng quá tải cho các cơ
sở tuyến trên nhưng mặt khác đặt ra yêu cầu cần phải nâng cao năng lực chuyên môn tại tuyến
xã để có thể tầm soát chuẩn đoán bệnh kịp thời.
Bảng 1: Tình hình chọn lựa loại hình khám chữa bệnh của người dân
Thạnh Phú
Ba Tri
Loại hình khám chữa bệnh
Tần số
Tần số
Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ (%)
(n= 600)
(n= 600)
5,33
15,33
32
92
− Bệnh viện
7,33
5,83
44
35
− Trung tâm y tế huyện
85,5
76,5
513

Thạnh
Ba Tri
Thuận
Thuỷ
Hải
Phong
Phú
Tổng số người mắc
bệnh trong năm
Tổng số người các mắc
bệnh có liên quan/ảnh
hưởng do biến đổi khí
hậu

360

734

374

629
309
320
(85,83%) (85,56%) (85,69%)

266
215
(80,83%)

291

Tần số (%)
Tần số (%)
Tuổi
- Từ 16 – 40 tuổi
- Từ 41 – 60 tuổi
- Trên 60 tuổi
Tình trạng kinh tế gia đình
- Từ trung bình trở lên
- Cận nghèo
- Nghèo
Tình hình thực hành vệ sinh
- Tốt
- Chưa tốt

177 (36,12%) 313 (63,88%)
183 (37,20%) 309 (62,80%)
76 (34,86%) 142 (65,14%)

0,26
0,16

1
1,16
1,85

0,89-1,52
0,79-4,32

299 (35,09%) 553 (64,91%)
11 (50%)

dần qua các năm khảo sát.
− Mức độ nhiễm mặn thu được tại trạm quan trắc Hàm Luông và Cổ Chiên khá cao và tăng
dần rõ rệt theo các năm.
− Phần lớn nguồn nước sử dụng cho mục đích ăn uống tại các xã đều là nước mưa hoặc nước giếng.
Tỷ lệ uống nước đun sôi tại các xã khá cao (chiếm trên 90%).
− Loại hình khám chữa bệnh thường được đa số người dân lựa chọn là trạm y tế xã.
− Tình hình bệnh tật:
• Tỷ lệ mắc các bệnh có liên quan hay chịu ảnh hưởng do tình trạng biến đổi khí hậu tại
các xã đều chiếm trên 80%. Số lượng người dân mắc bệnh tại các xã ven biển của huyện
Thạnh Phú cao đáng kể so với huyện Ba Tri (gấp 1,3 lần). Đặc biệt ở một số bệnh như
tiêu chảy, cảm và tai mũi họng.

9


Viện Vệ sinh Y tế Công cộng thành phố Hồ Chí Minh
HỘI NGHỊ KHOA HỌC KỸ THUẬT YTCC-YHDP 2012



Không có sự liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tình hình mắc bệnh với các yếu tố như
nhóm tuổi, tình trạng kinh tế gia đình và tình hình thực hành vệ sinh.

ĐỀ XUẤT – KIẾN NGHỊ
1. Các ban ngày chức năng cần bám sát vào sự chỉ đạo của Trung ương, hoàn chỉnh cơ cấu
tổ chức ứng phó BĐKH của tỉnh.

2. Tăng cường đầu tư các mô hình điểm ứng phó BĐKH; lồng ghép thích ứng và
giảm nhẹ BĐKH vào các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
3. Tăng cường nâng cao năng lực ứng phó BĐKH cho các cấp, ngành và đơn vị đoàn thể;

Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội,

10


Viện Vệ sinh Y tế Công cộng thành phố Hồ Chí Minh
HỘI NGHỊ KHOA HỌC KỸ THUẬT YTCC-YHDP 2012

3. Greet, Ruysschaert Peter (2007), Climate change and human development in Viet Nam:
Case Study for the Human Development Report 2007/2008.
4. Tổng cục môi trường (2010), Xây dựng và thực hiện các biện pháp giảm nhẹ tác động của
biến đổi khí hậu. Tạp chí môi trường.
5. Trạm y tế xã Bảo Thuận (2011), Báo cáo tình hình bệnh tật 5 năm từ 2006-2010.
6. Viện Khoa học Khí tượng thuỷ văn và Môi trường (2011), Biến đổi khí hậu gia tăng các
bệnh đường hô hấp.
7. CDC (2009), Health effects, />
11




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status