MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hiện nay, thế giới đang phải đối mặt với nhiều thách thức do biến đổi toàn
cầu. Để đạt được sự phát triển bền vững, nhiều quốc gia và khu vực đã thực hiện
chuyển đổi từ tăng trưởng nóng, tăng trưởng theo chiều rộng sang các mô hình tăng
trưởng bền vững. Trong đó, tăng trưởng xanh là một mô hình phổ biến, tập trung vào
“...quá trình tái cơ cấu lại hoạt động kinh tế và cơ sở hạ tầng để thu được kết quả tốt
hơn từ các khoản đầu tư cho tài nguyên, nhân lực và tài chính, đồng thời giảm phát
thải khí nhà kính, khai thác và sử dụng ít tài nguyên thiên nhiên hơn, tạo ra ít chất
thải hơn và giảm sự mất công bằng trong xã hội”.
Nằm ở dải ven biển thuộc TP. Hải Phòng, các quận Hải An, Dương Kinh,
Hồng Bàng, Ngô Quyền và Đồ Sơn là đầu mối giao thông của thành phố, bao gồm
các tuyến đường quan trọng: đường bộ (điển hình là Quốc lộ 5 nối liền Hà Nội với
Hải Phòng), đường thuỷ (với mật độ cảng lớn như cảng Đình Vũ, Chùa Vẽ, cảng
Cửa Cấm, cảng Quân sự và một số cảng chuyên dùng khác), đường sắt (từ ga Lạc
Viên đến cảng Chùa Vẽ), đường hàng không (sân bay Cát Bi). Bên cạnh đó, khu vực
còn có một số tài nguyên như khoáng sản và đất mặn, đất ngập nước ven sông, ven
biển. Yếu tố biển – hải đảo đã tạo cho khu vực các quận ven biển này vị thế địa
chính trị - địa kinh tế - địa quân sự trọng yếu của miền Bắc và cả nước. Khai thác
hợp lý lợi thế cạnh tranh từ các không gian biển là định hướng quan trọng nhằm phát
triển nhanh, hiệu quả và bền vững kinh tế biển Hải Phòng.
Mặc dù có những lợi thế và đã có sự phát triển KTXH, tuy nhiên hiện nay Hải
Phòng nói chung và các quận ven biển đang phải đương đầu với nhiều thách thức.
Quy mô nền kinh tế trong 10 năm qua (2003 – 2012) phát triển chưa tương xứng với
tiềm năng và lợi thế sẵn có (GDP Hải Phòng tuy đứng thứ 2 các tỉnh phía Bắc nhưng
chỉ bằng 1/4 so với thủ đô Hà Nội và không hơn nhiều so với các tỉnh còn lại). Điều
chỉnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, chuyển đổi phương thức phát triển, đổi mới mô
hình tăng trưởng để trở thành trung tâm thành phố lớn chưa rõ nét và còn chậm.
Công tác quản lý sử dụng đất đai, quy hoạch, BVMT có hiệu quả, nhưng còn thiếu
đồng bộ; môi trường chưa thực sự phát triển bền vững, đồng thời còn tiềm ẩn nhiều
rủi ro. Tiềm năng phát triển kinh tế biển và sử dụng hợp lý không gian biển chưa
- Phân vùng chức năng và đánh giá các vấn đề về KTXH và môi trường nổi
cộm tại các tiểu vùng chức năng.
- Đề xuất phương án tổ chức không gian lồng ghép TTX cho khu vực các
quận ven biển thuộc TP. Hải Phòng.
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
a) Phạm vi không gian
Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi ranh giới hành chính của 5 quận
ven biển thuộc TP. Hải Phòng được xác định trong đề án “Quy hoạch không gian
biển của TP.Hải Phòng năm 2012, bao gồm quận Hồng Bàng, Ngô Quyền, Hải An,
Dương Kinh và Đồ Sơn.
2
b) Phạm vi khoa học
Trong phạm vi của đề tài luận văn, một số vấn đề nghiên cứu khoa học được
giới hạn ở những nội dung cần giải quyết như sau:
- Phân tích thực trạng, biến đổi KTXH và môi trường trong giai đoạn 20032012. Trong đó năm 2003 là mốc thời điểm TP. Hải Phòng bắt đầu thực hiện Nghị
quyết 32-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Xây dựng và phát triển TP. Hải Phòng trong
thời kỳ CNH-HĐH đất nước”. Năm 2012 là thời điểm gần nhất có thể thu thập số
liệu đồng bộ về KTXH và MT cho toàn bộ khu vực nghiên cứu.
- Phân tích, đánh giá hiện trạng, xu thế biến đổi KTXH và môi trường khu vực
nghiên cứu dưới góc độ TTX.
- Dự báo xu thế phát triển KTXH và MT căn cứ vào số liệu dự báo cho toàn
TP. Hải Phòng, được điều chỉnh cụ thể cho khu vực nghiên cứu.
- Định hướng tổ chức không gian phục vụ TTX trên cơ sở phân vùng chức
năng và lồng ghép các tiêu chí TTX tại từng không gian.
4. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
a) Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm phong phú hướng nghiên cứu
địa lý ứng dụng trong quản lý môi trường, tổ chức không gian phục vụ TTX.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn được trình bày trong 3
chương gồm 91 trang, được minh họa bởi 07 bản đồ, 04 biểu đồ và 16 bảng số liệu.
- Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu tổ chức không gian
lồng ghép TTX tại khu vực ven biển.
- Chương 2: Phân tích hiện trạng và diễn biến về kinh tế xã hội và môi trường
tại các quận ven biển thuộc TP. Hải Phòng.
- Chương 3: Phân vùng chức năng và đề xuất phương án tổ chức không gian
lồng ghép TTX tại các quận ven biển thuộc TP. Hải Phòng.
4
Chương 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
TỔ CHỨC KHÔNG GIAN LỒNG GHÉP TĂNG TRƯỞNG XANH
TẠI KHU VỰC VEN BIỂN
1.1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1. Nghiên cứu khoa học và thực tiễn triển khai tăng trưởng xanh trên thế
giới và Việt Nam
a) Trên thế giới
* Các công trình nghiên cứu khoa học
Tăng trưởng xanh trên thế giới và các vấn đề liên quan được đề cập tới trong
một số công trình khoa học tiêu biểu gần đây. Trong tài liệu “Hướng tới nền kinh tế
xanh” do Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc (UNEP) công bố năm 2011,
mô hình kịch bản đầu tư xanh với số vốn khoảng 2% GDP toàn cầu (khoảng 1300 tỷ
USD), trong đó khoảng một phần tư của tổng số (0,5% GDP) được đề xuất đầu tư
cho các lĩnh vực sử dụng nhiều vốn tự nhiên như các ngành nông nghiệp, lâm
nghiệp, nước sạch và thủy sản. Trong mô hình kinh tế vĩ mô, các tác giả cũng đã tính
toán và chỉ ra rằng, xét trong dài hạn, đầu tư vào nền kinh tế xanh sẽ cải thiện hiệu
quả kinh tế và tăng tổng lượng của cải trên toàn cầu. Xây dựng một nền kinh tế xanh
được khẳng định không thay thế và mâu thuẫn với phát triển bền vững. Nguyên nhân
tổng luận của Bartelmus (2013) đã đưa bức tranh tổng thể về thực trạng của TTX
trên toàn thế giới. Theo đó, TTX hay phát triển bền vững là phép đo của sự phát triển
toàn diện, nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế, bền vững về môi trường và chất lượng
cuộc sống con người.
Gần đây nhất, khi nghiên cứu về “Năng lượng tái tạo, sản xuất và TTX”, tác
giả Mathews (2014) đã đưa ra những nhận định: năng lượng tái tạo, công nghệ sạch
có thể đóng góp rất lớn vào việc giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu, cũng như
bảo vệ môi trường và giảm phát thải cacbon. Trong nghiên cứu này, tác giả đã so
sánh lợi nhuận giữa việc khai thác năng lượng (dạng nhiên liệu) với việc khai thác
năng lượng tái tạo của thiên nhiên, theo đó việc khai thác các nhiên liệu hóa thạch so
với việc chuyển đổi sang năng lượng tái tạo sẽ là một lĩnh vực nghiên cứu có hiệu
quả trong tương lai cho môi trường bền vững.
Một nghiên cứu đáng chú ý khác của Wong và các cộng sự (2014) đã phân
tích vai trò, nền tảng của khoa học công nghệ và tác động mạnh mẽ đến xu thế TTX
của các nền kinh tế. Nghiên cứu này sử dụng các sáng chế khoa học và công nghệ, và
các phân tích với ba phần chính: xu hướng sản xuất, bắt kịp xu hướng và mô hình hội
tụ qua đó đã phát hiện bốn điểm nổi bật cần được xem xét bởi các nhà hoạch định
chính sách: (i) ASEAN-4 có độ trễ đáng kể đằng sau các nền kinh tế tiên tiến hơn
(Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc) mặc dù hiệu suất của các quốc gia này giống
hệt nhau trong đầu những năm 1990. Trung Quốc đã tiến lên phía trước về các sáng
chế khoa học và sản xuất, nhưng bị tụt hậu trong các sáng chế chất lượng; (ii) so với
mức trung bình của thế giới, khu vực nói chung có tiềm năng lớn trong sản xuất năng
lượng cacbon thấp; (iii) các nền kinh tế phát triển ở châu Á đã khởi động phát triển
khoa học và công nghệ năng lượng cacbon thấp hơn từ công nghệ sản xuất, điều này
cho thấy sự cần thiết cho một nền tảng cơ sở khoa học công nghệ mạnh mẽ và một
mức độ cao trong sự phát triển công nghệ năng động đối với ngành năng lượng
6
cacbon thấp; và (iv) các nền kinh tế đã chứng minh các xu thế trái ngược trong phát
Đầu tháng 12/2011, hội nghị quốc tế về Biến đổi Khí hậu tại Nam Phi với 194
nước tham dự đã nhất trí thành lập quỹ Khí hậu xanh và các bước đi mới nhằm thực
hiện các cam kết cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính sau năm 2020. Theo thoả
thuận mới đạt được, tất cả các nước đều phải thực hiện cam kết kiểm soát khí thải
theo cùng một khuôn khổ pháp lý. Các đại biểu cũng nhất trí gia hạn Nghị định thư
7
Kyoto thêm 5 năm nữa trong điều kiện hiện tại chỉ có các nước công nghiệp phát
triển phải thực hiện các chỉ tiêu mang tính ràng buộc pháp lý về cắt giảm khí thải.
Kết quả của hội nghị cho thấy thế giới đang đi tới sự nhất trí cao trong việc giảm
phát thải khí nhà kính, một trong những yếu tố cơ bản để có được nền kinh tế cacbon
thấp hay còn gọi là kinh tế xanh.
* Thực tiễn triển khai TTX tại một số quốc gia
Ớ cấp độ quốc gia, Hàn Quốc là nước đầu tiên xây dựng và ban hành Chiến
lược TTX, ít cácbon, làm định hướng phát triển trong 60 năm tới. TTX cacbonđược
Tổng thống Lee Myung Bak chính thức công bố trong bài phát biểu ngày 15/8/2008,
nhân dịp kỉ niệm 60 năm ngày thành lập nước Đại Hàn Dân quốc. Kế hoạch thích
ứng với biến đổi khí hậu và năng lượng quốc gia của Hàn Quốc được thông qua ngày
20/08/2008 đã đưa ra mục tiêu tăng tỷ lệ năng lượng tái sinh lên đến 11% trong tổng
mức năng lượng sử dụng vào năm 2030. Chiến lược quốc gia về TTX của Hàn Quốc
với trọng tâm: Duy trì tăng trưởng kinh tế trong khi giảm đến mức tối đa việc sử
dụng năng lượng và tài nguyên; Hạn chế tối đa các tác động lên môi trường với việc
sử dụng năng lượng và tài nguyên; Dùng công nghệ xanh và năng lượng sạch làm
động lực phát triển. Các hành động cụ thể bao gồm: (i) Giảm phát thải khí nhà kính
hiệu quả; (ii) Giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch; (iii) Thích ứng với
BĐKH; (iv) Phát triển công nghệ xanh; (v) Xanh hóa các ngành công nghiệp hiện có;
(vi) Phát triển các ngành công nghiệp tiên tiến; (vii) Xây dựng nền tảng cho kinh tế
xanh; (iix) Xây dựng không gian xanh và giao thông vận tải xanh; (ix) Thực hiện
cuộc cách mạng xanh về lối sống; (x) Hỗ trợ quốc tế cho TTX. Hàn Quốc cũng là
nước trên thế giới, tăng trưởng xanh vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an
sinh, tăng cường phúc lợi xã hội vừa duy trì BVMT, bảo tồn đa dạng sinh học và
thích ứng với biến đổi khí hậu.
b) Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, quan điểm phát triển nhanh và bền vững đã được nhận thức rất
sớm và thể hiện trong nhiều chủ trương, nghị quyết của Đảng. Ngay từ Đại hội Đảng
lần thứ III năm 1960 và Đại hội Đảng lần thứ IV năm 1976, Đảng ta đã đặt mục tiêu
“tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Đại hội Đảng lần thứ
VII thông qua Chiến lược Phát triển KTXH giai đoạn 1991 - 2000, nhấn mạnh
“Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn
hoá, bảo vệ môi trường”. Đại hội Đảng lần thứ VIII nêu bài học “Tăng trưởng kinh
tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, bảo
vệ môi trường sinh thái”. Chiến lược Phát triển KTXH giai đoạn 2001 - 2010 thông
qua tại Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền
vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ
môi trường”. Đại hội Đảng lần thứ X nêu bài học về phát triển nhanh và bền vững,
trong đó ngoài các nội dung phát triển KT, XH, MT còn bổ sung yêu cầu phát triển
toàn diện con người, thực hiện dân chủ và xác định mục tiêu tổng quát của Kế hoạch
phát triển 5 năm 2006 - 2010 là “Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ nhanh,
chất lượng cao và bền vững hơn, gắn với phát triển con người”.
Như vậy, quan điểm phát triển bền vững đã sớm được Đảng và Nhà nước ta
đặt ra với nội dung ngày càng hoàn thiện và đã trở thành một chủ trương nhất quán
trong lãnh đạo, quản lý, điều hành tiến trình phát triển của đất nước trong nhiều thập
kỷ qua. Nhà nước ta cũng đã có những cam kết mạnh mẽ về phát triển bền vững. Đại
9
hội Đảng lần thứ XI đã nêu rõ “Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát
triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất
lượng cuộc sống của nhân dân. Phát triển kinh tế xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ
hợp lý cho phát triển kinh tế biển bền vững là một trong những nhiệm vụ quan trọng.
Công cụ cơ bản giúp tổ chức hợp lý không gian biển cho phát triển bền vững chính là
quy hoạch không gian biển.
10
Phạm Ngọc Đăng và các cộng sự (2013) trong xuất bản phẩm “các giải pháp
thiết kế công trình xanh ở Việt Nam” đã đưa ra nhận định: “Phát triển công trình
xây dựng xanh, chính là phát triển ngành xây dựng thích ứng với BĐKH, cũng là sự
cam kết thực hiện PTBV có hiệu quả nhất của ngành xây dựng đối với sự nghiệp
PTBV của quốc gia”. Phát triển công trình xây dựng xanh mang lại nhiều lợi ích về
kinh tế, xã hội và môi trường cho bản thân chủ đầu tư công trình, cũng như cho xã
hội và quốc gia. Giá đầu tư xây dựng công trình xanh có thể ít hơn hoặc nhiều hơn từ
5 - 10% tùy theo công trình cụ thể so với công trình thông thường, tuy nhiên chi phí
vận hành thấp hơn; do đó, tổng chi phí đầu tư và chi phí sử dụng công trình xanh về
lâu dài luôn luôn nhỏ hơn so với công trình thông thường.
1.1.2. Các công trình liên quan tới khu vực nghiên cứu
Để triển khai Kết luận số 72 của Bộ Chính trị về xây dựng Hải Phòng trở
thành “Thành phố cảng xanh” trong giai đoạn từ nay cho đến năm 2020, tầm nhìn
đến năm 2050, TP. Hải Phòng đã và đang nghiên cứu, triển khai nhiều đề án, dự án:
Quy hoạch mạng lưới quan trắc môi trường trên địa bàn thành phố đến năm 2025; Kế
hoạch hành động đa dạng sinh học TP. Hải Phòng đến năm 2020; Đẩy mạnh tuyên
truyền về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững môi trường TP. Hải Phòng; Kế
hoạch ứng phó biến đổi khí hậu và nước biển dâng TP. Hải Phòng đến năm 2025; Kế
hoạch ứng phó sự cố tràn dầu trên địa bàn TP. Hải Phòng đến năm 2025; Phân loại
cơ sở ô nhiễm công nghiệp trên địa bàn thành phố đến năm 2015, kế hoạch tới năm
2020; Quy hoạch chung môi trường đô thị TP. Hải Phòng đến năm 2025 và tầm nhìn
đến năm 2050; Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học thành phố đến năm 2025, tầm
nhìn đến năm 2050; Điều tra, thống kê, đánh giá nguồn thải, phân loại chất lượng và
BVMT nguồn nước mặt trên địa bàn thành phố; Phân vùng sử dụng không gian vùng
chúng. Các hành động này được thực hiện phù hợp với các mục tiêu của xã hội trên
cơ sở các quy luật kinh tế trong hình thái KTXH tương ứng.
Mục tiêu cơ bản của tổ chức lãnh thổ là nhằm tiết kiệm lao động xã hội nhờ
cải thiện cơ cấu sản xuất - lãnh thổ của nền kinh tế và cải thiện cơ cấu tổ chức sản
xuất của đất nước hay của từng vùng cụ thể theo hướng phát triển tổng hợp nhằm đạt
hiệu quả tối ưu trong sản xuất, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên và BVMT sinh
thái. Tổ chức lãnh thổ KTXH còn được hiểu như sự kết hợp của các tổ chức lãnh thổ
đang hoạt động: cấu trúc lãnh thổ quần cư, cấu trúc không gian xã hội, cấu trúc
không gian sử dụng tự nhiên v.v... Ở đây, không thể bỏ qua nội dung phân vùng và
quy hoạch vùng, đó là việc xác định các tỷ lệ và quan hệ hợp lý về phát triển KTXH
giữa các ngành trong một vùng, giữa các vùng nhỏ trong vùng lớn, giữa các vùng lớn
trong một quốc gia và trên mức độ nào đó có xét đến các mối liên kết khu vực và
quốc tế. Cấu trúc này được thống nhất bởi các cơ cấu quản lý quá trình tái sản xuất
xã hội, làm cơ sở cho việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ KTXH của một vùng nhất
định, bao gồm các điểm, các ‘cực’, các nút, và các dải, các tuyến lực và một không
gian bề mặt. Các yếu tố đó có quan hệ, sức hút lan toả và ảnh huởng lẫn nhau.
Ðể tiến hành nghiên cứu tổ chức lãnh thổ phải có sự phân tích những phân dị
địa lý nhằm xác định các cấu trúc không gian (cấu trúc lãnh thổ), các mối quan hệ
lãnh thổ, sự tác động qua lại với các cấu trúc không gian thành phần để nhận dạng
một không gian tổng quát mà ta gọi là không gian chiến lược. Theo nghĩa mở rộng,
để làm việc này, cộng đồng và xã hội phải quyết định hành động can thiệp nhằm tổ
12
chức lại không gian cho phù hợp với chiến lược phát triển, điều kiện kỹ thuật và
công nghệ, kể cả văn hoá, tâm lý và khiếu thẩm mỹ không gian vốn có nữa.
1.2.2 Lý thuyết và các mô hình tăng trưởng xanh
a) Các quan điểm về tăng trưởng xanh trên thế giới
TTX hiện là một trong những vấn đề lý luận mang tính thời sự trên thế giới và
là trọng tâm được ưu tiên hàng đầu trong chính sách phát triển của nhiều quốc gia,
13
sách xanh; (v) Đầu tư/bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và hệ sinh thái; (vi) Xây dựng và
thực hiện các chỉ số hiệu quả về sinh thái. Các nguyên tắc mà UNESCAP đề ra đối
với TTX là: (i) Chất lượng của tăng trưởng kinh tế: TTX phải đảm bảo sự tăng
trưởng về kinh tế, thể hiện qua chỉ tiêu về sự gia tăng của GDP. Tuy nhiên, cần phải
đảm bảo phúc lợi cho xã hội giải quyết việc làm, mang đến sự thịnh vượng cho tất cả
mọi người, phân phối công bằng giữa các tầng lóp dân cư, sản xuất và tiêu dùng bền
vững; (ii) Hiệu quả sinh thái của tăng trưởng kinh tế: TTX phải đảm bảo hiệu quả
sinh thái của tăng trưởng kinh tế, đây là một trong những chìa khóa quan trọng, đảm
bảo nguyên tắc phát triển bền vững. Các quốc gia cần phải sử dụng hợp lý tài
nguyên, tối đa hóa hiệu quả sử dụng tài nguyên và tối thiểu hóa ô nhiễm do quá trình
sản xuất, kinh doanh; (iii) Thực hiện bền vững về môi trường: TTX phải kiểm soát ô
nhiễm, đạt được các mục tiêu môi trường, thông qua tập trung cải thiện sản xuất và
tiêu dùng để giảm thiểu những tác động đến môi trường.
Một số định nghĩa đáng lưu ý khác về TTX được các tổ chức quốc tế đưa ra:
“quá trình tái cơ cấu lại hoạt động kinh tế và cơ sở hạ tầng để thu được kết quả tốt
hơn từ các khoản đầu tư cho tài nguyên, nhân lực và tài chính, đồng thời giảm phát
thải khí nhà kính, những rủi ro môi trường và những thiếu hụt sinh thái, đồng thời
giảm đáng kể các chất thải và giảm sự mất công bằng trong xã hội” (Tổ chức Sáng
kiến của Liên Hợp Quốc), “... quá trình tăng trưởng sử dụng tài nguyên hiệu quả,
sạch hơn và tăng cường khả năng chống chịu mà không làm chậm quá trình này”
(Ngân hàng Thế giới), “... cách tiếp cận để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế và
phát triển trong BVMT, ngăn chặn sự mất mát về đa dạng sinh học và giảm thiểu
việc sử dụng không bền vững tài nguyên thiên nhiên”.
Chiến lược TTX của các nước OECD bao gồm các nội dung đáng lưu ý sau:
(i) Loại bỏ các rào cản cho TTX: Tăng cường kết nối chính sách, loại bỏ các rào cản
đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường, loại bỏ các khoản trợ cấp có hại; (ii) Thúc
đẩy sự thay đổi: Xây dựng các chính sách tổng họp, bao gồm các chính sách dựa vào
phù hợp với xu thế phát triển bền vững. Hơn thế nữa, TTX được xác định là con
đường tất yếu của sự phát triển nền kinh tế.
b) Quan điểm về tăng trưởng xanh tại Việt Nam
Tại Việt Nam, TTX được xác định là sự tăng trưởng dựa trên quá trình thay
đổi mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế nhằm tận dụng lợi thế so sánh, nâng
cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế thông qua việc nghiên cứu và áp dụng
công nghệ tiên tiến, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại để sử dụng hiệu quả tài
nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, ứng phó với biến đổi khí hậu, góp
phần xóa đói giảm nghèo, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách bền
vững.
Định hướng TTX đã được đề cập một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong
nhiều văn bản quan trọng. Chiến lược phát triển KTXH 2011-2020 thông qua tại Đại
hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI đã xác định: “Phát triển nhanh gắn liền với
phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược,...
Gắn phát triển kinh tế với BVMT, phát triển kinh tế xanh”. Chiến lược BVMT quốc
gia đến 2020 tầm nhin 2030, Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam
(Chương trình nghị sự 21 năm 2004), Báo cáo quốc gia tại Hội nghị cấp cao của Liên
Hợp Quốc về Phát triển bền vững (RIO+20) “Chiến lược phát triển bền vững ở Việt
Nam” (2012) và gần đây nhất là Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/09/2012 của
15
Thủ tướng Chính phủ về “Chiến lược quốc gia về TTX thời kỳ 2011 - 2020 và tầm
nhìn đến 2050” đã xác định:
- TTX là một nội dung của phát triển bền vững, đảm bảo phát triển kinh tế
theo hướng nhanh, hiệu quả và bền vững, đồng thời góp phần quan trọng thực hiện
Chiến lược Quốc gia về biến đổi khí hậu.
- TTX phải do con người và vì con người, góp phần tạo việc làm, xóa đói
giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân.
- TTX dựa trên tăng cường đầu tư vào bảo tồn, phát triển và sử dụng hiệu quả
xanh, thành phố Hải Phòng đã định hướng nhằm thu hút, quản lý đầu tư khi quy
hoạch xây dựng đã quan tâm dành tỷ lệ đất cho các mảng xanh, mặt nước, giao thông
tĩnh, quy hoạch các khu công nghiệp tập trung bảo đảm xử lý ô nhiễm môi trường.
Trong thời gian vừa qua, thành phố Hải Phòng đã xây dựng danh mục các dự án, đề
án, ưu tiên bố trí kinh phí, nâng cao năng lực phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ
môi trường, trong đó tập trung cho các dự án quản lý và xử lý chất thải rắn, xây dựng
hệ thống thoát nước, xử lý nước thải nhằm khai thác, sử dụng hợp lý, bảo vệ đa dạng
sinh học, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân đô thị và nông thôn. Mô hình
tăng trưởng kinh tế tới năm 2020, tầm nhìn tới năm 2050 của thành phố Hải Phòng
được điều chỉnh, trong đó định hướng phát triển nền kinh tế xanh giữ vai trò chủ đạo.
Một số dự án cấp thành phố đã được lập, bao gồm; quy hoạch không gian biển
(MSP) và quy hoạch tổng hợp vùng bờ biển (ICOM); xây dựng đề án phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao theo yêu cầu của các ngành kinh tế xanh,… Kế hoạch
hành động tăng trưởng xanh của Tp.Hải Phòng được cụ thể hóa tại nhiều hội thảo
quốc tế. Tại hội thảo “Diễn đàn chính sách tăng trưởng xanh đô thị Châu Á năng
động” do thành phố Hải Phòng và Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế (OECD) phối
hợp tổ chức, Hải Phòng được xác định là 1 trong 3 thành phố, cùng Bangkok (Thái
Lan), Joho Rans (Malaixia), được OECD lựa chọn hỗ trợ về chính sách và kinh phí
200.000 EUR triển khai trong hai năm 2014 - 2015. Trong bối cảnh phát triển mới,
định hướng tăng trưởng xanh của TP.Hải Phòng nhằm thu hút các nguồn lực đầu tư
phục vụ phát triển KTXH và BVMT.
1.2.3. Lý luận về tổ chức không gian theo định hướng tăng trưởng xanh áp dụng
cho khu vực ven biển
Tổ chức không gian theo định hướng tăng trưởng xanh cho khu vực ven biển
trong phạm vi đề tài luận văn được dựa trên các cơ sở khoa học và pháp lý sau đây:
- Không gian biển và quy hoạch không gian biển: Khác với trên đất liền,
không gian kinh tế biển rộng mở, khá đa dạng và luôn tác động tương hỗ nhau cả về
mặt tự nhiên và phát triển theo các cấp độ khác nhau.
Trên cơ sở bình đồ tổ chức không gian biển - ven biển, việc quy hoạch không
gian cho từng khu vực biển, vùng ven biển thông qua tính toán đầy đủ các nguồn lực
thiện với môi trường; thu hồi năng lượng từ chất thải; quyền và trách nhiệm của cộng
đồng trong ứng phó với biến đổi khí hậu.
Quy định chung về BVMT biển và hải đào quy định nguyên tắc BVMT biển,
bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên biển, kiểm soát xử lý ô nhiễm môi trường biển
và tổ chức phòng ngừa, ứng phó sự cố trên biển, “Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh liên quan đến biển và hải đảo phải có
nội dung về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu”.
- Nghị quyết số 09/NQ-TW của Trung ương Đảng về Chiến lược biển Việt
Nam đến năm 2020 đã đề ra nhiệm vụ của phát triển kinh tế biển gắn với đảm bảo an
ninh quốc phòng vùng biển: "Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển KTXH với an ninh quốc phòng, để vừa bảo vệ chủ quyền, vừa phát triển kinh tế; xây dựng ở vùng duyên
hải các trung tâm kinh tế, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất lớn gắn với các
hoạt động kinh tế biển để làm động lực quan trọng đối với sự nghiệp phát triển đất
nước", “... tổ chức phát triển không gian biển một cách tối ưu khoa học, trên cơ sở
phát huy tối đa lợi thế và nguồn lợi từ biển để phát triển KTXH trên từng vùng lãnh
18
thổ có vai trò quan trọng trong phát triển gắn với bảo vệ quốc phòng, an ninh chủ
quyền quốc gia”.
- Chương trình Hợp tác Việt Nam - Thụy Điển về “Tăng cường Năng lực
Quản lý Đất đai và Môi trường” nêu cách tiếp cận lồng ghép các yếu tố môi trường
và biến đổi khí hậu vào quá trình lập quy hoạch đất khu vực ven biển phù hợp với
các điều kiện và xu thế TTX của từng địa phương bao hàm một số nội dung sau: (i)
Xác định các mục tiêu phát triển trong kế hoạch phát triển KTXH và các quy
hoạch/kế hoạch ngành có tác động tới môi trường giúp cải thiện/giải quyết một số
vấn đề về môi trường, ví dụ: thiết lập cơ sở hạ tầng môi trường, di dời, phục hồi khu
vực bị ô nhiễm, thiết lập vùng đệm hạn chế tối đa diện tích rừng bị mất, trồng và
khoanh nuôi rừng, khuyến khích sản xuất sạch,...; (ii) Xác định các vấn đề về môi
trường, xu thế môi trường, điểm nóng môi trường của khu vực quy hoạch, bao gồm
nước biển dâng, thiếu hụt nguồn nước, lụt lội, bão, xâm nhập mặn,... Việc lồng ghép
Các quận ven biển có đầy đủ các yếu tố là cực tăng trưởng KTXH của trung
tâm TP. Hải Phòng, chính vì vậy phát triển KTXH của các quận ven biển luôn gắn
chặt với sự phát triển KTXH của Hải Phòng và là cầu nối liên kết Hải Phòng với Hà
Nội và các tỉnh phía Bắc. Để làm được điều này cần có sự phân tích những phân dị
địa lý nhằm xác định các cấu trúc không gian (cấu trúc lãnh thổ), các mối quan hệ
lãnh thổ, sự tác động qua lại với các cấu trúc không gian thành phần, các vấn đề quy
hoạch không gian KTXH, tài nguyên môi trường sẽ tác động đến cuộc sống, sinh kế,
tài nguyên thiên nhiên, cấu trúc xã hội, hạ tầng kỹ thuật và nền kinh tế trong đó quy
hoạch, tổ chức sử dụng hợp lý tài nguyên đất: đất đô thị, đất công nghiệp và dịch
vụ….có ý nghĩa quan trọng.
Nội dung nghiên cứu tổ chức không gian theo hướng TTX các quận ven biển
thuộc TP. Hải Phòng bao gồm:
- Phân tích hiện trạng, diễn biến về phát triển KTXH và chất lượng môi
trường các quận ven biển thuộc TP. Hải Phòng.
- Phân tích và đánh giá thực trạng quy hoạch, phân vùng chức năng phát triển
KTXH và quản lý môi trường khu vực nghiên cứu dưới góc độ TTX.
- Phân tích và đánh giá các vấn đề về KTXH và môi trường nổi cộm tại các
tiểu vùng chức năng.
- Đề xuất phương án tổ chức không gian theo định hướng TTX tại khu vực
nghiên cứu.
1.3. QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁC BƯỚC NGHIÊN CỨU
1.3.1. Các quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm tổng hợp:
Nghiên cứu này được thực hiện theo nhiều công đoạn, từ phân tích hiện
trạng, đánh giá biến động sử dụng đất, các yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội, cho đến
các định hướng phát triển và điều kiện môi trường cụ thể của địa phương. Các kết
quả nghiên cứu đưa ra vừa có tính khoa học, vừa phản ánh điều kiện khách quan, phù
hợp với các điều kiện đặc thù của lãnh thổ nghiên cứu, là tài liệu tham khảo cho các
cơ quan quản lý trong việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch tổ chức không gian
đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững của các quận.
- Phương pháp tham vấn ý kiến chuyên gia:
Quá trình tham vấn được thực hiện ở 2 cấp quản lý Nhà nước về môi trường:
Bộ Tài nguyên và Môi trường và Sở Tài nguyên và Môi trường TP. Hải Phòng. Bản
đồ phân vùng chức năng, bản đồ tổ chức không gian và các bảng nội dung thuyết
minh sau khi xây dựng được gửi cho một số chuyên gia ở cấp Bộ và cấp Sở xem xét,
đánh giá và góp ý. Các nội dung tham vấn đề cập tới tính phù hợp về cơ sở pháp lý
21
và tính xác thực đối đối với điều kiện thực tiễn địa phương của bản đồ định hướng
TTX.
- Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý (GIS):
Phương pháp được sử dụng tại nhiều thời điểm khác nhau trong quá trình
nghiên cứu nhằm thể hiện mối quan hệ giữa các đối tượng địa lý trong không gian
lãnh thổ TP. Hải Phòng. Phương pháp cho phép sử dụng bản đồ nghiên cứu trên thực
địa và lập bản đồ chuyên đề. Phần mềm được sử dụng để thành lập các bản đồ
chuyên đề là MapInfo 10.0.
1.3.3. Các bước nghiên cứu
Luận văn được thực hiện theo các bước sau:
- Bước 1: Thu thập các tài liệu về TTX ở trong và ngoài nước, điều kiện tự
nhiên, KTXH, về mục tiêu chiến lược, quy hoạch phát triển KTXH, phát triển đô thị,
BVMT; số liệu thống kê kết quả phát triển KTXH các năm, các giai đoạn phát triển
của khu vực nghiên cứu; các định hướng phát triển chung của vùng Đồng Bằng Bắc
Bộ, của TP. Hải Phòng, các bản đồ hành chính, bản đồ quy hoạch không gian…
- Bước 2: Điều tra khảo sát thực tế, tổng hợp, phân tích tài liệu, số liệu.
- Bước 3: Phân vùng chức năng dự trên các tiêu chí tổng hợp
- Bước 4: Đề xuất định hướng tổ chức không gian phục vụ TTX các quận ven
biển thuộc TP. Hải Phòng.
hướng chủ đạo: tây bắc - đông nam; đông bắc - tây nam và á vĩ tuyến. Các thành tạo
địa chất ở khu vực nghiên cứu được chia thành: các thành tạo đá gốc trước Đệ Tứ và
các trầm tích Đệ Tứ. Trong đó, các thành tạo trong khu vực nghiên cứu chủ yếu là
trầm tích Đệ tứ với nhiều nguồn gốc khác nhau: biển, biển - sông, sông biển, đầm lầy
- biển, hồ - đầm lầy. Trầm tích phổ biến là các loại hạt mịn như bùn, bột, sét bột, màu
tím, xám đen, xám nâu thùy thuộc vào từng loại nguồn gốc. Tại huyện Thủy Nguyên
có thể quan sát thấy các dải đồi đá vôi và đá phiến sét; tại quận Đồ Sơn quan
23
Hình 2.1. Bản đồ vị trí khu vực nghiên cứu trong thành phố Hải Phòng
24
sát thấy các dải đồi đá phiến sét chiếm ưu thế. Các dải đồi thành tạo trên đá phiến sét
có dạng sót này nằm trong đất liền và các dải hẹp xen kẽ với đá vôi, chủ yếu được
hình thành trên đá sét thành phần chính là các hạt sét có đường kính