NGHIÊN cứu sự BIẾN đổi mùa KHÍ hậu VÙNG ĐÔNG bắc VIỆT NAM - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------

Nguyễn Thị Lan Hương

NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI MÙA KHÍ HẬU
VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------

Nguyễn Thị Lan Hương

NGHIÊN CỨU SỰ BIẾN ĐỔI MÙA KHÍ HẬU
VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM

Chuyên ngành: Khí tượng và khí hậu học
Mã số
: 60.44.87

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Trần Quang Đức

Hình 3.12. Nhiệt độ trung bình 3 tháng chính hè tại các trạm khu vực...............................39
Đông Bắc Việt Nam trong bốn giai đoạn...............................................................................39
3.1.3.2 Biến đổi của chênh lệch nhiệt độ giai đoạn chuyển mùa............................................39
40
Hình 3.13. Nhiệt độ trung bình Tháng Tư trừ Tháng Ba các trạm khu vực Đông Bắc Việt
Nam trung bình bốn giai đoạn.................................................................................................40
Hình 3.13 biểu diễn phân bố theo không gian của hiệu nhiệt độ Tháng Tư trừ Tháng Ba
trung bình các thập kỉ. Có thể thấy rõ, biến đổi khí hậu không chỉ làm thay đổi thời điểm bắt
đầu và kết thúc mùa mà còn làm thay đổi sự chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng chuyển mùa.
Trong suốt bốn thập kỉ có thể thấy nhiệt độ giữa 2 tháng chuyển mùa từ mùa đông sang mùa
hè tăng dần qua các thập kỉ trên toàn khu vực, và đặc biệt tăng mạnh nhất trong thập kỉ
cuối. Một điều ngạc nhiên là sự tăng này làm diễn ra đồng thời ở cả vùng ven biển, khu vực
trung du và miền núi phía bắc. Sự phân hóa theo hướng đông tây trong thập kỉ đầu giảm dần
trong hai thập kỉ giữa và chuyển thành phân hóa theo hướng bắc nam. Điều này cho thấy
khu vực phía bắc và phía nam có sự chuyển mùa từ đông sang hè ngày càng rõ rệt hơn, đột
ngột hơn so với phía đông và tây khu vực..............................................................................40
41
Hình 3.14. Nhiệt độ trung bình Tháng Chín trừ Tháng Mười tại các trạm khu vực Đông Bắc
Việt Nam trung bình bốn giai đoạn.........................................................................................41
Điều này lại tương đối trái ngược với những biểu hiện được quan sát thấy trong thời điểm
chuyển từ mùa hè sang mùa đông trong Hình 3.14. Chênh lệch nhiệt độ của Tháng Mười và
Tháng Chín lại có xu hướng giảm nhẹ trên toàn khu vực nhưng không giống nhau giữa các
tiểu vùng và các giai đoạn. Vùng núi cao (các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn) có sự chêch lệch nhỏ
nhất từ 1-3 độ và gần như ổn định trong suất 40 năm. Vùng trung du trong thập kỉ đầu có sự
chuyển mùa hè sang đông mạnh mẽ nhất (3-6 độ C), sau đó giảm dần trong hai thập kỉ giữa
và tăng trở lại vào thập kỷ cuối (2-5 độ C). Đối với vùng đồng bằng ven biển, mức chênh lệch
nhiệt độ từ hè sang đông ổn định trong hai thập kỉ đầu (3-6 độ C), giảm xuống còn dưới 3 độ
C trong thập kỉ thứ ba và lại tăng trở lại trong thập kỉ cuối.................................................41
Hai hình thế trái ngược này đã dẫn đến sự chuyển mùa giai đoạn đầu mùa hè có xu thế xảy
ra đột ngột hơn và giai đoạn chuyển mùa ở cuối mùa hè xảy ra chậm hơn..........................42

Đông Bắc Việt Nam giai đoạn 1971-2010.___Error: Reference source not
found
Hình 3.6. Nhiệt độ trung bình Tháng Một các trạm khu vực Đông Bắc Việt Nam
giai đoạn 1971-2010_________________________________________27
Hình 3.7. Nhiệt độ trung bình Tháng bảy các trạm khu vực Đông Bắc Việt Nam
giai đoạn 1971-2010________________Error: Reference source not found
Hình 3.8. Xu thế bắt đầu - kết thúc mùa đông tại Đông Bắc Việt Nam với ngưỡng
18oC và mùa hè với ngưỡng 25oC (hình dưới)_Error: Reference source not
found
Hình 3.9. Thời điểm xuất hiện của nhiệt độ cao nhất 6 tháng mùa nóng (đơn vị pentad

mùa) ---------------------------------------------------------------------------------------35


Hình 3.10 Thời điểm xuất hiện của nhiệt độ thấp nhất 6 tháng mùa lạnh (đơn vị pentad

mùa)---------------------------------------------------------------------------------37
Hình 3.11. Nhiệt độ trung bình 3 tháng chính đông các trạm khu vực Đông Bắc
Việt Nam trong bốn giai đoạn.________Error: Reference source not found
Hình 3.12. Nhiệt độ trung bình 3 tháng chính hè tại các trạm khu vực Đông Bắc
Việt Nam trong bốn giai đoạn.________Error: Reference source not found
Hình 3.13. Nhiệt độ trung bình Tháng Tư trừ Tháng Ba các trạm khu vực Đông
Bắc Việt Nam trung bình bốn giai đoạn._Error: Reference source not found
Hình 3.14. Nhiệt độ trung bình Tháng Chín trừ Tháng Mười tại các trạm khu vực
Đông Bắc Việt Nam trung bình bốn giai đoạn._Error: Reference source not
found
Hình 3.15: Đồ thị hệ số a của xu thế tuyến tính lượng mưa trung bình năm khu
vực nghiên cứu giai đoạn 1971-2010.__Error: Reference source not found
Hình 3.16: Biến trình nhiều năm và xu thế của lượng mưa năm tại các trạm khu
vực nghiên cứu giai đoạn 1971-2010__Error: Reference source not found

Bảng 2.1 Vị trí và độ cao các trạm quan trắc trong khu vực Đông Bắc Việt Nam
_________________________________________Error: Reference source not found
Bảng 3.1. Nhiệt độ tháng và năm các trạm khu vực nghiên cứu giai đoạn 19712010._____________________________________Error: Reference source not found
Bảng 3.2. Phương trình xu thế tuyến tính của nhiệt độ trung bình năm của các
trạm Đông Bắc giai đoạn 1971-2010___________Error: Reference source not found
Bảng 3.3. Hệ số biến động Cv (%) của nhiệt độ tháng và năm giai đoạn 1971-2010
_________________________________________Error: Reference source not found
Bảng 3.4. Lượng mưa trung bình các Tháng và trung bình năm tại một số trạm tại
Đông Bắc Việt Nam từ 1970-2010.____________Error: Reference source not found
Bảng 3.5. Biến động lượng mưa trung bình qua các thập niên giai đoạn 1971-2010
_________________________________________Error: Reference source not found
Bảng 3.6. Phương trình xu thế tuyến tính của lượng mưa trung bình năm các trạm
_________________________________________Error: Reference source not found
Đông Bắc Việt Nam giai đoạn 1971-2010_______Error: Reference source not found


DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
APR: April – Tháng Tư
AUG: August – Tháng Tám
DEC: December – Tháng Mười Hai
FEB: February – Tháng Hai
ITCZ: Intertropical Convergence Zone – Dải hội tụ nhiệt đới
JAN: January – Tháng Một
JUL: July – Tháng Bẩy
JUN: June – Tháng Sáu
MAR: March – Tháng Ba
MAY: May – Tháng Năm
NOV: November – Tháng Mười Một
OCT: October – Tháng Mười
SEP: September – Tháng Chín

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
VÀ BIẾN ĐỔI MÙA KHÍ HẬU
Theo IPCC (2007), biến đổi khí hậu là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống
khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và sự biến động của
các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng
thập kỉ hoặc dài hơn. Biến đổi khí hậu có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ
thống khí hậu hoặc do những tác động từ bên ngoài, hoặc do tác động thường xuyên
của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hoặc sử dụng đất. Biến đổi
khí hậu toàn cầu đang là mối đe doạ hiện hữu đối với mọi quốc gia trên thế giới
trong đó có Việt Nam. Biến đổi khí hậu cũng có khả năng làm thay đổi quy luật của
khí hậu, ảnh hưởng tiêu cực đến mọi lĩnh vực liên quan đến đời sống con người.
Những điều này rất đáng lo ngại vì Việt Nam là một trong những quốc gia trên
thế giới đạt được những thành quả phát triển ấn tượng nhất trong những năm gần
đây. Việt Nam là một trong số ít các quốc gia đi đúng hướng trong việc đạt được
các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ vào năm 2015. Việt Nam đã giảm tỷ lệ đói
nghèo từ khoảng 58% vào năm 1993 xuống 18% vào năm 2006. Tuy nhiên những
thành quả này giờ đây đang bị đe dọa bởi biến đổi khi hậu. Để ứng phó với biến đổi
cần phải có những đầu tư thích đáng và nỗ lực của toàn xã hội.
Các tác động của biến đổi khí hậu có thể kể đến bao gồm các tác động của sự
nóng lên phạm vi địa phương, tác động tới tài nguyên nước và tác động tới sức khỏe
con người. Các tác động của biến đổi khí hậu cho khu vực này có thể kể đến chi tiết
như sau:
Tác động của sự nóng lên phạm vi địa phương
Nhiệt độ tăng lên ảnh hưởng đến các hệ sinh thái tự nhiên, làm dịch chuyển
các ranh giới nhiệt của các hệ sinh thái lục địa và hệ sinh thái nước ngọt, làm thay
đổi cơ cấu các loài thực vật và động vật ở một số vùng, một số loài có nguồn gốc ôn
đới và á nhiệt đới có thể bị mất đi dẫn đến suy giảm tính đa dạng sinh học.

2



3


trò đặc biệt trong chế độ thủy văn, cung cấp nguồn nước cho nông nghiệp và các
hoạt động sản xuất ở khu vực này. Nghiên cứu của IPCC (2007) cũng cho thấy
trong thế kỉ tới, có sự gia tăng của lượng mưa tại khu vực phía bắc Việt Nam. Điều
này một mặt gia tăng những lợi ích về tài nguyên nước nhưng mặt khác cũng dẫn
đến các nguy cơ gây ngập lụt và sói lở đất.
Tác động đối với sức khoẻ con người
Nhiệt độ tăng làm tăng tác động tiêu cực đối với sức khoẻ con người, dẫn đến
gia tăng một số nguy cơ đối với tuổi già, người mắc bệnh tim mạch, bệnh thần kinh.
Tình trạng nóng lên làm thay đổi cấu trúc mùa nhiệt hàng năm. Ở miền Bắc, mùa
đông sẽ ấm lên, dẫn tới thay đổi đặc tính trong nhịp sinh học của con người.
Biến đổi khí hậu làm tăng khả năng xảy ra một số bệnh nhiệt đới: sốt rét, sốt
xuất huyết, làm tăng tốc độ sinh trưởng và phát triển nhiều loại vi khuẩn và côn
trùng, vật chủ mang bệnh, làm tăng số lượng người bị bệnh nhiễm khuẩn dễ lây
lan…
Thiên tai như bão, tố, nước dâng, ngập lụt, hạn hán, mưa lớn và sạt lở đất
v.v… gia tăng về cường độ và tần số làm tăng số người bị thiệt mạng và ảnh hưởng
gián tiếp đến sức khoẻ thông qua ô nhiễm môi trường, suy dinh dưỡng, bệnh tật do
những đổ vỡ của kế hoạch dân số, kinh tế - xã hội, cơ hội việc làm và thu nhập.
Những đối tượng dễ bị tổn thương nhất là những nông dân nghèo, các dân tộc thiểu
số ở miền núi, người già, trẻ em và phụ nữ.
Đã có rất nhiều vấn đề quan trọng của biến đổi khí hậu được nghiên cứu, tuy
nhiên vấn đề được đặt ra: liệu biến đổi khí hậu có làm thay đổi, có làm dịch chuyển
mùa khí hậu hay không? Cụ thể hơn, mùa nhiệt (mùa mưa) sẽ đến sớm hơn hay
muộn hơn, lượng mưa thay đổi như thế nào, xu thế của nhiệt độ sẽ thay đổi như thế
nào và thay đổi bao nhiêu…? Nghiên cứu, trả lời những vấn đề đó giúp các nhà
hoạch định chính sách đưa ra kế hoạch về hoạt động kinh tế, thay đổi cơ cấu cây

Callendar đã không được coi trọng. Năm 1951, một nhà khoa học bảo thủ cho rằng
“lí thuyết về CO2 sẽ không bao giờ được chấp nhận rộng rãi và sẽ bị bỏ rơi”.
Thập kỉ 1950 đánh dấu sự ra đời của các mô hình khí hậu. Bắt đầu với những
nghiên cứu về nhiệt độ ở các lớp khác nhau trong đại đương của nhà đại dương học
Roger Revelle và các đồng nghiệp tại Scripps Institution of Oceanography. Sang

5


thập kỉ 1960, một số vấn đề về biến đổi khí hậu đã bắt đầu được thảo luận trong giới
chính trị. Năm 1969, thượng nghị sĩ Mĩ Daniel Patrick Moynihan đã gửi bức thư lên
tổng thống Mĩ Richard Nixon. Trong bức thư nói nhiệt độ trung bình toàn cầu sẽ
tăng lên khoảng 7oC cho tới năm 2000 và cùng với sự dâng của mực nước biến sẽ
đồng nghĩa với “Tạm biệt New York” và “Tạm biệt Washington”.
Năm 1970, diễn ra hàng loạt các cuộc tranh cãi giữa 2 trường phái chính, một
ủng hộ quan điểm ấm lên toàn cầu và trường phái còn lại ủng hộ quan điểm lạnh đi
toàn cầu và sự trở lại của một giai đoạn băng hà mới. Nhưng những tiến bộ vượt bậc
của công nghệ vệ tinh và mô hình số đã củng cố quan điểm về sự ấm lên toàn cầu.
Các mô hình đã cho thấy các hoạt động của con người có một vai trò rất lớn trong
việc làm tăng lượng khí nhà kính CO 2 trong khí quyển . Cột mốc quan trọng trong
nghiên cứu biến đổi khí hậu chỉ thực sự đánh dấu trong năm 1988, khi tổ chức liên
chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) được thành lập. Đây là một tổ chức bao gồm
các nhà khoa học đến từ nhiều quốc gia trên khắp thế giới, đưa ra những báo cáo
tổng hợp về các nghiên cứu biến đổi khí hậu ở thời điểm hiện tại.
Hội nghị quốc tế do Liên hiệp quốc triệu tập tại Rio de Janeiro năm 1992 đã
thông qua Hiệp định khung và Chương trình hành động quốc tế nhằm cứu vãn tình
trạng “xấu đi” nhanh chóng của bầu khí quyển trái đất. Tại Hội nghị Kyoto năm
1997, Nghị định thư Kyoto đã được thông qua vào đầu Tháng 2/2005 đã được
nguyên thủ 165 quốc gia trong đó có Việt Nam phê chuẩn. Nghị định thư này bắt
đầu có hiệu lực từ 10/2/2005.

Nghiên cứu gần đây được Hiệp hội các trường đại học công bố tại Trường đại
học Copenhagen Tháng 3/2009 cho thấy nhiều khả năng tác động của biến đổi khí
hậu trong thế kỷ XXI sẽ trầm trọng hơn những con số dự báo của IPCC đã công bố
năm 2007.
Do đặc tính của mùa khí hậu thường gắn liền với vị trí, địa điểm cụ thể và
mang tính quy mô nhỏ nên cũng được nghiên cứu ở nhiều nơi trên thế giới. Sự dịch
chuyển mùa cũng là vấn đề thu hút rất nhiều nghiên cứu trên thế giới. Tuy nhiên các
nghiên cứu này chưa được công bố rộng rãi trên toàn thế giới mà thường chỉ trong
phạm vi bài báo, các tạp chí khoa học trong nước. Chính vì vậy, việc tiếp cận những
nghiên cứu về biến đổi mùa khí hậu trên thế giới còn khá hạn chế.

7


Một số nghiên cứu như Piervitali (2003) [19] về xu thế giảm lượng giáng thủy
năm tại Địa Trung Hải. Hay Shi (2003), Weng (1999), Gong (2002) cho thấy sự
biến đổi thập kỉ của giáng thủy ở phía Tây Bắc Trung Quốc; lượng mưa mùa thu và
mùa đông tăng lên ở phía Đông Trung Quốc và giảm đi ở phía bắc Trung Quốc. Các
phân tích ở phạm vi hẹp cho thấy xu hướng tan sớm của tuyết trong mùa xuân cùng
với sự ấm lên được quan trắc ở các vĩ độ trung bình (Nicholls, 1996). Độ phủ của
tuyết trong mùa xuân ở bắc bán cầu đã giảm rất mạnh từ 1988 tới 1994, trùng với
các mùa xuân ấm hơn (Grosman, 1994). Ở phía đông bắc Hoa Kì, mùa tan băng
(frost-free) bắt đầu sớm hơn trung bình khoảng 11 ngày so với thập kỉ 1950 (Karl,
1997). Cùng với sự ấm lên toàn cầu, rất nhiều dòng sông băng đã tan băng (ice-free)
hoặc trở thành những dòng sông chỉ bị băng che phủ ở những thời điểm nhất định
trong năm. Ở những khu vực lạnh hơn, sự hiện diện của băng có thể ngắn hơn tới
hàng tháng cho tới năm 2050 (Fitzharris,1996) [15] . Fickling (2006) [16] cũng cho
thấy ở Châu Âu, mùa xuân đến sớm hơn và mùa thu bắt đầu muộn hơn do biến đổi
khí hậu. Điều này khiến cho mùa hè trở nên dài hơn, sự tăng lên của số ngày nắng
nóng cũng được quan sát thấy rất rõ.

hậu toàn cầu và ở Việt Nam, kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam, tác động của
biến đổi khí hậu đến các ngành, lĩnh vực và các khu vực địa lí-khí hậu trong cả
nước.
Tương tự với tình hình chung của thế giới, hầu hết các công trình khoa học đã
công bố rộng rãi ở Việt Nam tập trung vào dự báo các kịch bản Biến đổi khí hậu
toàn cầu và nước biển dâng. Hầu hết các công trình đều sử dụng dự báo của IPCC,
UNDP, WB có đề cập đến vùng Nam Á, Đông Nam Á và Việt Nam nhưng ở mức
độ sơ bộ trên phạm vi rộng. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu:
- Bộ Tài nguyên và Môi trường (2003) [1], Thông báo đầu tiên của Việt Nam
cho công ước chung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu.
- Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), Bản dự thảo chương trình Quốc gia
ứng phó với biến đổi khí hậu trình Chính phủ. Nhận định xu thế biến đổi khí hậu ở
Việt Nam: Nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng lên 3 oC vào năm 2100.
Lượng mưa có xu thế biến đổi không đồng đều giữa các vùng, có thể tăng (từ 0%
đến 10%) vào mùa mưa và giảm (từ 0% đến 5%) vào mùa khô. Tính biến động của
mưa tăng lên.

9


- Nguyễn Đức Ngữ (2008) [6], Biến đổi khí hậu và khô hạn, hoang mạc hóa,
Báo cáo tại Hội thảo Biến đổi khí hậu toàn cầu và giải pháp ứng phó của Việt Nam,
Hà Nội, 26-29/2/2008.
- Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Đức Ngữ, Trần Thục (2008) [8], Biến đổi khí
hậu Việt Nam và giải pháp ứng phó, Viện Khí tượng Thủy văn, Hà Nội.
- Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển
dâng cho Việt Nam.
- Phan Văn Tân, 2009-2010 [10] , Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu
toàn cầu đến các yếu tố và hiện tượng khí hậu cực đoan ở Việt Nam, khả năng dự
báo và giải pháp chiến lược ứng phó. Đề tài cấp Nhà nước, mã số KC08.29/06-10.

cơn bão có quỹ đạo di chuyển dị thường hơn.
- Số ngày mưa phùn trung bình năm ở Hà Nội giảm dần trong thập kỷ 1981 –
1990 và chỉ còn gần một nửa (15 ngày/năm) trong 10 năm gần đây.
Các nghiên cứu chủ yếu đề cập đến sự biến đổi của các hiện tượng và các yếu
tố khí hậu. Hoặc đánh giá tính dễ bị tổn thương, rủi ro do tác động của BĐKH đến
các lĩnh vực khác nhau và các phương án thích ứng với BĐKH. Mặc dù chưa có
những nghiên cứu môt cách có hệ thống tác động của biến đổi khí hậu đến biến đổi
mùa khí hậu song cũng có một số bài báo đăng trên các tạp chí, hoặc các báo cáo tại
các hội nghị khoa học đề cập đến vấn đề này. Chẳng hạn người ta đã nhận thấy dấu
hiệu của sự dịch chuyển theo thời gian và không gian của phân bố lượng mưa, của
quỹ đạo bão hoặc đã chỉ ra được sự biến đổi trong cường độ của chúng. Tuy nhiên
những nghiên cứu về sự biến đổi mùa khí hậu ở Việt Nam còn rất ít, đặc biệt sự
biến đổi mùa cho từng tiểu vùng khí hậu gần như là chưa có. Tại khu vực Đông Bắc
Việt Nam, chưa có công trình nghiên cứu nào về biến đổi mùa khí hậu. Do đó luận
văn hướng đến vấn đề quan trọng này.

11


CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ SỐ LIỆU
2.1. Số liệu nghiên cứu
Khu vực Đông Bắc Việt Nam (sau đây gọi tắt là khu vực Đông Bắc) là một
phần phía Đông Bắc Bộ, bao gồm một phần đồng bằng duyên hải Bắc Bộ (Quảng
Ning, Hải Phòng), miền núi và trung du phía đông dãy Tam Đảo cũng nằm trong số
đó (Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh). Vùng này có đặc điểm địa hình
phía nam tương đối bằng phẳng và thấp (đồng bằng duyên hải Bắc Bộ). Phía đông
bắc có các dãy núi với độ cao1000 m ÷ 2000 m, nằm theo hình nan quạt trên các
hướng Đông Bắc-Tây Nam, Bắc-Nam, rồi Bắc Tây Bắc-Nam Đông Nam, chụm lại
hướng về phía dãy núi Tam Đảo (đó là cánh cung Đông Triều, Bắc Sơn, Ngân Sơn,
sông Gâm, và kết thúc là dãy Tam Đảo, tạo thành các sườn dẫn gió mùa Đông Bắc

Bắc Giang

106.2

21.28

8.0

2

Bãi Cháy

107.04

20.58

37.9

3

Bảo Lạc

105.4

22.57

210.0

4


Lạng Sơn

106.46

21.50

257.9

8

Lục Ngạn

106.33

21.23

14.6

9

Móng Cái

107.58

21.31

6.9

10


Trạm

1

13


Hình 2.2. Định dạng của file số liệu nhiệt độ và lượng mưa của các trạm

2.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này sử dụng 2 phương pháp phân tích chính đó là phương
pháp bản đồ và phương pháp hồi quy tuyến tính đơn biến. Phương pháp bản đồ giúp
đưa ra những nhận xét về xu thế thay đổi của nhiệt độ, lượng mưa, của mùa khí hậu
theo không gian qua các thập kỉ, còn phương pháp hồi quy được sử dụng nhằm xác
định những xu thế tăng hoặc giảm của cả nhiệt độ và lượng mưa một cách định
lượng thông qua hệ số a của phương trình hồi quy. Ngoài ra, phương pháp xác định
mùa, thời điểm bắt đầu, kết thúc mùa được sử dụng để nghiên cứu sự biến đổi mùa
theo thời gian
2.2.1. Phương pháp bản đồ
Phương pháp bản đồ là phương pháp được sử dụng từ lâu trong việc phân tích
các trường khí quyển. Phương pháp này giúp đưa ra góc nhìn trực quan về xu thế

14


biến đổi của các trường được phân tích, tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi người
phân tích phải có nhiều kinh nghiệm để nhận định vấn đề.
2.2.2. Phương pháp hồi quy tuyến tính đơn biến
Phương pháp thống kê được sử dụng rất phổ biến trong khí tượng để đánh giá,
phân tích các yếu tố và hiện tượng khí hậu với các đặc trưng thống kê, cũng có thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status