Nghiên Cứu Sử Dụng Một Số Giống Cỏ Hòa Thảo Nhập Nội (P. Atratum, B. Brizantha, B. Decumbens) Trong Chăn Nuôi Bò Thịt - Pdf 36

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

BÁO CÁO KẾT QUẢ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ
MÃ SỐ: B2008-TN03-01

Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG MỘT SỐ GIỐNG CỎ HÒA THẢO
NHẬP NỘI (P. ATRATUM, B. BRIZANTHA, B. DECUMBENS)
TRONG CHĂN NUÔI BÒ THỊT

Chủ trì: ThS. Từ Trung Kiên
Người tham gia: TS. Nguyễn Hưng Quang
PGS. TS. Phan Đình Thắm
ThS. Trần Thị Hoan
TS. Trần Trang Nhung
Thời gian thực hiện: 2008-2009
Địa điểm nghiên cứu: Tỉnh Thái Nguyên

Thái Nguyên - 2010


TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ
Tên đề tài: “Nghiên cứu sử dụng một số giống cỏ hòa thảo nhập nội
(P.atratum, B.brizantha, B.decumbens) trong chăn nuôi bò thịt”
Mã số: B2008- TN03-01
Chủ nhiệm đề tài:
ThS. Từ Trung Kiên: DT: 0280 3854 337


3. Kết quả chính đạt được
- Đã xác định dược thành phần hóa học của cỏ
1) Khi tăng dần KCC từ 30 ngày lên 75 ngày thì tỷ lệ VCK, tỷ lệ xơ và
khoáng tăng theo tuổi cỏ, còn tỷ lệ protein, lipit, tỷ lệ DXKN giảm dần theo
tuổi cỏ. Đặc biệt tỷ lệ xơ thường cao trên 44% ở 60 ngày tuổi vì vậy chỉ nên
thu cắt khi cỏ trên 30 ngày tuổi và dưới 45 ngày tuổi.
Khi tăng mức bón đạm hay tăng cả đạm, lân, kali thì tỷ lệ VCK, xơ,
DXKN trong cỏ giảm xuống (bón đầy đủ N.P.K thì mức độ giảm ít hơn so với
chỉ bón tăng đạm), còn tỷ lệ protein thô và khoáng tổng số tăng lên (bón đầy đủ
N.P.K tăng lớn hơn so với chỉ bón tăng đạm, không tăng lân, kali). Sự giảm hoặc
tăng này chưa có dấu hiệu đứng lại ở mức bón đạm cao nhất (60 kg N/ha/lứa).
- Đã xác định được khối lượng cỏ bò ăn được và tỷ lệ cỏ được sử dụng
Khi tăng KCC cỏ từ 30 đến 75 ngày tuổi thì khả năng ăn được và tỷ lệ
VCK của cỏ được sử dụng giảm dần lần lượt là cỏ B. brizantha 4,37 xuống
4,14 kg/con và 95 xuống 62%; P. atratum từ 4,32 xuống 4,02 kg/con và 95
xuống 66%; B. decumbens từ 4,58 xuống 3,76 và 98 xuống 59%. Nên thu cắt
cỏ sau 30 ngày và dưới 45 ngày thì tỷ lệ cỏ được sử dụng sẽ cao nhất.
- Xác định được thời điểm và lượng phân bón cho tỷ lệ tiêu hóa tốt nhất
Tỷ lệ tiêu hóa VCHC của cỏ giảm đi khi tuổi cỏ tăng lên. Ở tuổi cỏ 30
ngày thì tỷ lệ tiêu hóa đạt trên dưới 60%; ở 45 và 60 ngày, đạt trên 50%, còn
ở 75 ngày, chỉ còn dưới 50%. Khi bón tăng liều lượng N còn P.K giữ nguyên
hay bón tăng đồng thời N.P.K thì tỷ lệ tiêu hóa của cỏ cũng tăng dần nhưng
bón tăng đồng thời N.P.K thì tỷ lệ tiêu hóa tăng nhiều hơn so với chưa bón
1


tăng N, không tăng P.K. Ở tất cả các khoảng cách cắt và các mức phân bón
khác nhau đều cho thấy cỏ B. brizantha có tỷ lệ tiêu hóa vật chất hữu cơ lớn
nhất sau đó là B. decumbens và thấp nhất là P. atratum.
- Xác định được ảnh hưởng của ba loại cỏ tươi tới sinh trưởng của bò

developing cattles in a midland and mountainous of north region in Viet Nam
2. Principle contents:
To analysed the Chemical composition of researched grass with
different cutting inteval, different N levels and different N.P.K levels
To appreciate amount of fresh grass beef cattles consumtion and the
rate of grass was used in a day
Calculate the rate of degest organic grass
To appreciate effected of fresh grass on fattening beef cattles
To appreciate effected of hay grass on fattening beef cattles
3. Achievement
Chemical composition of researched grass
The result of study show that: dry matter, crude fiber and total ash of
harvesting grass are increased and dirirectly proportional to the lenght of
harvesting stage from 30 to 75 day. On the other side, crude protein, crude
0


lipit and NFE are indiectly proportion to these. Especially when age of grass
60 day, the crude fiber is over 44%. We should to harvest over 30 days of age
and under 45 days.
When increased only nitrogen fertilizer levels and phosphorus, kali
constant or increased nitrogen, phosphorus, kali, the rate of dry matter, crude
fiber, NFE in grass are reduced (full of N.P.K reducing less than only
fertilizer N), but the rate crude protein, total ash are increased (full of N.P.K
increasing more than only fertilizer N). The increasing or reducing of
chemical coposition non stop at the heightest fertilizer levels of N and N.P.K.
To appreciate amount of fresh grass beef cattles consumtion and
the rate of grass was used in a day
When increase the cutting of grass interval from 30 to 75 day: amount
of fresh grass beef cattles consumtion and the rate of dry matter are used

beef cattles.

2


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 0
1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
2. Mục đích của đề tài .................................................................................... 2
3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 2
3.1. Ý nghĩa khoa học ................................................................................ 2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn ................................................................................. 2
4. Điểm mới của đề tài ................................................................................... 2
Phần 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU .................................................................. 3
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài ....................................................................... 3
1.1.1. Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng thu nhận cỏ, tỷ lệ cỏ
được sử dụng và tỷ lệ tiêu hóa của cỏ .............................................. 3
1.1.2. Một số kết quả nghiên cứu về thức ăn sử dụng cho loài nhai lại ............ 8
1.1.3. Một số thông tin về các giống cỏ trong đề tài ................................ 13
Phần 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...... 19
2.1. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................ 19
2.2. Địa điểm nghiên cứu .............................................................................. 19
2.3. Thời gian nghiên cứu ............................................................................ 19
2.4. Nội dung nghiên cứu ............................................................................. 19
2.4.1. Thí nghiệm 1 .................................................................................. 19
2.4.2. Thí nghiệm 2 .................................................................................. 19
2.4.3. Thí nghiệm 3 .................................................................................. 21
2.5. Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu ........................................................ 24
2.6. Phương pháp xử lý số liệu..................................................................... 25
Phần 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN.......................................................... 26

Bảng 3.3: Thành phần hóa học của cỏ ở các mức bón N.P.K khác nhau ....... 30
Bảng 3.4: Khối lượng cỏ bò ăn được ở các tuổi cỏ khác nhau ....................... 31
Bảng 3.5: Tỷ lệ cỏ được sử dụng ở các tuổi cắt khác nhau ............................. 32
Bảng 3.6: Tỷ lệ tiêu hóa vật chất hữu cơ ở tuổi cắt khác nhau ........................ 33
Bảng 3.7: Tỷ lệ tiêu hóa vật chất hữu cơ lý thuyết của cỏ ở các mức bón N
khác nhau ....................................................................................... 35
Bảng 3.8: Tỷ lệ tiêu hóa vật chất hữu cơ của cỏ ở các mức bón N.P.K khác nhau .... 36
Bảng 3.9: Khối lượng trung bình của bò ở các kỳ cân ............................................. 37
Bảng 3.10: Tăng khối lượng trung bình của bò qua các giai đoạn ................. 38
Bảng 3.11: Tiêu thụ cỏ/1 bò và tiêu tốn cỏ cho 1 kg tăng khối lượng ............ 39
Bảng 3.12: Ước tính khả năng sản xuất thịt hơi của 1 ha cỏ/năm ................... 40
Bảng 3.13: Khối lượng của bò ở các kỳ cân .................................................... 41
Bảng 3.14: Tăng khối lượng của bò ở các giai đoạn ....................................... 42
Bảng 3.15: Tiêu thụ VCK/bò và tiêu tốn VCK của cỏ khô/ 1 kg tăng khối lượng .... 43

5


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

KCC

:

Khoảng cách cắt

VCK

:


Protein thô

NE

:

Năng lượng thuần

UFL

:

Đơn vị thức ăn tạo sữa

PDI

:

Tổng lượng protein được tiêu hóa ở ruột

DXKN

:

Đẫn xuất không đạm

VCHC

:



1


2. Mục đích của đề tài
Thông qua việc xác định khả năng thu nhận, tỷ lệ sử dụng cỏ, tỷ lệ tiêu
hóa hóa cỏ và ảnh hưởng của ba loại cỏ P.atrattum, B. brizantha, B. decumbens
đến sinh trưởng của bò thịt để đánh giá chất lượng và hiệu quả sử dụng cỏ
trong chăn nuôi.
3. Ý nghĩa của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Làm giàu thêm cho kho tàng kiến thức về cỏ trồng, giá trị dinh dưỡng và
hiệu quả sử dụng chúng trong chăn nuôi bò thịt ở khu vực miền núi phía Bắc.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần quyết định có phát triển sản xuất mở
rộng các giống cỏ nghiên cứu hay không.
4. Điểm mới của đề tài
- Xác định được khả năng thu nhận và tỷ lệ sử dụng của bò thịt trong
một ngày đêm đối với cỏ P. atratum, B. brizantha, Bdecumbens.
- Xác định được tỷ lệ tiêu hóa của ba giống cỏ nói trên
- Xác định được ảnh hưởng của ba loại cỏ nói trên trong khẩu phần ăn
đến sinh trưởng của bò thịt.

2


Phần 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng thu nhận cỏ, tỷ lệ cỏ được sử

1983) [51].
Đối với các khẩu phần nghèo dinh dưỡng như sử dụng cỏ khô, rơm khô
trong chăn nuôi thì bổ sung một lượng nhỏ thức ăn xanh khoảng 10- 30% tính
theo chất khô sé làm tăng khả năng thu nhận thức ăn của gia súc. Cụ thể là khi
bổ sung lá của các cây họ đậu có chất lượng cao như cỏ Alfalfa, cây anh đào
(Grilicidia maculata) hoặc cây keo dậu (Leuceana leucocephala) vào các
khẩu phần thức ăn phụ phẩm nhiều xơ không xử lý hoặc được xử lý bằng
amoniac đã có tác dụng tốt kích thích gia súc ăn nhiều hơn, tiêu hóa tốt hơn
Romulo, B. 1986 [80].
- Các yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ cỏ được sử dụng
Khi cỏ còn non, cây ít xơ nên mềm gia súc thích ăn nên tỷ lệ cỏ được
sử dụng thường cao. Khi càng tăng KCC cỏ đồng nghĩa với cỏ sẽ già dần,
tăng tỷ lệ lá già úa ở phần gốc, thân cây bị lignin hóa tăng, đặc biệt là ở phần
gốc, hiệu suất quang hợp kém nên giá trị dinh dưỡng giảm dần, vì vậy, khi gia
súc ăn thường để lại phần gốc già cứng và các phần lá già úa nên tỷ lệ cỏ
được sử dụng thường thấp.
Theo Peter M. Horme, (2002) [59] thì tỷ lệ protein trong cỏ cũng có
ảnh hưởng đến lượng cỏ thu nhận được, khi cỏ non (tỷ lệ protein trong VCK
cao) thì lượng cỏ được thu nhận lớn hơn và ngược lại.
Giữa các giống cỏ khác nhau thì tỷ lệ cỏ được sử dụng cũng khác nhau,
thông thường các giống cỏ có tỷ lệ xơ nhiều thì gia súc ít ăn hơn vì vậy tỷ lệ cỏ
được sử dụng thấp hơn, ngoài ra tỷ lệ cỏ đươc sử dụng còn liên quan đến loại
cỏ có nhiều lông hay cạnh sắc. Nếu cỏ nào chứa nhiều lông thô ráp hay cạnh lá
quá sắc thì tỷ lệ cỏ được sử dụng cũng giảm. Ngoài những yếu tố cơ bản trên
thì tỷ lệ thân/lá hay tỷ lệ chất độc, mùi vị của cỏ... cũng ảnh hưởng tới tỷ lệ cỏ
được sử dụng.
4


- Các yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ tiêu hóa cỏ


1979 [21]). Các cây thức ăn, phụ phầm nông nghiệp càng già và thức ăn xơ
thô chất lượng thấp thường có vách tế bào có mức độ bị lignin hóa cao với
cấu trúc phức tạp thì tỷ lệ tiêu hóa càng thấp.
Còn theo Alxeson [17] tính tỷ lệ tiêu hóa theo tỷ lệ xơ trong thức ăn
như sau:
Y = 87,6 - 0,81x
Trong đó Y: Là TLTH chất hữu cơ (%) của thức ăn; x: tỷ lệ chất xơ
trong thức ăn (%)
Như vậy, hàm lượng lignin càng cao thì TLTH của thức ăn càng giảm
và tỷ lệ xơ trong khẩu phần càng cao thì tỷ lệ tiêu hoá các chất hữu cơ trong
khẩu phần càng giảm.
Khi khẩu phần nhiều xơ, sẽ làm giảm tính ngon miệng, giảm tỷ lệ tiêu
hoá các chất. Vì vậy, trong khẩu phần của gia súc gia cầm phải cung cấp tỷ lệ
xơ phù hợp: Gà con 3 - 6%; Gà mái 5 - 8%; Lợn 7 - 12%; Trâu bò 30%.
Hàm lượng gluxit dễ tiêu (tinh bột, đường) sẽ làm cho khả năng tiêu
hóa chất xơ giảm xuống chỉ còn khoảng 13%, quá trình phân giải tinh bột tốt
nhất khi pH 6,2 (Chenost M.and Kayuli
C. 1997) [53].
Theo Vũ Chí Cương, 2004 [11], cho biết thành phần hóa học, tỷ lệ tiêu
hóa và giá trị dinh dưỡng của một số loại thức ăn chủ yếu dùng cho bò thì

đến năng suất, thành phần hóa học, tỷ lệ tiêu hóa và giá trị dinh dưỡng của cỏ
voi là khá rõ rệt. Tuổi tái sinh ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất, thành phần hóa
học, tỷ lệ tiêu hóa và giá trị dinh dường của cỏ voi. Khi tuổi tái sinh càng tăng
7


thì năng suất chất xanh, chất khô, hàm lượng DM, NDF, ADF, hiệu số PDINPDIE tăng theo nhưng lượng CP, tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng, NE, UFL
và giá trị PDI giảm.
1.1.2. Một số kết quả nghiên cứu về thức ăn sử dụng cho loài nhai lại
1.1.2.1. Một số nghiên cứu trong nước
* Sử dụng cỏ tươi
Theo Hồng Minh, (2002) [27] thì lượng thức ăn để tăng 1 kg thịt hơi cần:
từ 35-40kg cỏ tươi (nuôi đơn thuần là chăn thả) hoặc từ 18- 20 kg cỏ tươi +
3,4-4 kg rơm ủ + 0,3-0,4 kg cám, bột sắn (đối với nuôi vỗ béo tại chuồng).
Để sản xuất ra 1 lít sữa bò cần 8-10 kg cỏ tươi+ 3,4-4 kg rơm ủ + 0,3-0,4
kg cám hỗn hợp.
Theo Tô Du, (2005) [14] khẩu phần thức ăn của bò vỗ béo có khối
lượng cơ thể là 200 kg là 30 kg cỏ tươi các loại + 1 kg cỏ khô + 2,5 kg rơm;
còn bò có khối lượng 290 kg là 35 kg cỏ tươi + 1 kg cỏ khô + 3 kg rơm.
Theo Vũ Ngọc Tý, (1978) [46] bê nuôi thịt có khối lượng khác nhau,
thì nhu cầu cỏ tươi các loại là khác nhau:
Đối với bò đang sinh trưởng thì thể trọng cuối kỳ là 70 kg cần 8 kg cỏ
tươi; 100 kg cần 15 kg cỏ tươi, 130 kg cần 20 kg cỏ tươi, đồng thời phải cho
ăn thêm cỏ khô và 0,2 kg thức ăn tinh.
Đối với bò nuôi vỗ béo, thì khối lượng từ 200- 230 cho ăn 30 kg cỏ
tươi/con/ngày; bò 260- 290 kg cần 35 kg cỏ tươi/con/ngay; bò 320 kg cho ăn
40 kg cỏ tươi/con/ngay.
Trong mùa mưa, với khẩu phần 100% cỏ tự nhiên, trâu 19-21 tháng
tuổi tăng trọng 0,520 kg/con/ngày. Tăng trọng của trâu có thể đạt 0,5000,700 kg/ngày khi được chăn thả 6-7 giờ/ngày, bổ sung thêm cỏ cắt 10-12kg
và sắn lát khô cộng cám gạo với mức 1% khối lượng cơ thể, (Đào Lan Nhi,

ăn đến 36% do giẫm đạp. Để giảm thiểu tình trạng này, ta có thể cho ăn từng
kiện vào từng thời gian cụ thể, sau khi ăn hết mới cho kiện khác.
Trong hệ thống cho ăn theo ngày, các kiện được mở và cắt ra cho ăn
theo khẩu phần hàng ngày và để ở trên mặt đất hay máng ăn. Dùng hình thức
9


này sẽ giảm được lãng phí cỏ khi cho gia súc ăn, vì chỉ mất 30 phút đến 1 giờ
cho 1 lần ăn. Mất mát là dưới 2%.
Kiểm soát thức ăn bằng cách điều chỉnh các ô bằng gỗ, qua đó gia súc
có thể thò dần đầu vào lấy thức ăn và giảm được lao động, giảm thiểu cỏ bị
bẩn và bị giẫm đạp. Lượng mất mát thấp hơn 3% (Rider, A. R., 1979) [78].
Tác giả Vũ Chí Cương, (2004) [10] cho biết, khi thay thế 100% và 50%
thức ăn thô của địa phương bằng cỏ alfalfa khô nhập từ Hoa Kỳ đã làm tăng
lượng thu nhận chất khô, UFL, PDI và năng suất sữa của bò lai hướng sữa
nuôi ở Hà Nội và vùng phụ cận.
Theo Bùi Đức Lũng, (2005) [22] cỏ khô được cho ăn tự do, có thể phối
hợp với thức ăn ủ chua, thức ăn tinh, thức ăn củ quả...Cần cho ăn thêm cỏ tươi
sau khi ăn cỏ khô. Còn đối với sử dụng rơm khô thì cần bổ sung cỏ tươi và đặc
biệt lượng hỗn hợp tinh cao hơn so với khi ăn cỏ khô. Khi kiềm hóa rơm làm
thức ăn cho bò bằng các hình thức như dùng nước vôi tôi, ủ với ure, kết hợp
vôi và ure thì sau thời gian ủ từ 2-3 tuần (hè-đông) có thể lấy cho gia súc ăn.
Khi sử dụng rơm khô không xử lý, thì lượng thức ăn thu nhận của động
vật nhai lại là 3,06 kg/con/ngày, nhưng khi được xử lý bằng ure với tỷ lệ 5%
đã làm tăng lượng thu nhận lên 3,82 kg/con/ngày (tăng 25%). Đồng thời tăng
lượng vật chất khô tiêu hóa được của rơm khô từ 1,68 lên 2,48 (tăng 48%)
(Hart, F. and Wanapat, M., 1992) [58].
Theo Vũ Ngọc Tý, (1978) [46] bê nuôi thịt có khối lượng từ 70- 100 kg
thể trong cuối kỳ chỉ cho ăn 1 kg cỏ khô/con/ngày. Từ khối lượng từ 130- 220
kg thể trọng cuối kỳ thì cho ăn 3 kg rơm/con/ngày.

quả do mất cân đối về dinh dưỡng và đòi hỏi phải bỏ sung các thức ăn giàu
dinh dưỡng vào trong thức ăn.
Đối với các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng thấp như cỏ khô, rơm rạ...
thì nồng độ amoniac phân giải trong dạ cỏ thường thấp, khi bổ sung nitơ phi
protein đã làm tăng lượng thức ăn ăn vào, tăng tỷ lệ tiêu hóa, ổn định cân
bằng nitơ, tăng tốc độ lưu chuyển protein vi sinh vật trong dạ cỏ, tăng nồng

11


độ axit béo bay hơi tổng số trong dịch dạ cỏ, do đó làm tăng khả năng sản
xuất của gia súc và tăng hiệu quả sử dụng thức ăn Campling, R.C., 1962 [52];
Coombe, J.B. 1963 [54]; Loosli, J.K. 1968 [70]; Perdok. H.B., 1986 [72]).
Đối với các khẩu phần nghèo dinh dưỡng như sử dụng cỏ khô, rơm khô
thì cần bổ sung một lượng nhỏ thức ăn xanh (khoảng 10- 30% tính theo chất
khô của khẩu phần). Cụ thể là bổ sung lá của các cây họ đậu có chất lượng cao
như cỏ Alfalfa, cây anh đào (Grilicidia maculata) hoặc cây keo dậu (Leuceana
leucocephala) vào các khẩu phần thức ăn phụ phẩm nhiều xơ không xử lý
hoặc được xử lý bằng amoniac đã có tác dụng tốt kích thích gia súc ăn nhiều
hơn, tiêu hóa tốt hơn, đồng thời còn làm tăng tốc độ vận chuyển các chất
không thể tiêu hóa ra khỏi dạ cỏ và cuối cùng làm tăng năng suất sữa, mỡ sữa,
tăng tốc độ sinh trưởng và tăng cả sản lượng lông (Jackson, 1984; Romulo, B.
1986) [80].
Theo Skerman, P. J., (1990) [84] thì lượng thức ăn thu nhận hàng ngày
của gia súc phụ thuộc vào khối lượng con vật và phụ thuộc vào từng loài riêng
biệt. Để đánh giá khả năng thu nhận thức ăn của gia súc, người ta thường xác
định số gam vật chất khô ăn được trên đơn vị khối lượng trao đổi. Thức ăn thu
nhận được của gia súc là rất khác nhau tùy thuộc vào sự thành thục của cỏ, từ
24 g/kg W0,75/ngày với cỏ nhiệt đới thành thục, tới 100g/ kg W0,75/ngày với cỏ
nhiệt đới chưa thành thục.

cứu và phát triển thành cỏ trồng. Tuy nhiên, từ năm 1997- 1999 mới được
phát triển rộng tại các nước trên thế giới với nhiều tên khác nhau như Suerte
atra paspalum (Florida) (Kalmbcher, R. S., 1997) [62], Hi-Gane, ở Australia
(Loch, D. S. (1999) [69], ở Philipin được gọi với cái tên là Terenos (Horne, P. M.,
(1999) [60], atratum (Đông Nam Á)....
Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng từ 22- 270C, tuy nhiên nó chịu được
sự dao động của biên độ nhiệt rất lớn, trong phạm vi từ 2 - 350 C vẫn sinh
trưởng được. Đây là cỏ mùa ấm nên sinh trưởng rất kém trong mùa lạnh.
Những phần phía trên thường bị chết do sương muối, nhưng tái sinh rất nhanh
khi chuyển sang mùa ấm. Sống được ở phạm vi từ ánh sáng ôn hòa tới nơi có
độ che bóng cao và canh tác có hiệu quả ở rừng nông lâm kết hợp. Lượng
13


mưa thích hợp cho cỏ từ 750mm/năm trở lên, sinh trưởng tốt nhất ở vùng có
lượng mưa từ 1.500-2.000 mm/năm. Đây là giống cỏ vừa có khả năng chịu
hạn cũng như chịu úng tốt. Nhưng không sống được ở những nơi ngập nước
lâu. Có thể sống được ở kết cấu đất từ đất cát đến đất sét và có thể chịu đựng
được với vùng đất khô cằn, nhiều acid, chịu được lượng phân bón thấp nhưng
vẫn cho năng suất khá cao. Cỏ thích hợp và cho năng suất cao ở đất mầu mỡ,
đủ ẩm. Tốt nhất nên bón phân đạm từ 150- 200 kg N/ha/năm.
Paspalum atratum là cỏ lâu năm thân bụi, đẻ nhánh trên mặt đất, thân
không cao và chia lóng như một số cỏ hòa thảo khác, lá xuất phát từ gốc, nên
không có bẹ lá ôm lấy thân như một số cỏ thân cao chia lóng. Lá có màu xanh
đậm, dầy, mặt lá bóng, lá mọc đứng và tồn tại lâu năm, lá to, khi còn non thì
không sắc, tán lá có thể cao đến 1 m (Hare, M. D., 1999) [56], cao từ 1-2 m
khi ra hoa. Phiến lá thẳng đứng, có thể dài đạt 50 cm và rộng 3-4 cm, mặt lá
bóng, lá dòn ngay cả khi đã thành thục, rìa lá thô ráp. Những lá dưới gốc
thường có một ít lông và khi lá già thì thường rất sắc (Hare, M. D., (1997)
[57]. Lá cỏ dầy và dài nên gia súc nhai lại không thích ăn bằng các giống cỏ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status