Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến hạn hán khu vực nam trung bộ (2) - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------------------------------

Trần Chấn Nam

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN HẠN HÁN KHU
VỰC NAM TRUNG BỘ
Chuyên ngành: Khí tượng - Khí hậu học
Mã số:60440222
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Hà Nội - Năm 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------------------------------

Trần Chấn Nam

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN HẠN HÁN KHU
VỰC NAM TRUNG BỘ
Chuyên ngành: Khí tượng - Khí hậu học
Mã số:60440222

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS.MAI VĂN KHIÊM



DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Tổng hợp các chỉ số hạn được sử dụng phổ biến nhất........................................27
Bảng 2.2: Phân cấp hạn hán...................................................................................................30
Bảng 2.3: Danh sách trạm khí tượng lấy số liệu quan trắc trong thời kỳ quá khứ..........34
Bảng 3.1 Tần suất xuất hiện hạn quy mô 1 tháng trong các thời kỳ (%)..........................45
Bảng 3.2 Tần suất xuất hiện hạn quy mô 3 tháng trong các thời kỳ khác nhau (%).......49
Bảng 3.3 Tần suất xuất hiện hạn quy mô 6 tháng trong các thời kỳ khác nhau(%)........53
Bảng 3.4 Tần suất xuất hiện hạn quy mô 12 tháng trong các thời kỳ khác nhau (%).....57

ii


iii


DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (0C) trong 50 năm qua...............................11
(Nguồn: IMHEN/2010)...........................................................................................................11
Hình 1.2. Mức thay đổi lượng mưa năm (%) trong 50 năm qua
(Nguồn: IMHEN/2010)...........................................................................................................11
Hình 1.3. Xu thế biến đổi chuẩn sai nhiệt độ trung bình mùa khô khu vực......................12
Nam Trung Bộ (Nguồn: IMHEN/2010)................................................................................12
Hình 1.4. Xu thế biến đổi chuẩn sai nhiệt độ trung bình mùa mưa khu vực....................12
Nam Trung Bộ (Nguồn: IMHEN/2010)................................................................................12
Hình 1.5. Xu thế biến đổi chuẩn sai nhiệt độ trung bình năm khu vực.............................13
Nam Trung Bộ (Nguồn: IMHEN/2010)................................................................................13
Hình 1.6. Xu thế biến đổi chuẩn sai lượng mưa mùa khô khu vực Nam Trung Bộ
(Nguồn: IMHEN/2010)...........................................................................................................13
Hình 1.7. Xu thế biến đổi chuẩn sai lượng mưa mùa mưa khu vực Nam Trung Bộ

Hình 3.4.d: Hạn quy mô 6 tháng giai đoạn 2060-2079........................................................51
Hình 3.4.e: Hạn quy mô 6 tháng giai đoạn 2080-2099.........................................................52
Hình 3.5.a: Hạn quy mô 12 tháng giai đoạn 1980-1999.......................................................54
Hình 3.5.b: Hạn quy mô 12 tháng giai đoạn 2020-2039......................................................54
Hình 3.5.c: Hạn quy mô 12 tháng giai đoạn 2040-2059.......................................................55
Hình 3.5.d: Hạn quy mô 12 tháng giai đoạn 2060-2079......................................................55
Hình 3.5.e: Hạn quy mô 12 tháng giai đoạn 2080-2099.......................................................56

v


MỞ ĐẦU
Theo tổ chức Khí tượng thế giới WMO, hạn hán là một hiện tượng tự nhiên
được coi là thiên tai. Nó gây ra những thiệt hại to lớn đến môi trường sống của con
người cũng như hủy hoại các loài thực vật, động vật, làm giảm chất lượng không khí,
nước, làm gia tăng nguy cơ cháy rừng. Hạn hán tác động đến các hoạt động kinh tế xã
hội như giảm diện tích cây trồng, năng suất và sản lượng cây trồng. Hạn hán là một
trong những nguyên nhân gây ra đói nghèo thiếu lương thực tại các khu vực mà hiện
tượng này ảnh hưởng. Thiên tai này không có cách “phòng chống” mà chỉ có thể tránh
và giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra. Hơn nữa, hiện tượng hạn hán đã ảnh hưởng
đến rất nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các vùng khô hạn, bán khô hạn. Ảnh
hưởng của hạn ngày càng nghiêm trọng hơn: với tần suất và thời gian kéo dài đợt hạn
tăng lên, mức độ hạn khắc nghiệt, phạm vi hạn cũng mở rộng hơn nên đã gây rất nhiều
khó khăn cho người dân, nghiêm trọng nhất là tình trạng thiếu điện, thiếu nước trên
diện rộng. Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, tình trạng hạn hán ngày càng trở
nên nghiêm trọng hơn do hiện tượng El Nino tăng lên làm cho lượng mưa ít hơn, thêm
vào đó là tác động chặt phá rừng, đốt nương làm rẫy…của con người dẫn đến hàng
ngàn hecta hoa màu bị mất trắng, nhiều người dân sống trong cảnh đói nghèo. Do đó,
nghiên cứu về hiện tượng hạn hán là một trong những vấn đề đã và đang thu hút được
rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới cũng như trong nước ta. Việc


2


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Các khái niệm và đặc trưng của hạn hán
1.1.1. Các khái niệm hạn hán
Theo WMO (2005), hạn hán là một phần tự nhiên của khí hậu mặc dù nó vẫn bị
nhầm lẫn là sự kiện hiếm và ngẫu nhiên. Hạn hán khác khô hạn, khô hạn giới hạn
trong các vùng có lượng mưa thấp, và là một đặc trưng thường xuyên của khí hậu nơi
đó. Còn hạn hán được coi là có liên quan đến các điều kiện trung bình thời kỳ dài của
sự cân bằng giữa lượng mưa và bốc thoát hơi (bốc hơi + thoát hơi) trong một khu vực
cụ thể. Hạn hán cũng liên quan đến thời gian (chính vụ, sự trì hoãn sự bắt đầu mùa
mưa, sự xuất hiện của các đợt mưa có liên quan đến các giai đoạn sinh trưởng của vụ
mùa) và tính hiệu quả của mùa mưa (cường độ mưa, số đợt mưa). Tuy nhiên, đây chỉ
là các khái niệm mà chưa đề cập đến các định nghĩa hoạt động của hạn hán. Do đó, có
hai định nghĩa chính về hạn hán: khái niệm và hoạt động hạn hán.
Các định nghĩa về hạn hán:
Các định nghĩa hạn, được đưa ra trong công thức, giúp mọi người hiểu được
khái niệm về hạn hán. Vậy hạn hán là một khoảng thời gian thiếu hụt lượng mưa gây
ra những thiệt hại lớn đến mùa màng, dẫn đến giảm sản lượng cây trồng. Định nghĩa
này khá quan trọng trong việc thiết lập các chính sách về hạn.
Mỗi loại định nghĩa hạn sẽ giúp cho con người xác định được sự bắt đầu, kết
thúc và mức độ khắc nghiệt của một đợt hạn. Định nghĩa này thường được sử dụng để
xác định các trạng thái hạn hiện tại với trạng thái trung bình thời kỳ dài, thường là 30
năm. Các loại hạn hán được đề cập ở bên dưới.
1.1.2 Phân loại hạn
Hiện nay có nhiều cách phân loại nhưng theo WMO (2005), hạn hán được chia
thành bốn loại như sau:
Hạn khí tượng: hạn khí tượng thường được dựa trên mức độ khô hạn và thời

thể trở thành vĩnh viễn. Ví dụ, sự xuống cấp của chất lượng cảnh quan, bao gồm sự gia
tăng xói mòn đất, có thể dẫn đến một sự mất mát vĩnh viễn của năng suất sinh học của
khu vực.
+ Tác động kinh tế xảy ra trong lĩnh vực nông nghiệp và các lĩnh vực liên quan,
bao gồm cả lâm nghiệp và thủy sản, mà phụ thuộc vào bề mặt và nước ngầm cung cấp.
Ngoài thiệt hại rõ ràng về sản lượng trong cả vụ mùa và sản lượng chăn nuôi gia súc,
hạn hán còn liên quan với sự gia tăng nhiễm trùng, sâu bệnh cây trồng.
4


+ Các tác động xã hội có mặt trong các thời kỳ hạn hán kéo dài và khắc nghiệt.
Trong những trường hợp này, một số nguồn nước khẩn cấp sẽ được yêu cầu đưa ra để
để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
1.2. Các đặc trưng của hạn hán
Hạn hạn thường được xem xét dưới ba đặc trưng: cường độ, thời gian và sự trải
rộng theo không gian hạn hán (Wilhite, 2000).
- Cường độ hạn hán chính là mức độ thiếu hụt lượng mưa hay mức độ ảnh
hưởng hạn hán kết hợp với sự thiếu hụt đó. Cường độ hạn hán thường được xác định
bởi sự chệch khỏi mức độ trung bình của các chỉ số khí hậu và liên quan mật thiết với
thời gian xác định ảnh hưởng của hạn.
- Thời gian hạn hán chỉ khoảng thời gian một đợt hạn hán kéo dài.
- Sự trải rộng theo không gian hạn hay chính là phạm vi hạn hán: hạn có thể xảy
ra với diện tích hàng trăm km 2 đến hàng triệu km2, đặc biệt là các đợt hạn nghiêm
trọng có thể kéo dài mùa này sang mùa khác và ảnh hưởng trên một phạm vi rộng lớn
(WMO, 1975).
1.3. Vấn đề hạn hán ở Việt Nam và nguyên nhân
Nguyên nhân gây ra hạn hán
Hạn hán xuất hiện khi thời tiết bất thường như nhất thời thiếu hụt lượng mưa
hoặc lượng mưa nhận được thường xuyên ít ỏi. Hạn hán được cho là do những nguyên
nhân sau (Nguyễn Đức Ngữ 2002):

bao bọc xung quanh, tạo nên một vòng cung chắn gió từ phía Bắc qua Tây và Tây
Nam. Trong khi đó vào mùa gió Đông Bắc (thường xảy ra từ tháng 9 đến tháng 2 năm
sau) khi hoạt động lệch đông và lấn sâu xuống khu vực Nam Trung Bộ mang lại lượng
mưa nhất định trong năm, bị các dãy núi cao ở phía Bắc chắn lại đã làm giảm đáng kể
lượng mưa trong mùa mưa. Vào mùa gió mùa Tây Nam (xảy ra vào khoảng từ tháng 4
đến tháng 8), thường mang đến lượng mưa đáng kể cho khu vực Tây Nguyên và Nam
Bộ, song đối với khu vực Nam Trung Bộ do có các dãy núi cao phía Nam chắn lại nên
gió mùa Tây Nam không mang mưa cho khu vực này nên tại đây là mùa khô. Lượng
mưa của khu vực nhận được vào các tháng 9, 10, 11, 12 chủ yếu do hoạt động của
xoáy thuận nhiệt đới và dải hội tụ nhiệt đới, tuy nhiên lượng mưa nhận được từ sự ảnh
hưởng của hiện tượng này cũng là thất thường. Lượng mưa trung bình năm khu vực
đồng bằng xấp xỉ 720mm, trong khi đó lượng bốc hơi tiềm năng là 1.860mm, gấp gần
2,6 lần lượng mưa năm, riêng khu vực miền núi có lượng mưa trung bình năm khoảng
1.200mm, tuy nhiên mưa chỉ tập trung chủ yếu vào các tháng 9, 10, 11, 12, phần lớn
lượng nước này lại đổ ra biển, nên về mùa khô, hạn hán xảy ra thường xuyên là tất
6


yếu. Đi đôi với thiếu hụt của lượng mưa thì gió trên khu vực lại khá lớn đã gây nên
hiện tượng cát bay, cát nhảy cũng là nhân tố chủ yếu gây ra hạn hán thiếu hụt nước.
Diễn biến bất lợi về khí hậu thời tiết như nhiệt độ không khí tăng cao, lượng
bốc hơi, số giờ nắng đều cao hơn giá trị trung bình nhiều năm và đặc biệt là sự thiếu
hụt lượng mưa kéo dài trong nhiều tháng là những nguyên nhân chủ yếu gây nên hạn
hán ở Nam Trung Bộ, điển hình là đợt hạn nghiêm trọng năm 2002 tại Ninh Thuận là
do lượng mưa bình quân năm 2001 trong toàn tỉnh chỉ đạt 550mm, thấp hơn so với
lượng mưa trung bình nhiều năm (849mm) khoảng 35%, hạn hán xảy ra năm 2005 do
lượng mưa bình quân năm 2004 chỉ bằng 50% so với lượng mưa trung bình nhiều
năm. Hệ quả của việc thiếu hụt lượng mưa này làm cho lượng nước chứa trong các hồđập đều thấp hơn so với thiết kế (ví dụ năm 2005, thấp hơn 50% so với thiết kế), dòng
chảy cơ bản trong các sông suối cũng bị suy giảm làm cho lượng nước có thể khai thác
bị cạn kiệt, đất đai khô cằn, hoang mạc hóa.

năm từ 0,1- 0,5m, các hồ chứa vừa và nhỏ đều cạn kiệt. Đặc biệt các tỉnh từ Thanh
Hóa đến Bình Thuận, hạn hán tác động mạnh đến nông nghiệp (41,2% diện tích gieo
trồng bị hạn, trong đó 24.090 ha bị chết, tại đồng bằng sông Cửu Long hạn hán ít gay
gắt hơn, có 8564 ha lúa bị chết).
Theo thống kê của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương, năm
1998 hạn hán xảy ra trên cả nước là do hiện tượng El Nino 1997-1998 kéo dài 15
tháng (từ tháng IV năm 1997 đến tháng VI năm 1998) gây ra. Năm 1997 nhiệt độ bề
mặt trái đất cao hơn trung bình nhiều năm là 0,43 0C. Ở Việt Nam nhiệt độ trung bình
tháng từ tháng X đến 1997 đến tháng VI năm 1998 thường cao hơn trung bình nhiều
năm, liên tục xảy ra các đợt nắng nóng gay gắt, kéo dài nhiều ngày với nhiệt độ cao
nhất tuyệt đối đạt mức 40-410C. Cùng với đó, lượng mưa cũng có những thể hiện đặc
biệt, khu vực Bắc Bộ mưa rất ít trong các tháng đầu năm, mùa mưa đến muộn và tổng
lượng mưa trung bình năm 1998 chỉ bằng 60-80% lượng mưa trung bình nhiều năm,
tại khu vực Bắc Trung Bộ lượng mưa chỉ bằng 60-95% lượng mưa trung bình nhiều
năm, còn tại Nam Trung Bộ, từ tháng I đến tháng VIII (trừ tháng V), lượng mưa thấp
hơn trung bình nhiều năm, tuy nhiên các tháng còn lại lượng mưa lại cao hơn bình
thường. Chính điều này khiến cho đầu năm hạn hán xảy ra nghiêm trọng, còn lũ lụt
xảy ra nghiêm trọng từ tháng IX cho đến cuối năm. Tại khu vực Nam Bộ và Tây
Nguyên, lượng mưa nhận được đều ít hơn trung bình nhiều năm. Tình trạng hạn hán,
thiếu nước mùa khô 1997-1998 xảy ra đặc biệt nghiêm trọng, bao trùm hầu như trên
tất cả các khu vực của Việt Nam, gây nên thiệt hại lớn: diện tích lúa bị hạn cả nước lên
tới 254.000 ha trong đó 30.740 ha bị mất trắng vụ đông xuân, 435.320 ha bị hạn trong
8


đó 70810 ha bị chết vụ hè thu, 153.070 ha trong đó 22.690 ha bị mất trắng trong vụ
mùa. Cùng với đó hàng chục nghìn ha cây công nghiệp và cây ăn quả bị hạn, gần 3
triệu người thiếu nước sinh hoạt.
Vào những thời gian gần đây, hạn hán cũng xảy ra trên diện rộng và gây ra
những thiệt hại nghiêm trọng cho người dân ở nhiều địa phương trên cả nước. Vào

1.4. Nghiên cứu về hạn hán và tác động của Biến đổi Khí hậu đến hạn hán
1.4.1. Biến đổi khí hậu ở Việt Nam và khu vực Nam Trung Bộ
Ở Việt Nam hạn hán đã được quan tâm từ rất sớm (Nguyễn Trọng Hiệu, 1995;
Nguyễn Trọng Hiệu và Phạm Thị Thanh Hương, 2003). Việc nghiên cứu các đặc trưng
hạn hán như thời gian xảy ra hạn và cường độ hạn cũng như xu thế biến đổi hạn ở các
khu vực ở Việt Nam được trình bày khá chi tiết trong các nghiên cứu (Nguyễn Trọng
Hiệu và Nguyễn Đức Ngữ, 2004; Nguyễn Văn Thắng, 2007; Phan Văn Tân, 2010;
Nguyễn Trọng Hiệu và Phạm Thị Thanh Hương, 2010). Các kết quả của những nghiên
cứu cho thấy hạn hán có xu thế biến đổi đáng kể theo thời gian, đặc biệt hạn hán ở
Nam Trung Bộ có xu thế tăng nhẹ theo thời gian. Theo kịch bản nước biển dâng, 2009
của Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm tại Việt
Nam đã tăng khoảng 0,50C trên phạm vi toàn lãnh thổ và lượng mưa có xu thế giảm ở
phía Bắc, tăng ở phía Nam. Nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn so với mùa hè và nhiệt
độ vùng sâu trong đất liền tăng nhanh hơn nhiệt độ vùng ven biển và hải đảo. Lượng
mưa mùa khô (tháng XI-IV) tăng lên chút ít hoặc không thay đổi đáng kể ở các vùng
khí hậu phía Bắc và tăng mạnh mẽ ở các vùng khí hậu phía Nam trong 50 năm qua.
Lượng mưa mùa mưa (tháng V-X) giảm từ 5 đến hơn 10% trên đa phần diện tích phía
Bắc nước ta và tăng khoảng 5 đến 20% ở các vùng khí hậu phía Nam trong 50 năm
qua. Xu thế diễn biến của lượng mưa năm tương tự như lượng mưa mùa mưa, tăng ở
các vùng khí hậu phía Nam và giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc. Khu vực Nam Trung
Bộ có lượng mưa mùa khô, mùa mưa và lượng mưa năm tăng mạnh nhất so với các
vùng khác ở nước ta, nhiều nơi đến 20% trong 50 năm qua.
Trên khu vực biển Đông số lượng xoáy thuận nhiệt đới hoạt động có xu hướng
tăng nhẹ, trong khi đó số cơn ảnh hưởng hoặc đổ bộ vào đất liền Việt Nam không có
xu hướng biến đổi rõ ràng. Các cơn bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào Việt Nam có xu
hướng lùi dần về phía Nam lãnh thổ đất nước; các cơn bão rất mạnh có xu hướng gia
tăng về số lượng; mùa bão có dấu hiệu kết thúc muộn hơn trong thời gian gần đây. Tuy
nhiên, mức độ ảnh hưởng của bão đến Việt Nam có xu hướng mạnh lên.
Hiện tượng hạn hán, tính cả hạn tháng và hạn mùa có xu thế tăng lên nhưng với
mức độ không đồng đều giữa các vùng và giữa các trạm trong từng vùng khí hậu. Hiện


µ

1 8 °N

o

o

Q § . H oµng Sa

1 6 °N

Q § . H oµng Sa

1 6 °N

Th¸i Lan

Th¸i Lan

2 °C

1 4 °N

40%

1 4 °N

1 °C


1 0 4 °E

1 0 6 °E

1 0 8 °E

Sa
r­ ê n g

1 1 0 °E

ng
T r­ê
Q§ .

-2 °C

8 °N
1 1 2 °E

1 1 4 °E

Hình 1.1. Mức tăng nhiệt độ trung bình
năm (0C) trong 50 năm qua

1 0 2 °E

1 0 4 °E


2010). Trong đó, năm 1998 là năm có chuẩn sai nhiệt độ mùa khô và trung bình năm
cao nhất, trùng với năm có El Nino mạnh kỷ lục. Nhìn chung, nhiệt độ các tháng mùa
khô có xu thế tăng nhanh hơn các tháng mùa hè (Hình 1.3, 1.4 và 1.5).

11


Hình 1.3. Xu thế biến đổi chuẩn sai nhiệt độ trung bình mùa khô khu vực
Nam Trung Bộ (Nguồn: IMHEN/2010)

Hình 1.4. Xu thế biến đổi chuẩn sai nhiệt độ trung bình mùa mưa khu vực
Nam Trung Bộ (Nguồn: IMHEN/2010)

12


Hình 1.5. Xu thế biến đổi chuẩn sai nhiệt độ trung bình năm khu vực
Nam Trung Bộ (Nguồn: IMHEN/2010)
Đối với lượng mưa, lượng mưa trung bình năm có xu thế tăng trên toàn bộ khu
vực Nam Trung Bộ, với tốc độ tăng khoảng từ 0 đến trên 40%, tăng nhanh nhất là khu
vực Phú Yên - Khánh Hòa. Lượng mưa trung bình mùa mưa, mùa khô và lượng mưa
năm đều có xu thế tăng trong những năm qua trên khu vực Nam Trung Bộ (Hình 1.6,
3.7. 3.8). Đặc biệt, trong những năm gần đây, chuẩn sai của lượng mưa mùa khô đều
lớn hơn 0, trừ một số năm (1998, 2005, 2010) có liên quan đến hoạt động của El Nino
(Hình 1.6). Như vậy, với sự gia tăng của lượng mưa trong mùa mưa có thể sẽ ảnh
hưởng đến điều kiện hạn hán trong mùa khô trên khu vực, ở đây có thể làm giảm đi
mức độ nghiêm trọng hoặc thời gian hạn hán. Tuy nhiên, trong những năm El Nino
hoạt động, lượng mưa mùa khô lại giảm đáng kể, dẫn đến mức độ hạn càng nghiêm
trọng hơn.


xây dựng dựa trên số liệu mưa, nhiệt độ và độ ẩm quan trắc trong quá khứ cho thấy số
đợt hạn, tần suất và mức độ hạn hán, cũng như thời gian kéo dài hạn ở một số khu vực
đã tăng lên đáng kể.
Một nghiên cứu đánh giá hạn nổi bật khác về hạn trên quy mô toàn cầu là
nghiên cứu của Niko Wanders và cs (2010). Trong nghiên cứu này, tác giả đã đánh giá
ưu điểm, nhược điểm của 18 chỉ số hạn hán bao gồm cả chỉ số hạn khí tượng, chỉ số
hạn thủy văn, chỉ số độ ẩm, từ đó lựa chọn ra các chỉ số thích hợp để áp dụng phân tích
các đặc trưng của hạn hán tại năm vùng khí hậu khác nhau trên quy mô toàn cầu đó là:
vùng xích đạo, vùng khô hạn cực, vùng nhiệt độ ấm, vùng tuyết, vùng địa cực.
Nhiều nghiên cứu về hạn hán cho thấy sự giảm lượng mưa mạnh cùng với sự
tăng nhiệt độ đã làm tăng quá trình bốc hơi, gây ra hạn hán nghiêm trọng hơn (Loukas
A. và Vasiliades L., 2004). Đi đôi với xu thế ấm lên trên toàn cầu thời kỳ (1980-2000),
tần suất và xu thế hạn tăng lên và xảy ra nghiêm trọng hơn vào bất cứ mùa nào trong
năm, điển hình như ở Cộng hòa Séc cứ khoảng 5 năm lại xảy ra đợt hạn hán nặng
trong suốt mùa đông hoặc mùa hè, với mức độ nặng và tần suất lớn nhất vào tháng IV
và tháng VI (xảy ra trên toàn bộ lãnh thổ với tổng diện tích là 95%) (Potop và cs,
2008); hạn xảy ra vào các tháng mùa hè ở Hy Lạp ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoa
màu và sự cung cấp nước trong thành phố (Loukas A. và Vasiliades L., 2004); ở Cộng
hòa Moldova, cứ 2 năm thì lại có một đợt hạn nặng vào mùa thu (Potop V. và Soukup
J., 2008).
Trong báo cáo AR4 của IPCC (2007) đã chỉ ra rằng, sự ấm lên của trái đất là rõ
ràng, do sự gia tăng của nồng độ khí nhà kính trong khí quyển đã quan trắc được kể từ
thời tiền công nghiệp. Phát thải khí nhà kính sẽ tiếp tục tăng trong thế kỷ 21, điều đó
cho thấy tác động của chúng đến khí hậu sẽ lớn hơn nhiều trong thế kỷ 20 (IPCC,
2007). Báo cáo cũng cho rằng, các hiện tượng cực đoan ngày càng gia tăng về tần suất
và cường độ, khu vực chịu ảnh hưởng của hạn hán thì ngày càng gia tăng. Các dự tính
15


trung bình thập niên cho thế kỷ 21 cho thấy sự gia tăng của hạn hán ở nhiều nơi trên

ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, công tác quản lý tài nguyên nước và đến đời
sống xã hội và ngành kinh tế khác. Nếu hạn khí tượng càng dài và nghiêm trọng thì
mức độ ảnh hưởng càng nghiêm trọng hơn.
Trong những thập kỷ gần đây, nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố về
biến đổi khí hậu và các vấn đề liên quan đến hạn hán, mặc dù rất khó để phân biệt từ
những ảnh hưởng khác của con người. Hơn nữa rất khó để phân biệt giữa tác động của
biến đổi khí hậu và biến đổi khí hậu nhiều trong thập kỷ. Đã có nhiều phương pháp
tiếp cận nghiên cứu khác nhau để đánh giá sự biến đổi của khí hậu và tác động của
chúng đến hạn hán. Thông thường, phương pháp mô hình hóa để mô phỏng các số liệu
khí tượng thủy văn được sử dụng. Trong đó, một số cách tiếp cận chủ yếu tập trung
vào:
1) Sử dụng các mô hình khí hậu toàn cầu (GCM) và mô hình khí hậu khu vực
(RCM) (ví dụ cách tiếp cận của Gedney và Cox, 2003) để mô phỏng khí hậu trong đó
có sử dụng nhiều hoặc một mô hình đất được lồng ghép vào mô hình khí hậu. Sản
17


phẩm chính của các mô hình này là các chuỗi số liệu theo thời gian ở dạng ô lưới (độ
phân giải có thể 10-50km).
2) Sử dụng các mô hình Thủy văn bề mặt đất (LSHMs) (ví dụ cách tiếp cận của
Hagemann và Dümenil Gates, 2003), là các mô hình của các GCM, RCM và mô hình
thủy văn toàn cầu (GHMs) (ví dụ cách tiếp cận này được sử dụng trong các nghiên cứu
của Milly và cộng sự, (2002) Các mô hình GHMs có kèm theo các chương trình chi
tiết hơn về các quá trình thủy văn so với các GCM và RCMs hoặc LSHMs. Các mô
hình LSHMs và GHMs sử dụng số liệu khí hậu như là điều kiện biên và cũng đưa ra
các sản phẩm ở dạng chuỗi số liệu ô lưới (10-50 km);
3) Sử dụng các mô hình thủy văn cho lưu vực sông (RBHMs) (ví dụ như Van
Lanen và cộng sự, 2004b; Bell et al, 2006.). Những mô hình này cũng sử dụng dữ liệu
khí hậu (tốt hơn là đầu ra từ RCM) như điều kiện biên và tạo ra chuỗi thời gian của dữ
liệu thủy văn ở quy mô chi tiết (~ 1 km). Các mô hình được kiểm nghiệm và hiệu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status