ĐẠI HỌC THAI NGUYÊN ^
TRƯỜNG ĐAI HQC NÔNG
LÂM
NGUYỄN NGQC MINH
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ BỆNH HẠI DO NẤM CERA TOCYSTIS SP GÂY
HẠI TRÊN KEO TAI TƯỢNG (ACACIA MANGIUM WILLD)
THEO CẤP TUỔI TẠI HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HQC
Hệ đào tạo
Chuyên nghành
Khoa Khóa học
: Chính quy :
Lâm nghiệp :
Lâm nghiệp :
2011 - 2015
Thái nguyên, năm
2015
NGUYỄN NGQC MINH
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ BỆNH HẠI DO NẤM CERA TOCYSTIS SP GÂY
HẠI TRÊN KEO TAI TƯỢNG (ACACIA MANGIUM WILLD)
THEO CẤP TUỔI TẠI HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN
Xác nhận của giáo viên chấm phản biện
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã chỉnh sửa sai sót sau khi hội
đồng chấm yêu cầu!
(Ký, ghi rõ họ tên)
4
LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là nội dung rất quan trọng đối với mỗi sinh
viên
trước lúc ra trường. Giai đoạn này vừa giúp cho sinh viên kiểm tra, hệ
thống lại những kiến thức lý thuyết và làm quen với công tác nghiên cứu
khoa học, cũng như vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn sản xuất.
Để đạt được mục tiêu đó, được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa
Lâm Nghiệp trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên tôi tiến hành thực
tập tốt nghiệp với đề tài: “Đánh giá mức độ bị bệnh do nấm Ceratocystis
gây hại trên Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) theo cấp tuổi tại huyện
Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên". Để hoàn thành khóa luận này tôi đã nhận
sự giúp đỡ tận tình của cán bộ địa phương, người dân nơi tôi thực tập và
đặc biệt là sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của cô giáo hưỡng dẫn Th.S Trần
Thị Thanh Tâm và ThS. Trịnh Quang Huy đã giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình làm đề tài.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo
trong khoa Lâm Nghiệp, gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi vượt qua những
khó khăn bỡ ngỡ ban đầu của quá trình hoàn thành đề tài này.
Trong suốt quá trình thực tập, mặc dù đã rất cố gắng để hoàn
thành tốt bài đề tài, nhưng do thời gian và kiến thức bản thân còn hạn chế.
Vì vậy bài đề tài này không tránh khỏi những thiếu sót. Vậy tôi rất mong
MỞ
ĐẦU
l.l. Đặt vấn đề
Hiện nay cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội thì nhiều ngành
kinh tế cũng thay đổi không ngừng theo chiều hướng đi lên. Sự thay đổi theo
nhiều lĩnh vực khác nhau và theo mức độ khác nhau. Cùng với sự phát triển
chung này thì ngành lâm nghiệp cũng không nằm ngoài quy luật đó. Việt Nam
có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có diện tích đồi núi lớn (3/4 diện tích), là tiềm
năng lớn cho phát triển nông-lâm nghiệp nói chung và ngành lâm nghiệp nói
riêng. Hiện tại ngành lâm nghiệp đang quản lý 16.24 triệu ha rừng, chiếm 1/2
diện tích lãnh thổ, liên quan trực tiếp đến cuộc sống của 24 triệu người
trên cả nước.
Rừng là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, rừng cung cấp gỗ củi,
nguyên liệu cho các nhà máy chế biến gỗ, các loại đặc sản lâm sản ngoài gỗ,
mà còn tạo cảnh quan khu sinh thái, là lá phổi xanh của nhân loại điều hòa khí
hậu bảo vệ môi trường và còn nhiều tác dụng to lớn khác. Nhưng do nhu cầu
của con người với rừng và các sản phẩm từ rừng ngày một tăng, cháy rừng, sức
ép dân số, vấn đề đô thị hóa, công tác quản lý rừng còn lỏng lẻo là nguyên
nhân chính làm giảm diện tích rừng ở nước ta hiện nay.
Với tình hình thu hẹp nhanh chóng về diện tích cũng như chất lượng
rừng hiện nay sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như hạn hán, lũ lụt, biến
đổi khí hậu toàn cầu, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của con người và các loài
sinh vật trên trái đất. Trước thực trạng đó Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều
biện pháp thiết thực nhằm giảm tình trạng khai thác rừng bừa bãi, tiếp tục phủ
xanh đất trống, đồi núi trọc, tiến hành trồng rừng phòng hộ rừng đầu nguồn,
8
rừng trồng sản xuất tập trung nhằm đáp ứng nhu cầu của các nhà máy giấy các
Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật phòng trừ bệnh hại cây trồng và góp
9
phần tạo nên giống cây tốt, sạch bệnh cho sản xuất lâm nghiệp
1.3.
Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được các loại bệnh và mức độ bệnh hại do nấm Ceratocystis
sp gây ra.
-Đề xuất được một số giải pháp hạn chế mức độ phát triển của bệnh.
1.4.
Ý nghĩa việc thực hiện đề tài
Củng cố cho sinh viên phương pháp nghiên cứu khoa học, giúp cho sinh
viên biết vận dụng những kiến thức đã học trong trường vào công tác nghiên
cứu một cách có hiệu quả. Sau khi thực hiện đề tài sinh viên có khả năng lên
kế hoạch nghiên cứu hợp lý, biết tổng hợp, phân tích và đánh giá kết quả cũng
như viết một báo cáo nghiên cứu.
1.5.
Kết quả nghiên cứu
Bệnh hại
nấm keo tai tượng dẫn đến hiện tượng vỏ và phần gỗ bị
khác nhau. Do keo tai tượng đóng một vai trò quan trọng trong trồng rừng nên
đã có nhiều nghiên cứu về loài cây này, bao gồm các nghiên cứu về đặc điểm
sinh học đến kỹ thuật gây trồng cũng như khả năng sử dụng. Từ những kết
quả nghiên cứu có thể tóm tắt như sau:
Nghiên cứu về đặc điểm sinh học có các tác giả Zakaria and Awang,
Kiang, Kijkar, Pinyopusarerk, Doran và Turnbull, Bowen và Eusebio, Doran
và Gunn, Sim, các nghiên cứu cho thấy hoa keo tai tượng có màu trắng nhạt
hoặc màu kem, quả dạng đậu, dẹt, mỏng. Hạt keo tai tượng chất lượng tốt có
thể lấy từ cây 4 tuổi trở lên,mỗi kilogam hạt có khoảng 63.600 hạt. Hạt cần xử
lý trước khi cho nảy mầm, hạt sau khi xử lý có thể cho tỷ lệ nảy mầm đạt trên
75 %.
Nghiên cứu đặc điểm lâm học của các tác giả Atippanumpai (1989),
Turvey ( 1995) cho thấy keo tai tượng là cây mọc nhanh, xanh quanh năm, tuy
nhiên trong điều kiện nhiệt độ thấp, mưa ít, cây sinh trưởng chậm hoặc ngừng
sinh trưởng.
Các dự án nghiên cứu của CSRIRO vào những năm 1980 cho thấy tại các
nước Đông Á, Đông Nam Á, Australia đã cơ bản xác định các xuất xứ có triển
vọng là Abergowie, Claudie, Orimo, Kini, Bensbach, Wipim, Claudie River.
Khảo nghiệm giống tại một số nước nhiệt đới cho thấy, tăng trưởng của
các giống keo tai tượng biến động rất khác nhau, từ 20-44m 3/ha/năm phụ thuộc
vào giống, lập địa và biện pháp kỹ thuật lâm sinh ( Turnbull et al, 1998,
Nirsatmanto và Kurinobu, 2002).
Song song với công tác cải thiện giống, tìm hiểu các tính chất cơ lý gỗ
1
1
của loài và của từng giống keo tai tượng Ani và Lim (1993) ghi nhận tỷ trọng
gỗ keo tai tượng tăng theo tuổi và biến động rất lớn giữa các cá thể. Lim và
dụng cho các mục tiêu công nghiệp, xã hội và môi trường. Các loài có tiếng về
cung cấp nguyên liệu gỗ và bột giấy là keo lá tràm (A.auriculiformis), keo lá
liềm
(A.crassiarpa),
keo
tai
tượng
(A.mangium),
keo
đa
thân
(A.aulucocarpa)...còn các loài khác như a.colei, A.tumida lại có tiềm năng
cung cấp gỗ củi, chống gió và hạt làm thức ăn cho người ở một số vùng (
Cossalter, 1987; House anh Harwood, 1992).
Năm 1961-1968 Jond Boyce, nhà bệnh cây rừng người Mĩ đã mô tả một
số bệnh cây rừng,trong đó có bệnh hại keo.
Năm 1953 Roger đã nghiên cứu một số bệnh hại trên cây bạch đàn và keo
G.F.Brown (người Anh, 1968) cũng đề cập đến một số bệnh hại keo.
1
3
và Ân Độ” ( A Manual of Diseases of Tropical Acacias in Australia, Southeast
Asia ang India. Old et al, 2000) trong đó có các bệnh khá quen thuộc.
2.1.3.
Nghiên cứu về nấm Ceratocys
Ceratocystis là những loài nấm gây hại nguy hiểm cho nhiều loài cây, là
nguyên nhân gây nên bệnh thối rễ, gốc, loét thân cành và gây thối quả trên
nhiều loại cây trồng nhiệt đới (kile, 1993 ). Đặc biệt là loài ceratocystis
fibriata ellis & Halst sensu lato (s.1) gây chết hàng loạt bạch đàn ở cộng hòa
Công gô và Braxin (Roux et al, 2000); cây cà phê (coffe sp) ở Colombia và
venezuela (marin et al, 2003. Pontis, 1951).
Đây cũng chính là loài gây bệnh trên cây xoài ở Braxin (Ploetz, 2003;
Ribero, 1980; viegas, 1960) và là một trong những bệnh nguy hiểm nhất trong
nghành nông nghiệp và cây trồng ở nam mỹ. Ở Indonesia ceraticystis spp. Lần
đầu tiên được ghi nhân khi ceratocystis fimbriata (còn có tên là Rostrella
cofeae) được công bố năm 1900 trên cây cà phê ( coffea arabica) ở đảo Java
(zimmerman, 1900).
Sau đó nhiều loài ceratocystis đã được tìm thấy trên nhiều cây chủ khác
nhau trên nhiều nhiều hòn đảo ở Indonesia. Gần đây nhất là phát hiện 5 loài
nấm ceratocystis mới gây hại trên cây keo.
2.2.
Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
2.2.1.
Nghiên cứu nhân giống bằng nuôi cấy mô cũng đã được xác định môi
trường thích hợp cho nhân chồi và ra rễ thích hợp dựa trên môi trường MS cải
tiến (Lê Đình Khả, 1997). Nhân giống bằng phương pháp ghép keo tai tượng
được thực hiện theo 4 phương pháp khác nhau là: ghép nêm (mầm non), ghép
nối (mầm non), ghép nối (cành hóa gỗ), ghép nêm (cành hóa gỗ). Kết quả cho
thấy phương pháp ghép khác nhau cho tỷ lệ sống của hom ghép khác nhau rõ
rệt (Hà Huy Thịnh, 2010).
Nghiên cứu khả năng tái sinh của keo tai tượng cũng đã được nghiên cứu
bởi các tác giả Trần Hậu Huệ (1996), Kiều Thanh Tịnh (2005), Nguyễn
Quang Dương (2009).
2.2.2.
Nghiên cứu về bệnh hại keo
Từ đầu năm 1980 trở lại đây, nhiều loài keo đã được nhập về thử nghiệm
1
5
ở nước ta như keo tai tượng (A.mangium), keo lá liềm (A.crassicarpa), keo bụi
(A.cincinata), keo lá sim (A.holosericea) và sau này keo lai tự nhiên được phát
hiện và chủ động lai tạo ( Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003).
Mùa xuân năm 1990, các xuất xứ keo tai tượng và keo lá tràm gieo tại
vườm ươm Chèm, Từ Liêm, Hà Nội đã bị bệnh phấn trắng lá với các mức độ
khác nhau. Nhìn bề ngoài, lá keo như bị rắc 1 lớp bột phấn trắng hay vôi bột.
Mức độ bệnh đã được đánh giá qua quan sát bằng mắt thường và được xếp
theo thứ tự nặng hay nhẹ. Nhìn chung bệnh chưa gây nên ảnh hưởng gì lớn tới
sinh trưởng của cây con tại vườn ươm và tác giả cũng không có điều kiện để
tìm hiểu sâu hơn về nguồn gốc bệnh và các vấn đề liên quan (Nguyễn Hoàng
thể làm cho lá rụng, cây khô rồi chết, tỷ lệ bị bệnh như cây ở Lào Cai, lên đến
60% gây ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây.
Bênh phấn trắng cần được quan tâm ở giai đoạn vườn ươm và giai đoạn
rừng mới trồng, đặc biệt là keo lai và một số nơi trồng trên diện rộng.
2.2.3.
Nghiên cứu về nấm Ceratocystis
Ở nước ta với điều kiện khí hậu nóng ẩm tạo điều kiện cho nhiều loài
nấm phát triển đặc biệt là Ceratocystis đã bắt đầu xuất hiện trên cây Keo tại
một số nơi như Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Thừa Thiên Huế, Lâm
Đồng, Tuyên Quang và Quảng Ninh.
Những cây bị bệnh, gỗ bị biến màu, xì nhựa mủ ở vỏ, toàn bộ những cây
bị nhiễm bệnh chỉ sau một thời gian ngắn là chết ảnh hưởng đến năng suất và
chất lượng rừng trồng Keo.
Theo kết quả điều tra bệnh hại rừng trồng mới được thực hiện năm 2010
và năm 2011 tại Thừa Thiên Huế cho thấy trên các diện tích rừng trồng Keo tai
tượng, Keo lá tràm và Keo lai ở một số địa phương của tỉnh đã xuất hiện hiện
tượng cây keo chết héo với tỷ lệ 5-7%. Bệnh hại keo ở Thừa Thiên Huế được
xác định là một loài nấm thuộc chi Ceratocystis.
1
7
Các loài nấm thuộc chi này không phải mới xuất hiện ở Việt Nam, các
kết quả nghiên cứu trước đây đã ghi nhận loài nấm Ceratocystis fimbriata gây
bệnh thối mốc mặt-cạo cây Cao su (Hội Nông dân Việt Nam, 2011).
2.2.4.
8
Acacia có khoảng 1200 loài (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003), trong đó Keo tai
tượng (Acacia mangium), Keo lá tràm (Acacia auriculiformis) và Keo lai (A.
mangium x A. auriculiformis) được gây trồng chủ yếu ở Việt Nam. Diện tích
trồng Keo tính đến nay theo số liệu tổng hợp từ các công văn của 42 tỉnh trên
cả nước là hơn 990 nghìn ha, dẫn đầu về diện tích trong các loại cây được chọn
trong trồng rừng. Keo là loài cây được ưu tiên lựa chọn bởi nhiều đặc tính vượt
trội như sinh trưởng nhanh, biên độ sinh thái
được tính chất của
rộng,
đất...Đặc biệt
cải thiện
gỗ Keo
rất
phù hợp cho sản xuất nguyên liệu giấy, ván nhân tạo, sử dụng trong xây dựng,
đóng đồ mộc mỹ nghệ, hàng hóa xuất khẩu...Ở nước ta Keo được trồng ở hầu
hết các tỉnh từ Miền Bắc, Miền Trung, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ với mục
đích chủ yếu làm nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất giấy.
2.3.1.
Đặc điểm hình thái
Cây gỗ trung bình, chiều cao biến động từ 7 đến 30 m, đường kính từ 2535cm, đôi khi trên 50 cm. Thân thẳng, vỏ có màu nâu xám đến nâu, xù xì, có
vết nứt dọc. Tán lá xanh quanh năm, hình trứng hoặc hình tháp, thường phân
sông thuộc vùng nhiệt đới ẩm có 4 đến 6 tháng mùa khô. Lượng mưa trung
bình 1446-2970 mm, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 13-21 oC, tháng cao
nhất từ 25-32oC. Là loài cây ưa sáng mạnh và cũng đã được nhập trồng thành
công ở nhiều nước như Trung Quốc, Malaixia, Philippin, Thái Lan, Lào,...,
sinh trưởng mạnh nhất ở nơi có độ cao dưới 300m so với mực nước biển.
Vào đầu những năm 80
của thế kỷ trước được sự tài trợ của một số tổ
chức quốc tế, cùng với một số loài keo vùng thấp khác, keo tai tượng đã được
đưa vào gây trồng khảo nghiệm ở một số vùng sinh thái chính của nước ta.
Ngày nay, bên cạnh việc nguồn giống ngày càng được cải thiện về chất lượng
một phần thì diện tích trồng keo tai tượng cũng được mở rộng ở hầu hết các
tỉnh trong cả nước với khoảng 200000 ha tính đến năm 2006.
Đây là loài có biên độ sinh thái rộng, thích nghi được với nhiều vùng lập
địa khác nhau, có thể trồng trên đất bị xói mòn, nghèo dinh dưỡng, đất chua,
bồi tụ, đất phù sa, với độ pH từ 4-4,5. Cũng có thể sống được ở những vùng
2
0
ngập úng, thoát nước kém. Tuy nhiên ở những nơi này chúng sinh trưởng kém
và thường phân cành sớm, chiều cao không quá 10m. Sinh trưởng tốt nhất là
trên đất sâu, ẩm và giầu dinh dưỡng, thoáng khí và thoát nước tốt, cùng với độ
pH trung tính hoặc hơi chua.
2.3.3.
Khai thác, sử dụng
Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.4.1.
Vị trí địa lý
Định Hóa là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, cách thành phố
Thái Nguyên 50 km về phía Tây-Bắc. Tọa đô địa lý từ 24 005’ đến 24040’ độ vĩ
Bắc và từ 185005’ đến 185080’ độ kinh Đông. Phía Bắc giáp huyện chợ Đồn
(tỉnh Bắc Cạn); phía Đông giáp huyện Chợ Mới (tỉnh Bắc Cạn); phía Nam giáp
huyện
Phú Lương và huyện Đại Từ; phía Tây giáp huyện Yên Sơn và
huyện Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang).
2.4.2.
Khíhậu,thủy văn
Khí hậu mang tính cất nhiệt đới gió mùa, chia làm hai mùa rõ rệt: mùa
mưa và mùa khô. Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng
11 đến tháng 3 năm sau. Số ngày mưa trung bình hàng năm là 137 ngày, lượng
mưa trung bình 1.700mm/năm, chủ yếu tập trung trong khoảng thời gian từ
tháng 6 đến tháng 9 hàng năm. Tất cả sông suối ở huyện đều có chế độ lũ vào
mùa hè, trong đó lũ tập trung vào tháng 7 và tháng 8. Lưu lượng dòng chảy cao
nhất đạt được vào khoảng tháng 7 và tháng 8, nhỏ nhất vào tháng 3.
Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 22,5 0C, nhiệt độ cao tuyệt đối
39,50C (tháng 6), và thấp nhất 3 0C ( tháng 1). Mùa khô thường có sương muối
và rét đậm kéo dài, đặc biệt là từ tháng 11 năm trước đến tháng 1 năm sau,
gây ảnh hưởng xấu đến cây trồng và vật nuôi . Nhìn chung, chế độ nhiệt thích
Dựa trên cơ sở tài nguyên đất và bản đồ thổ nhưỡng, huyện Định Hóa có
6 nhóm đất với 11 loại đất như sau:
- Nhóm đất : nhóm đất phù sa, nhóm đất dốc tụ, nhóm đất đen và nâu
thẫm, nhóm đất vàng xám, nhóm đất đỏ và nâu vàng, nhóm đất mới biến
đổi.
- Loại đất:
+ Đất phù sa ngòi suối.
+ Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ.
+ Đất nâu đỏ trên đá macma trung tính và bazơ.
+ Đất đỏ vàng trên đá biến chất.
2
3
+ Đất đỏ vàng trên đá phiến thạch.
+ Đất vàng đỏ trên đá macma axit.
+ Đất vàng nhạt trên đá cát.
+ Đất nâu vàng trên phù sa cổ.
+ Đất mùn vàng đỏ trên đá macma axit.
+ Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa.
Tóm lại tài nguyên đất đai của huyện Định Hóa tương đối phong phú và
đa dạng về loại hình thổ nhưỡng, do đó cho phép phát triển đa dạng về
chủng loại cây trồng.
PHẦN III
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1.
nấm
Ceratocytis sp gây ra
-
Thu thập mẫu bệnh và mô tả các triệu chứng bệnh chết héo do nấm
Ceratocystis sp.
- Phân lập và mô tả đặc điểm hình thái của bệnh.
- Giám định nguyên nhân gây bệnh.
3.2.2.
-
Xác định mức độ gây hại của các loại bệnh hại
Sự sinh trưởng của hệ sợi nấm Ceratocystis sp trên môi trường dinh
dưỡng PDA.
-
Đánh giá ảnh hưởng của bệnh đối với keo tai tượng tại khu vực nghiên
cứu theo cấp độ tuổi.
3.2.3.
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đén phát triển của bệnh
- Đánh giá thiệt hại của bệnh đối với cây keo tai tương theo cấp tuổi.
- Đánh giá tỷ lệ bị bệnh (P%) do nấm giữa các cấp tuổi.
trí loét
vết loét,
vỏ và
gỗ xung
bị đổi màu,
thường có màu đen hoặc xanh đen, có thể bị chảy nhựa. Cây bị khô héo từ trên
ngọn xuống, khi vỏ cây và gỗ bị chuyển màu, tán lá bắt đầu héo và vẫn treo ở
trên cây. Mô tả và chụp ảnh thân, cành, lá bị bệnh.
-
Thu mẫu bệnh có biểu hiện gỗ bị biến màu, xì nhựa mủ ở vỏ ở các bộ
phận như thân, cành và rễ để phân lập nấm bệnh.
3.3.1.2. Phương pháp phân lập và mô tả đặc điểm hình thái của bệnh
Phân lập nấm bệnh được thực hiện bằng phương pháp bẫy nấm bằng cà
rốt, được mô tả bởi Moller và De Vay (1968). Mẫu cành, thân keo bị hại được
cưa thành những mẩu nhỏ, dùng dao chẻ chỗ bị bệnh, lựa chọn
những vị trí mới bị bệnh, cắt củ cà rốt thành những lát mỏng dày khoảng 4 - 5
mm, lấy những mẫu bệnh đã được chẻ nhỏ kẹp vào giữa 2 lát cà rốt rồi dùng
parafim cuốn lại để trong đĩa Petri ở nhiệt độ 25 - 28oC. Sau 3-5 ngày, kiểm tra
mẫu sẽ thấy các thể quả và các giọt bào tử nấm xuất hiện trên cà rốt. Dùng que
cấy nhỏ lấy bào tử cấy trên môi trường PDA. Nuôi nấm và làm thuần trên các
đĩa môi trường mới.
3.3.