LÊ THỊ LINH GIANG
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
LÊ THỊ LINH GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG VỚI CHUẨN NGHỀ NGHIỆP
GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CỦA CỬ NHÂN SƯ
PHẠM DO TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG ĐÀO TẠO
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CH4 (2008 – 2011)
Hà Nội – 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
LÊ THỊ LINH GIANG
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG VỚI CHUẨN NGHỀ NGHIỆP
GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CỦA CỬ NHÂN SƯ
PHẠM DO TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG ĐÀO TẠO
Chuyên ngành: Đo lường và đánh giá trong giáo dục
(Chuyên ngành đào tạo thí điểm)
2
3. Phương pháp nghiên cứu
2
4. Cấu trúc của luận văn
4
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
5
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
5
1.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu về chất lượng giáo viên
5
1.1.2. Nhóm công trình nghiên cứu về chuẩn nghề nghiệp GV
9
1.1.3. Tiểu kết
19
32
2.1. Mẫu nghiên cứu
32
2.1.1. Quy trình chọn mẫu
32
2.1.2. Số lượng mẫu
32
2.2. Nội dung và tiến trình nghiên cứu
33
2.2.1. Nội dung nghiên cứu
33
2.2.2. Tiến trình nghiên cứu
33
2.3. Phương pháp nghiên cứu
35
3.1.2. Phân bố khách thể nghiên cứu theo giới
47
3.1.3. Phân bố khách thể nghiên cứu theo thâm niên công tác
48
Nội dung
Trang
3.1.4. Phân bố khách thể nghiên cứu theo đặc điểm khối ngành
48
3.1.5. Phân bố khách thể nghiên cứu theo KQXL tốt nghiệp
48
3.2. Bức tranh chung về mức độ đáp ứng với Chuẩn mực nghề nghiệp GVTH của
Cử nhân sư phạm do Trường ĐHAG đào tạo
49
3.2.1. Kết quả xếp loại NLNN của GV theo chuẩn mực nghề nghiệp GVTH
49
76
3.4.3. Những điểm mạnh, điểm yếu, hướng phát huy điểm mạnh và khắc phục điểm
yếu của GVTHPT do Trường ĐHAG đào tạo
77
3.5. Kết luận Chương 3
84
Kết luận và đề xuất
86
1. Mức độ đáp ứng của GV THPT do Trường ĐHAG đào tạo với chuẩn nghề
nghiệp
86
2. Những đề xuất nhằm nâng cao chất lượng CTĐT Cử nhân Sư phạm của Trường
ĐHAG
87
Nội dung
Trang
Phụ lục 6: Kết quả phân tích độ tin cậy của bộ câu hỏi trong giai đoạn điều tra
chính thức
109
Phụ lục 7: Tổng hợp chỉ số độ phân biệt dựa trên kết quả của 3 nhóm đối tượng
trong giai đoạn điều tra chính thức
111
Phụ lục 8: Mức độ đáp ứng của GV ở các tiêu chí đánh giá
112
Phụ lục 9: Kết quả phân tích kiểm định thống kê giữa hai biến độc lập
114
Phụ lục 10: So sánh sự khác biệt về kết quả đánh giá GV dựa theo chuẩn nghề
nghiệp GVTH giữa các nhóm đối tượng
122
Phụ lục 11: Kết quả phân tích mức độ đáp ứng với Chuẩn nghề nghiệp GVTH theo
từng ngành của Cử nhân Sư phạm do ĐHAG đào tạo
123
Phụ lục 12: Đánh giá độ tin cậy và độ hiệu lực của bộ công cụ đo lường dựa trên
Chất lượng giáo viên
CLGV
Đảm bảo chất lượng
ĐBCL
Đại học An Giang
ĐHAG
Giáo viên
GV
Giáo viên tự đánh giá
GVTĐG
Học sinh
HS
Kiểm định chất lượng
KĐCL
Kết quả tốt nghiệp
Trung học
TH
Trung học cơ sở
THCS
Trung học phổ thông
THPT
Xuất sắc
XS
DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên
Nội dung bảng
bảng
1.1
Tóm tắt chuẩn nghề nghiệp GVTH ban hành theo Thông tư số
30/2009
Trang
3.2
Phân bố khách thể nghiên cứu theo giới
47
3.3
Phân bố khách thể nghiên cứu theo thâm niên công tác
48
3.4
Phân bố khách thể nghiên cứu theo đặc điểm khối ngành
48
3.5
Phân bố khách thể nghiên cứu theo kết quả xếp loại tốt nghiệp
49
3.6
Tổng hợp KQXL GV theo Chuẩn xét theo đặc điểm khối ngành
3.7
3.12
Những điểm yếu của GVTHPT
3.13
Hướng phát huy điểm mạnh và khắc phục điểm yếu của
GVTHPT
78
78 – 79
83
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Tên
Nội dung
hình
Trang
1.1
Quan niệm về người giáo viên
22
3.5
Sự phân bố KQXL GV theo Chuẩn xét yếu tố khu vực
61
3.6
Sự phân bố mức độ đáp ứng Chuẩn theo ngành
73
MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Chất lượng giáo dục (CLGD) nói chung và CLGD phổ thông nói riêng là
vấn đề luôn được xã hội quan tâm. Bước vào thời kì đổi mới giáo dục phổ thông,
vấn đề CLGD và nâng cao CLGD càng trở nên cấp thiết, trở thành vấn đề nóng của
xã hội. Nhiều nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng GV chính là một trong các yếu tố có
tính quyết định đến chất lượng và hiệu quả giáo dục. Nghiên cứu tại Tennessee và
Dallas ở Mĩ đã kết luận: “Chất lượng GV ảnh hưởng tới thành tích học tập của HS
nhiều hơn mọi yếu tố khác” [17]. Bác Hồ đã nói: “Không có thầy giáo thì không có
giáo dục” [17] và được cụ thể hoá ở Điều 15 của Luật Giáo dục 2005: “Nhà giáo
giữ vai trò quyết định trong việc ĐBCL giáo dục” [46]. Vì thế, người GV có vai trò
đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển giáo dục, là người quyết định biến mục
đích giáo dục thành hiện thực, đảm bảo hiệu quả và CLGD. Nói cách khác, nâng
- Đo lường mức độ đáp ứng của GV do Trường ĐHAG đào tạo với Chuẩn
nghề nghiệp GVTH;
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo Cử nhân Sư
phạm của Trường ĐHAG.
3.
Phƣơng pháp nghiên cứu
3.1.
Câu hỏi nghiên cứu
- GV do Trường ĐHAG đào tạo đáp ứng ở mức độ nào với Chuẩn nghề
nghiệp GVTH?
- Có sự khác biệt như thế nào về kết quả đánh giá của cán bộ quản lý
(BGH, TCM) và tự đánh giá của GV dựa theo Chuẩn nghề nghiệp GVTH khi xét
đến các yếu tố như: khu vực, thâm niên công tác, đặc điểm khối ngành, giới, KQXL
tốt nghiệp? Nếu có sự khác biệt, vì sao có sự khác nhau giữa kết quả đánh giá của
cán bộ quản lý và tự đánh giá của GV?
3.2.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.2.1. Khách thể nghiên cứu:
Đồng nghiệp (BGH và TCM);
GVTĐG (GV chính là SV đã tốt nghiệp từ khoá I đến khoá VI, hiện
đang giảng dạy tại các trường THPT trên địa bàn tỉnh An Giang, đúng với ngành
nghề đào tạo).
3.2.2. Đối tượng nghiên cứu : Đối tượng nghiên cứu của luận văn chính
là sự đáp ứng của GV do Trường ĐHAG đào tạo với Chuẩn nghề nghiệp GVTH.
- Phương pháp phỏng vấn;
- Phương pháp quan sát;
- Phương pháp khảo sát điều tra.
3.3.3. Công cụ được sử dụng để nghiên cứu
- Bảng hỏi để thu thập thông tin, dữ liệu;
-3-
- Các phần mềm chuyên dụng để xử lý số liệu.
4. Cấu trúc của luận văn
Luận văn 159 trang, trong đó:
Mở đầu (4 trang)
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu (27 trang)
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu (15 trang)
Chương 3: Thực trạng về mức độ đáp ứng với Chuẩn nghề nghiệp GVTH
của Cử nhân sư phạm do Trường ĐHAG đào tạo (39 trang)
Kết luận và đề xuất (7 trang)
Phụ lục (67 trang)
Formatted: Vietnamese (Vietnam)
-4-
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1. Nhóm công trình nghiên cứu về chất lƣợng giáo viên
Bất cứ một nghề nào mà không có NLNN thì người hành nghề cũng không thể
tranh chất lượng GV, đào tạo GV là trách nhiệm của Nhà nước và phải bằng chính
sách đầu tư nguồn vốn chủ yếu từ nhà nước, tổ chức các hội nghị giữa các trường sư
phạm với các địa phương.
Tác giả Nguyễn Thanh Hoàn (2003) trong bài “Vài nét về mô hình người GV”
[26] tác giả đưa ra khái niệm người GV, những đặc điểm chính để phân biệt phẩm
chất người GV, đồng thời tác giả đưa ra một số đề nghị để cải thiện công tác và hiệu
quả công tác của người GV. Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2009) với bài “GV chất lượng
cao trong thời đại hiện nay” [45] cho rằng GV chất lượng cao là những GV có trình
độ học thuật vững vàng, đủ sâu sắc và có tính phát triển thuộc chuyên ngành khoa
học – kỹ thuật – công nghệ được đào tạo, có kiến thức và nghiệp vụ sư phạm vững
vàng, có NL sáng tạo trong hoạt động thực tiễn khoa học và giáo dục, có khả năng
hành nghề sư phạm đạt kết quả hay có tính hiệu nghiệm cao, có thể đảm đương
được các vai trò mới trong một môi trường sư phạm đang biến đổi.
Mỗi công trình đề cập đến những khía cạnh khác nhau, nhưng điểm chung có
thể rút ra là: bức tranh tổng thể về cấu trúc NL sư phạm của người GV và những
yêu cầu đối với người GV.
Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu khác cũng có nội dung xoay quanh
vấn đề CLGV nhưng nhìn từ nhiều góc độ khác nhau như: tác giả Trần Quốc Thành
(2009) trong bài “Đánh giá lao động sư phạm của GV phổ thông hiện nay” [55] đưa
ra các nhận định và minh chứng nhằm chứng minh lao động thực thụ của GV phổ
thông dựa trên đặc điểm lao động người GV đồng thời đưa ra đánh giá lao động sư
phạm của GV phổ thông là lao động nặng. Cùng với cách định hướng và đánh giá
về công việc của GV có nghiên cứu Phan Thanh Long (2009) về “Định lượng và
đánh giá lao động GV phổ thông” [42] tác giả cũng đã chỉ ra những nguyên tắc định
lượng công việc của GV, thực trạng lao động của GV phổ thông. Phạm Minh Hạc
(2004) với bài “Phương pháp tiếp cận nhân văn: Nhân cách người dạy – nhân cách
-6-
-7-
của đề tài là đánh giá, xác định thực trạng NL sư phạm của GV tiểu học tỉnh An
Giang, tìm ra những yếu kém tồn tại, ảnh hưởng đến CLGV tiểu học, đồng thời xây
dựng hệ thống các giải pháp bồi dưỡng đội ngũ GV tiểu học. Tuy nhiên, đối tượng
nghiên cứu của đề tài là NL sư phạm của GV tiểu học.
Các đề tài cùng đưa ra những hình ảnh chung nhất về NL sư phạm của người
GV (đối tượng là GV tiểu học, THCS, THPT trên địa bàn tỉnh An Giang), đồng thời
cũng xây dựng hệ thống các giải pháp bồi dưỡng đội ngũ GV và tiến hành các giải
pháp, đề ra mô hình bồi dưỡng phù hợp, khả năng nâng cao trình độ GV trong toàn
tỉnh. Với quy trình khảo sát NL xây dựng hệ thống giải pháp thử nghiệm mô
hình đào tạo nâng cao NL GV.
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu của thế giới cũng đề cập đến
chất lượng và đánh giá NL GV. Cùng với sự thay đổi quan niệm về mục tiêu của
giáo dục và vai trò GV đối với việc học tập của HS, quan niệm về những NL cần
thiết của một GV cũng thay đổi. Theo các tác giả Lauer và Dean (2001) [1], vào đầu
thế kỷ XX, với quan niệm giáo dục trước hết là giáo dục đạo đức, CLGV đồng
nghĩa với đạo đức của GV; thông qua phẩm chất đạo đức của chính mình trong các
hoạt động hằng ngày, GV sẽ chuyển tải những giá trị đạo đức cho HS. Vào những
thập niên 40-50 của thế kỷ XX, định nghĩa về CLGV nhấn mạnh những tố chất cá
nhân như tính ham học hỏi và sự nhiệt tình. Sang thập niên 60 của thế kỉ XX, định
nghĩa này nhấn mạnh đòi hỏi của GV phải có những kĩ năng nghiệp vụ và hành vi
sư phạm phù hợp để chuyển tải chương trình giảng dạy đến HS. Ngày nay, định
nghĩa về CLGV đã được mở rộng để bao hàm hầu hết các yếu tố NL và phẩm chất
đã nêu ở trên. CLGV hiện nay được định nghĩa là một phức hợp các yếu tố cho
phép nhà giáo thu hút HS vào những hoạt động có ý nghĩa để thúc đẩy việc học của
HS, bao gồm cả kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng sư phạm và phẩm chất cá nhân của
nhà giáo mà chúng tôi sẽ tóm lược các định nghĩa ở phần cơ sở lý luận của vấn đề
nghiên cứu.
tỉnh: Hà Tĩnh, Sơn La, Trà Vinh, Đắc Lắc, TP Hà Nội” [12], “Báo cáo phân tích số
liệu đánh giá NLNN của GV theo chuẩn nghề nghiệp GVTH” [13], “Kết quả trưng
cầu ý kiến về Chuẩn nghề nghiệp GVTHPT theo đề xuất dự thảo lần thứ 6” [19],
hay nghiên cứu của tác giả Trần Bá Hoành (2010) trong bài “Những yêu cầu mới về
nghiệp vụ sư phạm trong chuẩn nghề nghiệp GVTH 2009” –[28].
-9-
Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến chuẩn nghề nghiệp GV như:
các tác giả Trần Kiều và Lê Đức Phúc (2001) trong bài “Cơ sở khoa học để xác
định chuẩn cho trường mầm non nông thôn trong công tác chỉ đạo” [41] –đã đưa ra
được những vấn đề cơ bản như xác định khái niệm, thống nhất hệ thống chuẩn mực
trong chỉ đạo thực hiện trên cơ sở mục tiêu giáo dục, chuẩn và “vùng phát triển gần
nhất của trẻ mầm non”, mối quan hệ giữa chuẩn và điều kiện giáo dục, quan điểm
hành động trong chỉ đạo. Tác giả Hồ Lam Hồng (2008) trong bài “Chuẩn nghề
nghiệp GV mầm non và quy trình xây dựng chuẩn nghề nghiệp” –[32] đã đưa ra
quan niệm về chuẩn nghề nghiệp GV mầm non và cơ sở lí luận và thực tiễn của việc
xây dựng chuẩn nghề nghiệp GV mầm non. Các tác giả Phan Sắc Long (2005) trong
bài “Chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học với việc đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá GV”
–[43], Nguyễn Thị Ngọc Quyên (2007) trong bài “Chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học
và việc thể chế hóa việc đánh giá NLNN GV theo Chuẩn” –[54], Trần Ngọc Giao
(2007) trong bài phỏng vấn “Hiệu trưởng cũng là một nghề, cần phải có Chuẩn”
[22] đã nghiên cứu, bàn bạc xoay quanh các vấn đề về mục đích của chuẩn, nội
dung của chuẩn, việc bồi dưỡng đội ngũ GV đang hành nghề để đáp ứng tốt yêu cầu
chuẩn đưa ra đồng thời đề xuất một số kiến nghị và giải pháp.
Đồng thời có các công trình nghiên cứu của một số nước trên thế giới đưa ra
chuẩn đánh giá NL GV như:
a) Chuẩn của Thái Lan [52]
Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng phổ thông ở Thái Lan gồm 18 tiêu
(3) Có khả năng quản lý lấy HS làm trung tâm;
(4) Có khả năng sử dụng công nghệ để phát triển bản thân và hoạt
động học tập của HS;
(5) Đánh giá kết quả dạy và học cùng với điều kiện học tập phục vụ
HS và liên quan tới sự phát triển của HS;
(6) Sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh việc giảng dạy nhằm
phát triển hết khả năng HS;
(7) Hướng dẫn, nghiên cứu, cải tiến việc học của HS và sử dụng kết
quả đó để giúp đỡ HS.
b) Chuẩn của Mỹ [30]
Vụ Quốc gia chuẩn nghề nghiệp GV NBPTS (National Board for
Professional Teaching Standards) với mục đích nâng cao chất lượng dạy và học. Vụ
- 11 -
này bắt đầu cấp chứng chỉ cho GV vào năm 1995. Vụ đã đưa ra 5 tiêu chuẩn cơ bản
nhằm đánh giá CLGV:
(1) GV phải có trách nhiệm với việc học của HS;
(2) GV phải hiểu biết về vấn đề mình dạy, biết cách truyền đạt
những hiểu biết đó cho HS;
(3) GV có trách nhiệm trong quản lý, theo dõi việc học tập của HS;
(4) GV cần biết suy nghĩ một cách hệ thống việc thực hành nghề
nghiệp và học tập từ kinh nghiệm;
(5) GV cần là thành viên trong một tổ chức giáo dục đào tạo.
Đánh giá NL GV được INTASC (Interstate New Teacher
Assessment and Support Consortium) đề xuất năm 1987. INTASC đã đưa ra hệ
thống các yêu cầu dành cho GV mới vào nghề. GV phải có một năm giảng dạy
trước khi lấy chứng chỉ. Những tiêu chí để đánh giá GV mới tương tự như tiêu chí
của NBPTS. Có 8 tiêu chí như sau:
nghĩa cho HS của mình;
(2) Hiểu rõ quá trình tiếp thu kiến thức và kỹ năng của các đối
tượng HS có NL khác nhau, và có khả năng giúp các em phát triển trí tuệ, xã hội và
cá nhân;
(3) Hiểu rõ những khác biệt trong phong cách và phương pháp học
tập của từng em, cũng như những trở ngại trong việc tiếp thu kiến thức và kỹ năng
của các em, và có khả năng điều chỉnh phong cách giảng dạy của mình cho phù hợp
với những nhu cầu đa dạng của HS, kể cả những HS khuyết tật hoặc có hoàn cảnh
đặc biệt;
(4) Hiểu rõ và biết cách sử dụng nhiều chiến lược giảng dạy khác
nhau, trong đó bao gồm cả việc sử dụng công nghệ để khuyến khích người học phát
triển các kỹ năng tư duy phê phán, giải quyết vấn đề và NL thực hành;
(5) Sử dụng hiểu biết của mình về động cơ của HS để tạo ra được
một môi trường học tập khuyến khích tính tương tác xã hội và tham gia tích cực của
mọi HS;
- 13 -
(6) Giao tiếp bằng lời và bằng cử chỉ có hiệu quả; có khả năng sử
dụng công nghệ truyền thông trong giảng dạy nhằm khuyến khích HS tự tìm tòi
khám phá, hợp tác và tương tác trong lớp học;
(7) Tổ chức và lập kế hoạch giảng dạy một cách có hệ thống dựa
trên kiến thức về môn học, người học, cộng đồng, và mục tiêu của chương trình
học;
(8) Hiểu rõ và có khả năng sử dụng các chiến lược kiểm tra chính
thức và không chính thức để đánh giá HS và đảm bảo sự phát triển thường xuyên
trên các mặt trí tuệ, xã hội và thể chất;
(9) Luôn tư duy và tự đánh giá tác động các hoạt động giảng dạy
của mình đối với HS, phụ huynh HS, đồng nghiệp và những người khác, đồng thời
(1) Hiểu biết về môn học;
(2) Kỹ năng lập kế hoạch giảng dạy và quản lý;
(3) Kỹ năng theo dõi đánh giá, báo cáo nhận xét.
Trung tâm đào tạo và phát triển trường học (TDA _ Training and
Development Agency for schools) là một tổ chức xã hội thuộc Vụ giáo dục và Đào
tạo của Anh. Mục tiêu của Vụ này là nâng cao khả năng học tập tốt được phân bố
trong 3 lĩnh vực chính:
(1) Thực hành nghề nghiệp;
(2) Kiến thức;
(3) Giảng dạy.
d) Chuẩn của Úc [30]
Năm 1993 Chính phủ Úc thành lập Hội đồng GV Úc. Năm 1996 Hội
đồng GV Úc đã đề xuất một hướng dẫn cấp Quốc gia nhằm đánh giá NL GV mới
với mục đích xây dựng tiêu chuẩn cho GV. Việc đưa ra tiêu chuẩn quốc gia này tạo
điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá GV thống nhất trên toàn lãnh thổ.
Có 5 lĩnh vực cơ bản:
(1) Sử dụng và phát triển sự hiểu biết và giá trị nghề nghiệp;
(2) Kỹ năng giao tiếp và làm việc với HS và đồng nghiệp;
(3) Lập kế hoạch và quản lý quá trình dạy và học;
(4) Theo dõi và đánh giá việc học tập của HS và kết quả học tập;
- 15 -
(5) Phản ánh, đánh giá việc lập kế hoạch cho việc phát triển nghề
nghiệp.
Chuẩn nghề nghiệp của GV tại bang Queesland (2005) bao gồm 12
tiêu chí sau đây:
(1) Linh hoạt và sáng tạo;
(2) Ngôn ngữ, văn chương, toán học;