ĐẠI HỌC THÁI
NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI
HỌC NÔNG LÂM
LƯỜNG THỊ NỰ
-ề-Ạ ^ \ •
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CANH TÁC NƯƠNG RẪY VÀ
ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT NƯƠNG RẪY TẠI XÃ CỔ LINH PÁC NẶM - BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy :
Chuyên ngành
Lâm nghiệp :
Khoa Khóa học
Lâm nghiệp :
2011 - 2015
Thái nguyên, năm
2015
Giảng viên hướng dẫn :
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân. Các số
liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực và
khách quan, nếu có gì sai xót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015 Xác
nhận của GVHD
Người viết cam đoan
Đồng ý cho bảo vệ kết quả
(Ký, ghi rõ họ và tên)
Trước hội đồng khoa học!
(Ký, ghi rõ họ và tên)
ThS. Nguyễn Thị Thu Hoàn
Lường Thị Nự
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viêm chấm phản biện xác nhận sinh viên
Đã sửa chữa sai sót sau khi hội đồng chấm yêu cầu!
(Ký, họ và tên)
LỜI CẢM ƠN
: Nương rẫy cố định
NRKCĐ
: Nương rẫy không cố định
NRBCĐ
: Nương rẫy bán cố định
PRA
: Phương pháp đánh giá nông thôn có người dân tham gia
MỤC LỤC
Trang
5.1........................................................................................................................
TÀI LIỆU THAM KHẢO
6
PHẦN 1
MỞ
ĐẦU
1.1.
Đặt vấn đề
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản
xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường
dụng hài hòa giữa các lợi ích kinh tế, bảo tồn tài nguyên môi trường được hình thành
và phát triển.
Canh tác nương rẫy (CTNR) là một hình thức canh tác lạc hậu của người dân
vùng cao với trình độ dân trí thấp, kỹ thuật canh tác còn hạn chế lạc hậu nên hiệu
quả kinh tế còn thấp, tính bền vững chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu về mặt
kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường, an ninh quốc phòng.
Cổ Linh là một xã miền núi khó khăn của huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn là xã
có địa hình chủ yếu là đồi núi với độ dốc cao, kỹ thuật canh tác của người dân chủ
yếu là canh tác nương rẫy. Các hình thức canh tác nương rẫy như nương rẫy cố định;
nương rẫy không cố định; nương rẫy bán cố định....
Xuất phát
từ thực tế trên, được
sự đồng ý của Ban Chủ
Nhiệm khoa
Lâm Nghiệp và giáo viên hướng dấn. Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá
thực trạng canh tác nương rẫy và định hướng sử dụng đất nương rẫy tại xã Cổ
Linh - Pác Nặm - Bắc Kạn”.
1.2.
Mục đích nghiên cứu
Nhằm đánh giá được hiệu quả của một số hệ thống canh tác nương rẫy của xã
Cổ Linh, phân tích nhưng thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức.
1.3.
Mục tiêu nghiên cứu
1.4.2.
Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Đề xuất các biện pháp kỹ thuật mang lại hiệu quả cao trong canh tác,
phù hợp với địa hình của xã và các giải pháp cho việc canh tác giống cây
trồng.
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1.
Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Miền núi chiếm 75% diện tích đất liền Việt Nam và 21% dân số cả nước.
Trong phạm vi miền Bắc Việt Nam, sự chênh lệch về mức độ phát triển kinh tế giữa
các vùng lãnh thổ và vùng miền núi sẽ có thể tăng từ trong thập kỷ tới (Lê Trọng
Cúc, 1995) [2].
Nét đặc thù của cộng đồng các dân tộc ít người ở miền núi là sống gần rừng
và dựa vào rừng. Vì vậy, họ có hệ thống kiến thức và kinh nghiệm sản xuất rất
phong phú trong việc bảo vệ, phát triển và sử dụng tài nguyên rừng. Tuy nhiên, đặc
trưng của kiến thức bản địa là phạm vi sử dụng hẹp. Nó phù hợp với điều kiện văn
hóa, phong tục tập quán, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương nhất định
nhưng có khi lại không phù hợp với địa phương khác, dân tộc khác. Kiến thức bản
địa luôn được hình thành và liên tục biến đổi qua các thế hệ trong mối cộng đồng;
kiến thức bản địa có khả năng thích ứng cao với môi trường và điều kiện của từng
địa phương nơi kiến thức bản địa hình thành và phát triển (Đỗ Đình Sâm và cộng sự)
[4]. Chính vì vậy, hệ thống kiến thức bản địa trong quản lý bảo vệ rừng cũng rất
lên, đời sống được cải thiện, góp phần đáng kể vào chương trình
xóa đói giảm nghèo ở miền núi, rừng được bảo vệ tốt hơn bao gồm phát triển bền
vững cả mặt kinh tế xã hội và môi trường, cụ thể:
Bền vững kinh
trọng tâm thông qua
tế: Nghĩa là lấy năng suất, chất lượng, hiệu quả làm
việc
trồng
các
loại
suất
cao và
ổn
định
cây cho
năng
được thị trường chấp nhận và đem lại lợi ích kinh tế cho người dân.
quá trình diễn thế mới có ích cho người dân. Tuy nhiên, đối với người nông dân du
canh tổng hợp, đó chỉ là sự can thiệp tạm thời vào hệ sinh thái rừng. Diễn thế bắt đầu
tái diễn trong nhiều trường hợp các phương thức du canh lại tích cực góp sức vào
quá trình tái tạo vào rừng. Dạng du canh tổng hợp không phá rừng mãi mãi, nó thay
thế rừng bằng một loại diễn thế cây tái sinh mà đối với người du canh lại sinh lợi
nhiều hơn là rừng tự nhiên ban đầu.
Jordan (1980) [13] đã nghiên cứu sự rửa trôi của các chất Kali, Magie và Nitơ
trong năm đầu trồng hoa màu như khoai mì, dứa, điều và cây khoai mỡ. Các
chất dinh dưỡng trong đất CTNR giảm dần do hoa màu được
thu
hoạch mang đi qua hệ thống, chất hữu cơ bị ô xi hóa mất đi, do bị rửa trôi hay bị xói
mòn lôi cuốn theo dòng chảy trên bề mặt. khi các chất dinh dưỡng giảm đến mức mà
năng suất hoa màu quá thấp không thỏa mãn nhu cầu của người canh tác thì đất
nương rẫy sẽ bị bỏ hóa và một mảnh đất quay trở lại để phát đốt canh tác thì dinh
dưỡng trong đất lại cạn kiệt dần và năng suất của hoa màu càng thấp dần, thời gian
canh tác trên đất nương rẫy càng ngắn dần lại.
Viện quốc tế và môi trường Anh quốc (1991) [8] cũng rất chú ý đến việc
nghiên cứu về nông nghiệp du canh. Do vậy, Viện đã chủ quản và điều hành một dự
án về đánh giá thực trạng du canh của 3 nước Lào, Việt Nam, Thái Lan vời nguồn
tại trợ kinh phí bởi Bộ ngoại giao Hà Lan. Ở Thái Lan đã tiến hành nghiên cứu
nương rẫy du canh ở miền bắc Thái Lan, các kiểu sử dụng đất thay thế du canh (cây
ăn quả, rau cải bắp, lâm sản ngoài gỗ...). Các kết quả nghiên cứu đề cập tới các vấn
đề có liên quan tới tính bền vững các kiểu sử dụng đất thay thế như chính sách,
quyền sở hữu đất, quản lý cộng đồng, chuyển giao kỹ thuật phù hợp, quản lý sâu
bệnh, độ phì đất và sử dụng nguồn lâm sản ngoài gỗ.
Tổ chức nghiên cứu nông lâm kết hợp ICRAF (1999) [12] cũng quan tâm
Cải thiện, mở mang cơ sở hạ tầng.
-
Giúp đỡ tích cực chương trình khuyến nông khuyến lâm.
Ở Indonexia từ những năm 1970 chính phủ nước này đã thực hiện các
chương trình định canh để hạn chế nông nghiệp du canh. Mục tiêu là trong 5 năm sẽ
định cư 500.000 hộ gia đình, nhưng trong thực tiến sau 18 năm mới
định canh 123.000 hộ.
Ở Trung Quốc nhà nước cũng rất quan tâm tới công tác định canh, định cư và
đã đạt đước những thành tựu đáng kể mà Việt Nam có thể học tập được kinh nghiệm
như: ở Vân Nam, Quảng Tây đã tiến hành 600.000 ha cao su chịu lạnh để thay thế
canh tác du canh, thu hút người dân du canh và các hoạt động sản xuất này hoặc phát
triển cây trồng, thu hoạch tam thất chiếm sản lượng lớn cung cấp cho thị trường
trong nước và ngoài nước.
Ở Lào, Myanma, Ân Độ, Malayxia... cũng đã thực hiện các chương trình dự
án hạn chế và thay thế nông nghiệp du canh trong nhiều năm nhưng kết quả thu
được còn hạn chế.
2.3.
Những nghiên cứu ở Việt Nam
Khái niệm về đất dốc ở đây để chỉ vùng trung du và miền núi, ở nước ta
chúng liên kết thành một dải liên tục từ Đông Bắc (Quảng Ninh) qua Tây Bắc (Lai
Châu) rồi vươn dài theo dãy Trường Sơn vào tận miền Đông Nam Bộ. Theo Nguyễn
Tử Xiêm và Thái Phiên, (1990) [7], Việt Nam có 121 huyện vùng cao gồm 2061 xã
trường, quản lý bền vững
về
đất
hợp các công nghệ,
chính sách và hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý kinh tế xã hội với các quan
tâm môi trường để đồng thời duy trì nâng cao sản lượng; giảm rủi ro sản xuất; bảo
vệ tiềm năng nguồn lực tự nhiên và ngăn ngừa thoái hóa đất và nước; có hiệu quả
lâu dài và được xã hôi chấp nhận.
Việt nam là một trong những quốc gia có quá trình nương rẫy du canh lâu đời
và phổ biến ở vùng đồi núi với cả 3 hình thức: quay vòng, tiến triển, hỗ trợ. Nông
nghiệp nương rẫy là nguyên nhân chính dấn đến việc mất đi một diện tích
rừng
nhiệt đới. Những
dải
đồi trọc phân
lớn
bố rộng lớn, nhất là
Đông Bắc và Tây Bắc Việt Nam, chính là hậu quả của quá trình nương rẫy từ xa
xưa...Tính cho đến 6-7 thập niên gần đây năm 1913 độ che phủ của rừng toàn quốc
là 40,7%, năm 1975 giảm xuống còn 28,6% đến sau 1995 mới tăng dần lên đến nay
biến, thị trương, đào tạo nguồn nhân lực...
Ở Việt Nam, hàng năm nương rẫy phá mất hàng chục nghìn ha rừng. Từ năm
1972, Chính phủ đã có pháp lệnh cấm phá đất rừng mưu sinh để làm nương rẫy và
đề ra các biện pháp định canh định cư ở miền núi, thực hiện các loại nương rẫy luân
canh của các dân tộc Dao, Mông, Thái, Tày. ở vùng núi thấp và chân núi cao; các
nương rẫy cày cuốc của dân tộc Mông, Dao Đỏ và những loại nương rẫy canh tác lâu
dài của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, Đông Trường Sơn và Đông Nam Bộ,
đồng thời khuyến khích khai phá đất dốc và ruộng bậc thang, lập các vườn rừng,
trồng cây lương thực, cây ăn quả, cây gỗ để bảo vệ đất rừng, từng bước phục hồi
rừng.
Diện tích nương rẫy của đồng bào dân tộc ít người thuộc các tỉnh vùng cao có
khoảng 1,2 triệu ha, phân bố rộng trên địa hình dốc lớn, có độ cao từ 300m trở lên
trong đó tập trung ở vùng Tây Bắc chiếm 43% tổng diện tích 1,2 triệu ha nương rẫy
trong toàn quốc, vùng Đông Bắc chiếm 36% [11] tổng diện tích 1,2 triệu ha nương
rẫy thống kê trên bao gồm:
- 840 ngàn ha nương rẫy cố định, trong đó: khoảng 360 ngàn ha của đồng bào
H’Mông, Dao phổ biến là ruộng bậc thang, được canh tác lúa nước 1 hoặc 2 vụ tùy
thuộc vào khả năng cung cấp nước tự nhiên với năng suất khoảng 1-2 tấn/ha/vụ,
phân bố ở độ cao trên 700m và chủ yếu thuộc khu vực quy hoạch rừng phòng hộ đầu
nguồn. Còn lại khoảng 480 ngàn ha phân bố phân tán với quy mô nhỏ ở độ cao 300700m, điệu kiện tự nhiên và điệu kiện thị trường thuận lợi hơn.
- 360 ngàn ha nương rẫy luân canh (trông cây nông nghiệp ngắn ngày một
thời gian sau đó để hoang hóa), trong đó: khoảng 240 ngành điều kiện canh tác nông
nghiệp khó khăn, năng suất cây trồng rất thấp, phương thức canh tác chủ yếu là phá
đốt thực bì trong mùa khô để gieo trồng cây nông nghiệp ngắn ngày. Đây là khu vực
phòng hộ đầu nguồn rất xung yếu với độ cao trên 700m và độ dốc trên 25% là nơi
sinh sống của trên 100 ngàn người dân tộc H’Mông, Dao... còn lại khoảng 20 ngàn
ha phân bố ở các khu vực núi đá, độ dày tầng đất mỏng.
Viện khoa học Lâm Nghiệp (2001) [9] đã phân tích khá sâu sắc về tập quán
Sang giai đoạn 1960 - 1980 là giai đoạn cải cách ruộng đất, đi vào làm ăn tập
thể. Ở thời kỳ này chính sách chung
của Nhà nước là hạn chế phát
nương làm rẫy, tập trung khai thác ruộng nước nên đã hạn chế được việc du canh.
Năm
1967 thực hiện chính sách của Nhà nước về vận động đồng bào
dân tộc miền núi định cư, đồng bào miền xuôi đi xây dựng vùng kinh tế mới, cùng
với
việc mở rộng diện tích
ruộng bậc thang để trồng lúa nước đã làm
tăng sản lượng lúa nước và khuyến khích khai hoang trồng cây công nghiệp và cây
ăn quả lâu năm ở vùng núi, một loạt các nông trường và lâm nghiệp quốc danh đã
được thành lập. Tuy nhiên, dân số tăng nhanh, đời sống đồng bào trở nên khó khăn,
thiếu đói hơn giai đoạn trước. Thiếu đói lương thực đồng bào quay trở lại phá rừng
làm nương rẫy, thời gian này nạn phá rừng diễn ra mạnh và bắt đầu gây mất cân
bằng về sinh thái làm mất tính bền vững. Năm 1976, nhà nước bắt đầu ra chính sách
trồng rừng. Nhà nước cung cấp cây giống, gạo cho dân để trồng và chăm sóc nhưng
hiệu quả thấp, đồng thời gặp nhiều khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm. Do đó đời
sống của đồng bào tiếp tục gặp nhiều khó khăn cũng là tình trạng chung của nông
dân cả nước.
Giai đoạn 1981 - 1987 đây là giai đoạn bắt đầu áp dụng chỉ thị khoán 100 của
Trung Ương đó là giao khoán thẳng đến người dân, tuy nhiên chỉ thị này chỉ phù hợp
với nông dân ở đồng bằng còn với người nông dân ở miền núi lại ít phù hợp. Do
Bảng 2.1: Diện tích đất nương rẫy ở Việt Nam
Vùng
Miền núi phía Bắc
Diện tích đất
Diện tích đất
nông nghiệp
nương rẫy
(1000ha)
(1000ha)
% Diện tích
đất nương rẫy
so với đất nông
nhiệp
1.257,4
644,6
51,3
32,4
Tổng số
1.427,7
2.682,6
(Nguồn: Viện Quy Hoạch và Thiết kế Nông Nghiệp Việt Nam 1993)
Theo Đỗ
Đình Sâm và
cộng sự (1994) [4],
301,2
diện tích đất nương rẫy
(gồm cả diện tích bỏ hóa cho chu kỳ canh tác sau) chiếm khoảng 3,5 triệu ha với số
người CTNR là khoảng 3 triệu người trên cả nước, trong đó có khoảng 2,2 triệu
người đã định cư còn lại là 0,8 triệu người vấn sống du canh, du cư, chủ yếu là người
H’Mông và người Dao với số hộ đói nghèo chiếm tới 20-30 %. Đặc điểm của nông
nghiệp du canh của nước ta là tồn tại ở tất cả các vung miền núi từ Bắc vào Nam, tỷ
lệ gia tăng dân số ở vùng này cao (3- 3,5%), quy mô gia đình lớn (7-9) người. Sự gia
tăng dân số tự nhiên cao cùng với phong trao di dân lên miền núi từ miền xuôi đã tạo
sức ép to lớn lên tài nguyên miền núi và làm cho tình hình khó khăn lại càng khó
khăn hơn.
Ở nước ta, tài liệu nghiên cứu về CTNR còn rất ít, một số tài liệu đề cập đến
hoạt động nương rẫy ở các góc độ khác nhau, có thể tổng hợp như sau:
Đỗ Đình Sâm (1996) [5] đã tổng kết 3 kiểu du canh ở Việt Nam là: du canh
Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
2.4.1.
Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý: Xã Cổ Linh nằm ở phía Nam của huyện Pác Nặm.
Phía Bắc giáp xã Bộc Bố, xã Công Bằng, huyện Pác Nặm.
Phía Nam giáp xã Cao Tân, huyện Pác Nặm.
Phía Đông giáp xã Xuân La, xã Nghiên Loan, huyện Pác Nặm.
Phía Tây giáp xã Hồng Thái, huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang.
Xã có diện tích tự nhiên là 3.968.32ha trong đó diện tích đất lâm nghiệp là
1102.33 ha, đất sản xuất nông lâm nghiệp là 303.54 ha, đất phi nông nghiệp là
162.73 ha, đất chưa sử dụng là 2394.94 ha.
Về hệ thống giao thông của xã Cổ Linh đã có đường nhựa liên xã, là một
điều kiện thuận lợi cho giao thông đi lại và trao đổi hàng hóa. Còn hệ thống giao
thông liên thôn chủ yếu là đương đất, về mùa mưa đường lầy lội gây khó khăn cho
việc đi lại.
* Đặc điểm địa hình: Độ cao tuyệt đối là 100m đến 600m, độ cao tương đối là
50m đến 500m. Vùng sản xuất nương rẫy cao từ 50m đến 500m, với độ dốc
tương đối lớn, hiểm trở, thảm thực vật chủ yếu là rừng tự nhiên tái sinh, giao
thông đi lại khó khăn, chủ yếu là đường mòn.
*
Đặc điểm khí hậu: Xã nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt
trong năm. Mùa đông lạnh trùng với mùa khô kéo dài từ tháng 10 năm trước
đến tháng 4 năm sau. Mùa hè nóng trùng với mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9
(mm)
85
khí (%)
89
165
98,5
82
13
158
103
18
23
160
145
120
254
80
85
87
134
10
14
80
85
11
10
106
98
110
95,1
90
87
12
6
Trung bình
81
-
Đất đồi: Là feralit màu vàng, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình,
nghèo dinh dưỡng và ở nơi có độ dốc tương đối lớn. Loại đất này thích hợp
cho các loại cây công nghiệp lâu năm và trồng rừng.
-
Tình hình sử dụng đất của xã.
Do địa hình núi dốc, đất đai chia cắt phức tạp hình thành các tiểu khí hậu
khác nhau về điều kiện tự nhiên và môi trường tập quán sản xuất. Do đó quá trình
sản xuất nông - lâm nghiệp gặp nhiều khó khăn và hạn chế.
* Các loại tài nguyên khác.
-
Nước
mặt: Có các hệ thống các suối, ao của xã phân bố tương đôi
đồng đều ở các thôn bản trên địa bàn là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sản xuất
và sinh hoạt của nhân dân. Song do các suối nhỏ hẹp, độ dốc tương đối lớn, chênh
lệch lưu lượng nước theo mùa. Nhất là mùa khô thường gây hạn hán, còn mùa mưa
thường xảy ra lũ quét, ảnh hưởng đến sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp.
-
Nước
dân cư, góp phần vượt qua những khó khăn thử
thách. Trong những năm gần đây, được sự đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng của huyện,
tỉnh
và trung ương. Bộ mặt của xã ngày càng khởi
sắc, bước đầu đã
đạt được những thành tựu quan trọng trên mặt trận kinh tế - xã hội và văn hóa. Giữ
vững an ninh trật tự - an toàn xã hội.
2.4.2.
Điều kiện kinh tế xã hội
* Dân số
Dân số
toàn xã là 3971 nhân
khẩu. 788 hộ phân bố không đồng
đều
trong đó (nam 2028, nữ 1943) phân bố rải rác các làng bản trong xã.
* Lao động, việc làm
Dân số trong độ tuổi lao động của xã Cổ Linh khoảng 2016 người, chiếm
50,77% dân số toàn xã, lao động ngành nông lâm nghiệp 1860 người, chiếm 92,26%
tổng số lao động. Lao động phi nông nghiệp khoảng 156 người, chiếm 7,74%.
Nguồn lao động của xã khá dồi dào, xong phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở
tốt các chương trình quốc gia. Tiêm chủng mở rộng, đối tượng tiêm chủng đầy đủ
năm 2013: 114/116 đạt 98,2%, tiêm UV2 cho phụ nữ có thai: 66, sởi: 111. Chương
trình chăn sóc sức khỏe sinh sản, khám thai: 206 người. Phòng chống HIV/AIDS
triển khai theo kế hoạch trong năm. Chương trình phòng chống suy dinh dưỡng, đã
khám chữa bệnh cấp thuốc cho 4153 lượt người trong đó đối tượng BHYT người
nghèo là 2143, trẻ em là 1192, người đang công tác, hưu trí là 65. Tuy nhiên trạm y
tế xã có một số khó khăn cơ bản như cán bộ y tế chưa được bồi dưỡng nghiệp vụ
thường xuyên, cơ sở vật chất còn thiếu, địa bàn rộng, đi lại khó khăn nên công tác
chăm sóc sức khỏe cho nhân dân còn chưa được chu đáo.
Ngoài ra tại các thôn đều có y tá thôn bản làm nhiệm vụ tư vấn, hỗ trợ chăm
sóc
sức khỏe cho cộng đồng. Đây là đội ngũ sát với thực
dân trong thôn, tuy nhiên năng lực còn rất nhiều hạn chế.
* Văn hóa
tế của nhân