TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ
NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGUYỄN NHƯ
SỬA LỖI VỀ THÀNH PHẦN CÂU TRONG CÁC BÀI TẬP LÀM VĂN VIÉT
CỦA HỌC
SINH LỚP 3-4
KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành:Phương pháp dạy học Tiếng Việt
HÀ NỘI,
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ
NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGUYỄN NHƯ
SỬA LỖI VỀ THÀNH PHẦN CÂU TRONG CÁC BÀI TẬP LÀM VĂN VIÉT
CỦA HỌC
SINH LỚP 3-4
KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành:Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Ngưòi hướng dẫn khoa học
TS. Nguyễn Thu Hương
nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thu Hương.
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này
trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào. Tôi xin chịu trách
nhiệm về nghiên cứu của mình.
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Như Quỳnh
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
r Khóa luận tôt nghiệp
Nguyễn Như Quỳnh - K37GDTH
c-V
: chủ - vị
HS1
: học sinh 1
HS2
TN1
: học sinh 2
: trạng ngữ 1
TN2
đã được cung cấp một số kiến thức sơ giản về cấu tạo ngữ pháp của câu, các thành
phần câu. Thành phần câu là một địa hạt quan trọng trong ngữ pháp học nói chung và
ngữ pháp Tiếng Việt nói riêng. Đặc biệt, ở trường Tiểu học, thành phần câu lại càng
quan trọng hơn. Kiến thức về thành phần câu và kĩ năng vận dụng các thành phần câu
định hướng cho học sinh tiểu học nói đúng, viết đúng Tiếng Việt. Học sinh nắm được
nắm được kiến thức về thành phần câu, biết cách phân tích cấu trúc ngữ pháp của câu,
xác định đúng các thành phần câu đã được học và có kĩ năng vận dụng thành phần câu
để tạo ra những câu đúng ngữ pháp, gợi tả, gọi cảm là một yêu cầu cấp thiết. Vì đó là
nền tảng để học nói, viết Tiếng Việt đúng, chuẩn ngữ pháp, hình thành nơi các em
năng lực hoạt động ngôn ngữ và chuẩn bị tiềm năng cho trẻ nhỏ học lên các bậc học
cao hơn sau này.
Tuy nhiên, học sinh tiểu học hiện nay do các em chưa nắm vững các kiến thức
về thành phần câu. Hơn nữa, do tuổi đòi còn nhỏ nên khả năng nói và viết của các em
là rất hạn chế. Các em thường chỉ nói, viết được những câu đơn giản còn khi nói, viết
các câu phức tạp hơn thì khó khăn hơn. Chính vì vậy,việc mắc lỗi vói các em là
điềukhông thể tránh khỏi, đặc biệt là các lỗi về thành phần câu. Nó được thẻ hiện rõ
trong các bài tập làm văn viết của các em. Ngoài ra, thực tế các giáo viên việc dạy về
câu cũng như thành phần câu thường qua loa, đại khái, chưa đi sâu vào các kiến thức
họng tâm. Muốn vậy giáo viên cần phải có kiến thức nhất định về thành phần câu
r Khóa luận tôt nghiệp
Nguyễn Như Quỳnh - K37GDTH
Tiếng Việt để có thể hiểu, lý giải phân tích cho học sinh và từ đó đưa ra những biện
pháp giúp các em khắc phục được những hạn chế đó.
Là một giáo viên tương lai, trăn trở lớn nhất của tôi làm sao để các em không
bị mắc lỗi về thành phần câu khi đặt câu, viết văn. Từ đó các em có thể viết được
những bài văn hay, những lời nói đẹp thu hút hấp dẫn được người đọc và người nghe.
5. Phạm vi nghiên cứu
-
Trường tiểu học Ngô Quyền - Vĩnh Yên -Vĩnh phúc và Trường tiểu học Phạm Công
Bình -Yên lạc -Vĩnh Phúc.
r Khóa luận tôt nghiệp
Nguyễn Như Quỳnh - K37GDTH
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, khóa luận phải thực hiện được các nhiệm vụ
sau:
-
Trình bày khái quát những lý luận liên quan đến thành phần câu, đặc biệt là những
thành phần câu dạy ở Tiểu học.
-
Đưa ra thực trạng mắc lỗi về thành phần câu trong các bài tập làm văn viết của học
sinh lớp 3 -4.
-
Miêu tả các lỗi về thành phần câu và cách sửa cho các lỗi đó.
câu) là thành tổ trực tiếp cẩu tạo câu, có thể là từ, ngữ, liên hợp đẳng lập hoặc một
tiểu cú.
Quan niệm về thành phần của Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp (2004)
đơn giản và mang tính khái quát rất cao. Theo họ, thành phần câu là những từ tham
gia nòng cốt câu (bẳt buộc có mặt để đảm bảo tính trọn vẹn của câu) hoặc phụ thuộc
trực tiếp vào nòng cốt của câu.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu đơn giản về thành phần câu như sau: “Thành
phần câu là đơn vị quan trọng để tạo nên câu trong Tiếng Việt. ”
1.2.
1.2.1.
1.2.1.1.
Phân loại thành phần câu Tiếng Việt
Thành phần chính của câu
Khái niệm
Các nhà ngữ pháp học truyền thống quan niệm thành phần chính của câu là
thành phần tạo nên nòng cốt của câu, không thể thiếu được trong câu đơn bình thường
vì thiếu nó không tạo thành câu [9,22-23], [5,126]. Nói một cách khái quát hon, thành
phần chính của câu là yếu tố cú pháp bắt buộc có mặt trong câu để đảm bảo cho câu có
tính trọn vẹn. Thành phần chính của câu gồm có chủ ngữ và vị ngữ. Chủ ngữ, vị ngữ
tạo nên nòng cốt câu trên cơ sở quan hệ cú gọi là quan hệ chủ - vị.
Các nhà ngữ pháp học chức năng cho rằng có thành phần nòng cốt đề - thuyết
[20, 168], phần cốt đề, thuyết. Đề và thuyết là những thành tố cơ bản cấu tạo nên nòng
cốt câu, hạt nhân đề - thuyết là cấu trúc hạt nhân của câu.
Như vậy, thành phần chính của câu là thành phần quan trọng nhất trong câu.
Thành phần chính của câu gồm có chủ ngữ và vị ngữ. Quan hệ chủ - vị tạo nên nòng
Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp,.... Nguyễn Thị Thìn (2001) khẳng định chủ ngữ có quan hệ
chặt chẽ, trực tiếp và phù hợp vói vị ngữ, kết họp vói vị ngữ để tạo nên cấu trúc ngữ
pháp cơ bản biểu thị nội dung mệnh đề [16, 54]. Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn
Hiệp (2004) cho rằng chủ ngữ có thể chỉ hành động hay đối tượng của hành động, kẻ
mang một phẩm chất nào đó, hay là một sự vật (tình huống) được quy vào một phạm
trù nhất định hoặc đồng nhất với một sự vật (tình huống) khác. Ngoài ra tác giả còn
phân biệt chủ ngữ chủ đề, chủ ngữ vị trí và chủ ngữ chỉ hình thức [17, 183 -184].
về vai trò của chủ ngữ đối với tố chức câu: Có những nhà ngữ pháp cho rằng
chủ ngữ quan trọng hơn vị ngữ vì nó chi phối sự xuất hiện của vị ngữ [19,184], Ngược
lại, có rất nhiều ý kiến cho vị ngữ là thành phần chính quan trọng nhất trong câu [14,
181], [5, 139], [16, 69], [17,109, 191], b2. Vị trí chủ ngữ trong câu
Các nhà nghiên cứu ngữ pháp học đã nhất ý kiến là chủ ngữ thường đứng trước
vị ngữ theo trật tự c - V (“vị trí thuận của chủ ngữ” [17, 187]). Tuy nhiên chủ ngữ có
khả năng đứng sau vị ngữ (“vị trí nghịch của chủ ngữ” [17, 187]) trong một số trường
họp nhất định và gắn với những điều kiện nhất định. Đó là trong trường họp người nói
muốn nhấn mạnh vị ngữ để người nghe chú ý [9, 26]; nhất là khi câu mang rõ màu sắc
biểu cảm [8, 60]; chủ ngữ trong các câu có quan hệ từ là chuyển theo quy tắc riêng: chỉ
ở những câu đồng nhất tuyệt đối, chủ ngữ mới có thể chuyển ra sau vị ngữ, còn trong
các câu không có hệ từ, bất cứ một chủ ngữ thể nào cũng có thể chuyển ra sau vị ngữ
nhờ có chỉ tố phân đoạn thực tại là. [17, 187 -188]
b3. Cấu tạo của chủ ngữ
Chủ ngữ thường được biểu hiện bằng danh từ (cụm danh từ), đại từ đây là hình
thức phổ biến nhất của chủ ngữ - vị ngữ (cụm vị từ) số từ, từ chỉ vị trí được danh hóa,
cụm từ (đẳng lập, chính phụ, cố định) kết cấu c -V và một số kiểu cấu trúc khác.
Diệp Quang Ban (2005) gọi là “kiến trúc đặc biệt” gồm:
-
-
về khái niệm: Chủ ngữ là thành phần chính của câu thể hiện đối tượng được thông báo
trong câu, cùng với vị ngữ tạo thành nòng cốt câu.
-
về vị trí: Chủ ngữ thường đứng trước vị ngữ theo trật tự C- V nhưng khi cần nhấn
mạnh nội dung thông báo hay biểu thị tình cảm, cảm xúc, .... Người ta có thể đặt vị ngữ
lên trước chủ ngữ.
-
về cách xác định chủ ngữ: Chủ ngữ có thể xác định bằng cách xác định nòng cốt câu,
xác định thành phần chính của câu (sử dụng phép lược câu, tìm thành phần cấu tạo tối
thiểu của câu), cuối cùng tìm những từ, ngữ nêu đối tượng thông báo của câu.
-
về cấu tạo của chủ ngữ: Chủ ngữ có thể được cấu tạo là từ một từ, một cụm từ (cụm từ
chính phụ, cụm từ đang lập, cụm từ cố định), một cụm c -V hay một giới ngữ. Ví dụ:
+ Chủ ngữ được cấu tạo từ một từ (thường là danh từ, đại từ):
Trăng sắp lên.
+ Chủ ngữ được cấu tạo từ một cụm từ đẳng lập:
Thầy giáo và học rínMang chăm chú làm việc.
+ Chủ ngữ được cấu tạo từ một cụm từ chính phụ:
Cuôc sổng của lính Tây Tiến vô cùng gian khổ.
+ Chủ ngữ là một cụm từ cố định:
Vị ngữ là một trong hai thành phần chính của câu song phần cùng với chủ ngữ
tạo nên nòng cốt của câu. Vị ngữ là thành phần câu thường thông báo rõ hành động,
hạng thái, tính chất,... của chủ ngữ. Vị ngữ thường trả lời câu hởi ỉàm gì?Thể nào? Là
gì? [9,27], [11,150]; vị ngữ có tác dụng đến toàn câu [10,115]; vị ngữ biểu thị tính vị
thể, miêu tả đặc trưng của sự vật được nói đến ở chủ ngữ [5, 148]. về mặt ngữ pháp, vị
ngữ là thành phần chịu sự chi phối của chủ ngữ, về mặt thông báo, vị ngữ là phần
thông báo cho chủ ngữ, tính thông báo thể hiện chủ yếu ở vị ngữ, trong tương quan với
chủ ngữ, vị ngữ thường là cái mới - cái chưa biết - do đó phần này ít khi bị rút gọn [19,
158]. Vị ngữ có quan hệ chặt chẽ, trực tiếp và phù họp vói chủ ngữ, kết họp vói chủ
ngữ tạo thành cấu trúc ngữ pháp cơ bản biểu thị nội dung mệnh đề [16, 69]. Vị ngữ là
thành phần dùng một thứ từ ngữ khác để thuật cái thể nào của chủ ngữ [6,178].VỊ ngữ
là bộ phận quan trọng nhất trong câu song phần, nó là trung tâm tổ chức của câu,
không thể lược bỏ khi tách khỏi ngữ cảnh [14, 181]. Vị ngữ đóng vai trò chủ yếu và là
hạt nhân của câu [17, 190-191].
b2. Vị trí của vị ngữ trong câu
Vị ngữ thường đứng sau chủ ngữ theo trật tự c - V. Tuy nhiên, vị ngữ có thể
đứng trước chủ ngữ (trường họp ngoại lệ) thuộc mặt dụng pháp [19, 185], Việc đảo vị
ngữ lên trước chủ ngữ tạo nên một trật tự không bình thường nhằm đạt hiệu quả tu từ
biểu cảm [16, 70],
b3. Cấu tạo của vị ngữ
về mặt từ loại: Các nhà ngữ pháp học cố truyền cho rằng vị ngữ do động từ
(tính từ) làm nên [7,21], [18,337], phần lớn các nhà nghiên cứu ngữ pháp Tiếng Việt
thống nhất ý kiến cho rằng động từ, tính từ (vị từ) thường làm vị ngữ, ngoài ra danh từ,
đại từ, số từ cũng có thể làm vị ngữ.
về mặt cấu trúc: Vị ngữ có thể được tạo nên bởi một từ, một cụm từ chính phụ,
một cụm từ đẳng lập, một giới ngữ, một kết cấu c -V và những đon vị đặc biệt như là:
+ Từ “đang” + danh từ chỉ thời gian: “Nó đang tuổi ăn, tuổi ngủ. "
+ Các từ sao, vậy, thế nào, ví dụ: "Anh sao thế? "[9,30]
về cấu tạo của vị ngữ: Vị ngữ có thể được cấu tạo từ một từ (động từ, tính từ, danh từ,
đại từ, số từ), một cụm từ chính phụ, cụm từ đắng lập, cụm từ cố định, giới ngữ, cụm c
-V. Ví dụ:
+ Vị ngữ được cấu tạo bởi một từ:
Bọn giăc run sơ.
w Khóa luận tôt nghiệp
Nó là phóns viên.
Nguyễn Như Quỳnh - K37GDTH
+ Vị ngữ được cấu tạo từ một cụm từ chính phụ:
Hoa hồng đans: nở rô.
Tiếng đàn Thúy Kiều irons như tiếng hac bay qua.
+ Vị ngữ được cấu tạo từ một cụm từ đẳng lập:
Nó đến rồi rủ tôi đi chơi.
+ Vị ngữ được cấu tạo từ một cụm từ cố định:
Thằng bé ấy cứns đầu cứng cổ lắm.
+ Vị ngữ được cấu tạo từ một giới ngữ:
Cái mâm đó bans nhôm.
+ Vị ngữ được cấu tạo từ một cụm c -V:
Giếng làng em nước rất trons.
1.2.2. Thành phần phụ
của câu 1.2.2.1. Khái
niệm
Thành phần phụ thêm vào cho cả câu, có tác dụng thuyết minh thêm cho cả câu
[14, 165]. Thành phần phụ là thành phần thứ yếu của câu, dùng để bổ sung ý nghĩa cho
câu hoặc nhấn mạnh vào ý nghĩa nào đó, không tham vào xây dựng nòng cốt câu, ở
ngoài nòng cốt này, có quan hệ vói cả nòng cốt câu [5, 154], Thành phần phụ là thành
là thành phần bổ sung ý nghĩa cho câu. Trạng ngữ có khi là phần nguời nghe mong đợi
[9, 33]. Nội dung thông báo của câu chủ yếu ở thành phần trạng ngữ [20, 193]. Trạng
ngữ xác định hoàn cảnh, điều kiện diễn ra sụ việc nêu trong câu, góp phần làm nội
dung đuợc đầy đủ chính xác, trạng ngữ nối kết các câu, các đoạn với nhau, góp phần
làm cho đoạn văn, bài văn mạch lạc [13,12,46], Trạng ngữ làm cho nội dung phản ánh
hiện thực khách quan đuợc cụ thể hơn, đầy đủ hơn [16, 78], Trạng ngữ bổ sung cho
những thông tin về tình huống, tức nó thuộc vai chủ tố của sự tình đuợc biểu thị trong
câu. Trạng ngữ cũng có thể đảm nhận chức năng liên kết văn bản nhờ vào đặc điểm
nào đó trong nội dung ngữ nghĩa mà nó biểu thị [17, 348 -349]. b2. Vị trí của trạng
ngữ trong câu
Trạng ngữ của Tiếng Việt có thể đứng ở ba vị trí khác nhau trong cấu trúc câu là
đứng đầu câu (truớc nòng cốt chủ - vị), đứng xen giữa chủ ngữ, vị ngữ hoặc cuối câu
(sau nòng cốt chủ - vị). Nhung đặc điểm ngữ pháp của trạng ngữ thường đặt trước phần
nòng cốt câu [13, 50]. Đồng quan điểm trên có rất nhiều người [16, 79], [4,168].
Vị trí thường gặp của trạng ngữ thường đứng ở đầu câu. Khi trạng ngữ chuyển
w Khóa luận tôt nghiệp
Nguyễn Như Quỳnh - K37GDTH
vị trí đứng sau nòng cốt câu hoặc xen giữa chủ ngữ và vị ngữ phải có điều kiện. Theo
Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp (2004), sự thay đổi của trạng ngữ trong câu
có liên quan đến vai trò của nó trong cấu trúc phân đoạn thực tại của câu. Khi nó đứng
sau nòng cốt hoặc chen vào giữa chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ có khả năng tham gia vào
phần thuật đề [17,345]. Diệp Quang Ban (2005) cho rằng trạng ngữ, khi ở cuối nòng
cốt hoặc xen giữa chủ ngữ, vị ngữ, phải được nhấn mạnh tách rời bằng điệu khi nói,
dấu phẩy khi viết và có thể kèm theo một kết từ thích họp [4,168].
b3. Cấu tạo của trạng ngữ
về từ loại: Hoàng Trọng Phiến (1980) xác định trạng ngữ thường được biểu
hiện bằng danh từ, tổ hợp danh từ với các từ có ý nghĩa không gian, thòi gian, tổ họp
danh từ với các giới từ, tính từ có ý nghĩa không gian; kết cấu động từ - bổ ngữ [10,
-
về cách xác định trạng ngữ: Trạng ngữ có thể xác định bằng cách xác định thành phần
chính của câu (nòng cốt câu) sau đó xác định thành phần phụ của câu và dựa vào dấu
phẩy tách nó vói nòng cốt câu kết họp với ý nghĩa chỉ thời gian, nơi chốn, mục đích,...
của trạng ngữ để phân biệt nó với đề ngữ.
-
về cấu tạo của trạng ngữ: Trạng ngữ có thể được làm từ một từ, một cụm từ, một giới
ngữ.
+ Trạng ngữ có thể được tạo từ một từ:
Lễ phép, mẹ con chị Dậu cúi đầu chào.
+ Trạng ngữ có thể được tạo từ một cụm từ:
Môt ngày cuối thu. tôi và Trũi lên đường.
+ Trạng ngữ có thể được tạo từ một giói ngữ:
Đổi với me tôi, tôi vẫn có lý và đáng yêu.
Ở ngoai thành, nônng dân trồng nhiều loại rau.
I.2.2.2.2. Đề ngữ
Theo chúng tôi, đề ngữ (khởi ngữ) được hiểu như sau:
-
về khái niệm: Đe ngữ là thành phần câu biểu thị chủ đề của câu biểu thị chủ đề của câu
biểu thị, có quan hệ chính phụ vói toàn bộ nòng cốt câu và có vị trí đặc thù là đứng đầu
câu.
-
về cách xác định đề ngữ: Đe ngữ có thể được xác định bằng cách thử: thêm vào nó các
1.2.3.
1.2.3.1.
Thành phần phụ của từ trong câu
Khái niêm
Diệp Quang Ban (2005) quan niệm: “Thành phần phụ của từ là từ ngữ phụ
thêm vào một từ hay một cụm từ đang giữ một chức vụ nào đó trong câu.” [4, 178]
Theo tôi, thành phần phụ của từ gồm 2 loại, các từ phụ bố nghĩa cho danh từ
được gọi là định ngữ, từ phụ bố nghĩa cho động từ và tính từ thì gọi là bổ ngữ.
Các thành phần phụ của từ
1.2.3.2.
I.2.3.2.I.
-
Bổngữ
về khái niệm: Bố ngữ là thành phần phụ của vị từ (động từ, tính từ) trong câu, có quan
hệ chính phụ vói vị từ, có vị trí phổ biến đứng sau động từ, tính từ làm vị ngữ trong
câu.
-
về cách xác định bổ ngữ: Bổ ngữ có thể được xác định bằng cách xác định cụm động từ
(cụm tính từ) làm vị ngữ, sau đó xác định động từ, tính từ trung tâm trong cụm từ, cuối
Định ngữ
về khái niệm: Định ngữ là thành phần phụ của danh từ trung tâm trong cụm
danh từ làm thành phần câu, có vị trí phổ biến là đứng sau danh từ trung tâm
nhằm miêu tả hay hạn định danh từ trung tâm.
-
về cách xác định định ngữ: Định ngữ được xác định trong cụm danh từ. Định ngữ
chính là đon vị đứng liền sau danh từ trung tâm, miêu tả hay hạn định danh từ trung
w Khóa luận tôt nghiệp
Nguyễn Như Quỳnh - K37GDTH
tâm. (Có thể dùng cách đặt câu hỏi với từ “nào” để xác định định ngữ. Ví dụ: “Chị tôi
chưa lấy chồng.” Chị nào? -chị tôi, “tôi” định ngữ).
-
về cấu tạo của định ngữ: Định ngữ có thể được cấu tạo từ một từ, một cụm từ chính
phụ, một cụm c - V. Ví dụ:
+ Định ngữ được cấu tạo từ một từ:
Đây là một cô gái thôns minh.
+ Định ngữ được cấu tạo từ một cụm từ chính phụ:
Nhà máy chế biển hoa quả xuất khẩu đã ngừng hoạt động.
+ Định ngữ được cấu tạo từ một cụm c -V:
Quyển sách anh cho tôi mươn rất khó đọc.
-
về cách kết họp vói danh từ trung tâm: Định ngữ có thể liên kết với danh từ trung tâm