1 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu
và kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công
bố trong bất cứ công trình nào.
3
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
MỞ ĐẦU 5
1. Lý do chọn đề tài 5
2. Mục đích nghiên cứu 6
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5. Phương pháp nghiên cứu. 6
6. Đóng góp của đề tài. 7
7. Giả thuyết khoa học 7
8. Cấu trúc của đề tài 7
NỘI DUNG CHÍNH 8
CHƯƠNG 1:CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 8
VÀ CÂU LỚP 3. 28
2.1. Khái quát về phương pháp tổ chức trò chơi trong dạy học lớp 3. 28
2.2. Các trò chơi học tập trong phân môn Luyện từ và câu lớp 3. 30
2.3. Tổ chức các trò chơi học tập cho các bài học cụ thể trong phân môn Luyện
từ và câu lớp 3. 31
2.3.1. Nhóm trò chơi học tập từ tuần 1 đến tuần 8. 31
2.3.2. Nhóm trò chơi học tập từ tuần 10 đến tuần 17. 43
2.3.3. Nhóm trò chơi học tập từ tuần 19 đến tuần 26. 52
2.3.4. Nhóm trò chơi học tập từ tuần 28 đến tuần 34. 60
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 69
3.1. Những vấn đề chung của thực nghiệm. 69
3.1.1. Mục đích, yêu cầu của thực nghiệm. 69
3.1.2. Địa bàn, thời gian, đối tượng thực nghiệm. 70
3.1.3. Nội dung của thực nghiệm. 71
3.2. Kế hoạch thực nghiệm. 71
3.2.1. Trước tác động. 71
vui bằng cách lôi cuốn các em vào những trò chơi hấp dẫn, phù hợp với trình độ
nhận thức.
"Học mà chơi - chơi mà học" là một trong những phương pháp giúp học
sinh tích cực tham gia vào hoạt động thực hành rèn luyện kiến thức một cách tự
giác và hứng thú. Thông qua trò chơi học tập, học sinh không những được phát
triển về cả trí tuệ, thể lực, thẩm mỹ mà còn được hình thành nhiều kỹ năng
Tiếng Việt, hành vi đạo đức và giáo dục nhân cách. Trong quá trình vui chơi,
học sinh tự mình khám phá, phát hiện kiến thức, rèn luyện kỹ năng nhằm củng
cố và khắc sâu thêm kiến thức. Khi lớp học vừa là môi trường học tập vừa là sân
chơi bổ ích và lý thú sẽ tạo cho học sinh cảm giác gần gũi, thân thiện. Đó là một
trong những yếu tố thúc đẩy quá trình nhận thức của học sinh theo hướng tích
cực. Đáp ứng được nhu cầu vui chơi và nhu cầu học tập đồng nghĩa với việc tiết
học đó đã đạt yêu cầu.Thành công của một tiết dạy dựa trên nhiều phương thức
tổ chức, hình thức hoạt động. Một trong những hình thức dạy học đạt hiệu quả
6
đó là hình thức tổ chức trò chơi học tập. Chính vì những lí do trên, chúng tôi
chọn đề tài "Tổ chức trò chơi học tập gây hứng thú cho học sinh lớp 3 Trường
Tiểu học Đồng Mỹ qua phân môn Luyện từ và câu".
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng sử dụng trò chơi học tập gây hứng thú cho học sinh
lớp 3 qua phân môn Luyện từ và câu trường Tiểu học Đồng Mỹ - Đồng Hới -
Quảng Bình, trên cơ sở đó, chúng tôi xây dựng hệ thống trò chơi học tập góp
phần nâng cao chất lượng dạy Luyện từ và câu đạt hiệu quả.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các trò chơi học tập gây hứng thú cho học sinh.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Tổ chức trò chơi học tập gây hứng thú cho học sinh lớp 3 qua phân môn
Luyện từ và câu của trường Tiểu học Đồng Mỹ.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
học tập.
6. Đóng góp của đề tài.
Đề tài góp phần cụ thể hóa lí luận dạy học phân môn Luyện từ và câu, nhất là
quan điểm dạy học gây hứng thú cho học sinh, từ kết quả của đề tài chúng tôi
khẳng định vai trò của việc tổ chức trò chơi học tập gây hứng thú cho học sinh.
Đồng thời, xác định được yêu cầu và xây dựng được hệ thống trò chơi học tập
cho từng tiết dạy, nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh. Qua đó, khóa luận sẽ
là tài liệu tham khảo cho giáo viên, sinh viên phục vụ thiết thực trong quá trình
dạy học học phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3.
7. Giả thuyết khoa học
Tổ chức trò chơi học tập gây hứng thú cho học sinh sẽ nâng cao kết quả
dạy và học.
8. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của đề tài gồm có 3
chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài.
Chương 2: Xây dựng hệ thống trò chơi học tập gây hứng thú cho học sinh lớp 3
thông qua phân môn Luyện từ và câu.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
8
NỘI DUNGCHÍNH
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Tổng quan lịch sử vấn đề
Một trong những hướng đổi mới trong việc dạy học theo hướng tích cực
là việc tổ chức trò chơi học tập cho học sinh thông qua các môn học. Đây là một
trong những vấn đề được chú trọng. Điều này thể hiện khá rõ nét ở chỗ, có nhiều
trẻ thơ - Phạm Minh Lăng" cũng đã xác định tầm quan trọng của trò chơi đối với
học sinh dựa trên đặc điểm tâm sinh lý trẻ em có nhu cầu được học được chơi.
Ngoài ra trong những năm gần đây có khá nhiều công trình luận văn của
sinh viên cũng đã nghiên cứu về vấn đề này. Chúng tôi có tham khảo thêm một
số luận văn như:
Luận văn "Vận dụng phương pháp tổ chức trò chơi trong dạy học môn
Tiếng Việt ở Tiểu học" (Trần Thị Hồng khóa 2007 -2011) đã nghiên cứu về vận
dụng tổ chức trò chơi cho 7 phân môn của môn Tiếng Việt. Luận văn đã đề xuất
một số trò chơi phục vụ cho việc dạy học môn Tiếng Việt, trong đó tác giả nhấn
mạnh "Qua trò chơi, trẻ không những được phát triển về các mặt trí tuệ, thể chất,
mà còn được hình thành nhiều kĩ năng Tiếng Việt, hành vi đạo đức. Chính trong
quá trình vui chơi học sinh tự mình khám phá, phát hiện ra các kiến thức, rèn
luyện các kĩ năng, giúp các em hiểu bài và nhớ lâu hơn" [2, 2].
Luận văn "Tổ chức trò chơi học tập cho học sinh trong học Toán" (Trịnh
Văn Tuấn khóa 2011 - 2014) đã đề cập việc tổ chức trò chơi học tập cho học
sinh trong giờ dạy môn Toán. Khóa luận đã nhấn mạnh được hiệu quả của việc
tổ chức trò chơi lồng ghép vào quá trình học nhằm lôi cuốn, hấp dấn học sinh
tham gia vào việc học.
Đồng thời trên trang web hiện nay cũng có một số công trình viết về tổ
chức trò chơi trong dạy học như: http://tailieu.vn với công trình" Vận dụng các
trò chơi học tập trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 5"; http:// doc.edu.vn với đề
tài "Tạo hứng thú trong giờ dạy học Ngữ Văn bằng cách tổ chức trò chơi";
http://text.123.doc.vn với đề tài "Một số biện pháp tổ chức hướng dẫn trò chơi
đóng vai theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo". Điểm chung của những công trình
nghiên cứu này đề xác định vai trò của trò chơi học tập, xem nó như một chiếc
10
cầu nối hữu hiệu thân thiện nhất, tự nhiên nhất giữa người dạy và người học
trong việc giải quyết nhiệm vụ chung đạt được mục đích đề ra làm thỏa mãn nhu
cầu của cá nhân.
Tuy nhiên các tài liệu trên mới chỉ dừng lại ở vấn đề lý thuyết chưa đi sâu
mò, thích khám phá, giàu trí tưởng tượng, luôn tin vào những phép nhiệm màu
kì diệu là có thật. Từ đó mà các em thêu dệt nên những giấc mộng hoài bão rất
dễ thương, đáng yêu mang màu sắc tuổi thơ.Học sinh Tiểu học thiếu kiên trì,
bền bỉ dễ hưng phấn nhưng cũng nhanh chán nên chúng không tập trung cao độ.
Vì vậy, người giáo viên cần phải tạo ra hứng thú trong học tập và phải thường
xuyên được luyện tập.Tâm hồn các em còn hết sức trong sáng, hồn nhiên như
trang giấy trắng còn mới tinh. Ở độ tuổi các em rất dễ xúc động, thích tiếp xúc
với một sự vật hiện tượng nào đó nhất là những hình ảnh gây cảm xúc
mạnh.Học sinh Tiểu học giàu cảm xúc, cả tin dễ chia sẻ với bạn bè và người
mình tin yêu. Các em luôn tìm sự gần gũi, yêu thương chiều chuộng từ người
lớn, luôn mong muốn được che chở quan tâm.Năng lực hoạt động của các em
còn hạn chế. Nhận thức tư duy của học sinh độ tuổi này còn mang tính trực quan
chưa cụ thể.Chúng rất hiếu động, ham hiểu biết cái mới nên dễ gây cảm xúc mới
song cũng chóng chán. Do vậy, trong quá trình dạy học giáo viên phải sử dụng
đa dạng hình thức dạy học như : đồ dùng dạy học, đưa học sinh tham quan thực
tế, tăng cường thực hành, tổ chức các trò chơi xen kẽ, nhằm củng cố khắc sâu
kiến thức bằng cách tạo hứng thú học tập cho các em.
Tóm lại, việc tìm hiểu về chung về phân môn Luyện từ câu, về tổ chức trò
chơi học tập gây hứng thú cho học sinh qua phân môn sẽ là cơ sở vững chắc về
mặt lí luận cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài "Tổ chức trò chơi học
tập gây hứng thú cho học sinh lớp 3 qua phân môn Luyện từ và câu Trường Tiểu
học Đồng Mỹ ".
Cơ sở ngôn ngữ học, ta thấy những thành tựu trong ngôn ngữ học về bản
chất ngữ nghĩa của các từ, các lớp từ là cơ sở những giờ dạy lý thuyết về từ,
giáo viên phải nắm được dần dần từng bước cho học sinh làm quen với những
khái niệm của từ, tính nhiều nghĩa, đồng nghĩa, trái nghĩa, Dựa trên bình diện
phát triển lời nói, dạy từ phải tính đến đặc điểm của từ như một đơn vị ngôn
12
ngữ, quan hệ trực tiếp của từ với thế giới bên ngoài. Việc dạy từ cần được trình
bày như là việc thiết lập quan hệ giữa từ với một lớp sự vật cùng loại được biểu
nhỏ nhất có thể thực hiện khả năng giao tiếp. Muốn hiểu rõ những đặc điểm
khác nhau về từ, cần đặt từ vào trong câu. Ngược lại, câu được cấu tạo nên bởi
số lượng từ nhất định. Do đó việc dạy từ và câu trong phân môn Luyện từ và câu
luôn đi kèm với nhau" [1, 45].
Bên cạnh đó, việc dạy Luyện từ và câu nhằm mở rộng, hệ thống hóa làm phong
phú vốn từ của học sinh, cung cấp cho các em những hiểu biết sơ giản, rèn cho
các em kĩ năng dùng từ đặt câu để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình một
cách linh hoạt. Thông qua phân môn Luyện từ và câu hướng dẫn cho học sinh
việc nghe, nói, đọc, viết và phát triển ngôn ngữ trí tuệ cho trẻ. Một học sinh khi
sỡ hữu số lượng từ phong phú, điều đó có nghĩa là các em đã hiểu biết về thế
giới xung quanh mình nhiều hơn, các em đã lưu giữ được kinh nghiệm, bài học
về cuộc sống tốt hơn thông qua các khái niệm mà các em đã có được. Đồng thời,
nhờ có vốn từ dồi dào giúp các em tư duy một cách chính xác, chặt chẽ và logic
hơn. Không có vốn từ đồng nghĩa với việc các em không đủ điều kiện để diễn
đạt một cách sinh động, đầy đủ ý nghĩ của mình. Khi vốn từ ngày càng được mở
rộng, phong phú thì việc giao tiếp của các em trở nên tốt hơn trong cuộc sống
cũng như học tập, sinh hoạt và vui chơi của mình. Chính vì lẽ đó, việc dạy
Luyện từ và câu có tầm quan trọng rất lớn trong việc hình thành cho các em
năng lực sử dụng từ và cách đặt câu. Đặc biệt, khi học tốt phân môn này sẽ tạo
điều kiện, tiền đề cho các em học tốt môn Tiếng Việt cũng như các môn học
khác.
Về nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu, phân môn này có vị trí rất
quan trọng trong môn Tiếng Việt. Nó đảm nhiệm các nhiệm vụ cơ bản như : mở
rộng hệ thống hóa vốn từ, trang bị cho học sinh một số kiến thức sơ giản về từ
và câu; rèn luyện cho học sinh kĩ năng sử dụng từ, đặt câu và sử dụng dấu câu;
bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng khi nói và viết thành câu, có ý
thức sử dụng Tiếng Việt có văn hóa trong giao tiếp.
Đối với nhiệm vụ mở rộng hệ thống hóa vốn từ, trang bị cho học sinh một
số kiến thức sơ giản về từ và câu. Trong việc dạy nghĩa từ, giáo viên giúp học
để thể hiện tư tưởng tình cảm của mình một cách tốt nhất. Vì vậy, giáo viên cần
15
phải dạy cho học sinh cách dùng từ đúng, hiểu nghĩa của từ, từ đó học sinh thêm
yêu ngôn ngữ mẹ đẻ, có ý thức trong việc sử dụng Tiếng Việt văn hóa trong giao
tiếp.
1.1.4. Nguyên tắc dạy học Luyện từ và câu ở Tiểu học.
Để dạy Luyện từ và câu một cách có mục đích, có kế hoạch người giáo
viên cần tuân thủ các nguyên tắc dạy học như: nguyên tắc giao tiếp; nguyên tắc
tích hợp; nguyên tắc trực quan và nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất giữa nội
dung và hình thức ngữ pháp.
Đối với nguyên tắc giao tiếp, giáo viên cần chú ý giao tiếp là chức năng xã
hội của ngôn ngữ. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài
người. Việc thay tên gọi hai phân môn "từ ngữ" và "ngữ pháp" của chương trình
Tiếng Việt củ bằng "Luyện từ và câu" ở chương trình Tiếng Việt mới là sự phản
ánh quan điểm dạy học trong Luyện từ và câu. Nó đòi hỏi việc dạy học từ, câu
nằm trong quỹ đạo dạy Tiếng Việt như là một công cụ giao tiếp nhằm thực hiện
mục tiêu của chương trình Tiếng Việt Tiểu học mới "hình thành và phát triển ở
học sinh kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao
tiếp trong các môi trường hoạt động lứa tuổi"[11, 85].Vì thế, nguyên tắc giao
tiếp cũng chính là sự vận dụng nguyên tắc thực hành của lí luận dạy học vào dạy
học tiếng mẹ đẻ nên còn gọi là nguyên tắc thực hành. Trong dạy học Luyện từ
và câu không chỉ được thực hiện trên phương diện nội dung mà cả ở phương
pháp dạy học.Vì phương pháp dạy học, trước hết là các kĩ năng Tiếng Việt phải
được hình thành và phát triển thông qua hệ thống bài tập mang tính tình huống
phù hợp với những tình huống giao tiếp tự nhiên. Như vậy, nguyên tắc giao tiếp
trong dạy Luyện từ và câu đòi hỏi học sinh phải tiến hành hoạt động ngôn ngữ
thường xuyên. Đó là những yêu cầu thực hiện bài tập miệng, bài viết trình bày ý
nghĩa tình cảm, ứng dụng tri thức lý thuyết vào bài tập. Đa dạng hóa các hình
thức ứng dụng nhằm phát triển ngôn ngữ lời nói. Quán triệt nguyên tắc giao tiếp
trong luyện từ và câu chính là việc hướng đến xây dựng nội dung dạy học. Đồng
pháp trong dạy học Luyện từ và câu. Giáo viên cần chú ý đến quá trình hình
thành khái niệm cũng đồng thời là quá trình học sinh nắm những thao tác tư duy
như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa và cụ thể hóa.
17
Khi tiến hành dạy học sinh về hình thành khái niệm phải chú ý đến việc đối
chiếu từ trong việc giải nghĩa từ, đặt từ trong các hệ thống hàng ngang, hàng
dọc, phẩm chất xã hội để xem xét và sử dụng.Đồng thời, phải đặt câu trong ngữ
cảnh, trong văn bản để xem xét.
1.1.5. Trò chơi và trò chơi học tập.
Nói về trò chơi thì có rất nhiều cách hiểu khác nhau về nó, mỗi cách hiểu
cách nghĩ mang một màu sắc riêng. Trò chơi là một hoạt động tự nhiên và cần
thiết nhằm thỏa mản những nhu cầu giải trí đa dạng của con người. Nó là
phương pháp giáo dục thực hành hiệu nghiệm nhất đối với việc hình thành nhân
cách, trí lực của trẻ em. Trò chơi còn là một hình thức dưỡng sinh của người lớn
tuổi, giúp họ hăng hái thư giãn, vui vẻ, trẻ tính.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau nói về trò chơi.
“Trò chơi là hoạt động bày ra để vui chơi giải trí” [21, 791]. Trong cuốn "
Giải thích thuật ngữ tâm lý - giáo dục học" thì cho rằng trò chơi " là hoạt động
lý học hay tinh thần hoàn toàn không có vụ lợi thường có cơ sở là quy ước hay
tưởng tượng trong ý thức của người chơi, không ngoài mục đích tự thân và mục
tiêu khác là tạo khoái cảm ". AM- Go - ro- ki đã nhận định "Trò chơi là con
đường để trẻ em nhận thức thế giới, là nơi chúng đang sống và là cách chúng
nhận thấy cần phải thay đổi". Ta nhận thấy rằng trò chơi là loại hình phổ biến
của hoạt động vui chơi là chơi theo luật, luật của trò chơi chính là các quy tắc
định rõ mục đích, kết quả và yêu cầu của hành động vui chơi, luật của trò chơi
có thể tường minh có thể không. Mà trong đó hoạt động vui chơi là hoạt động
mà động cơ của nó nằm trong chính quá trình hoạtđộng bản thân trò chơi chứ
không nằm ở kết quả chơi. Đó là những định nghĩa những cách hiểu về trò chơi.
Vậy trò chơi học tập được hiểu như thế nào, được ứng dụng ra sao trong quá
trình dạy học.
học cũng đạt tới đỉnh điểm.
Áp dụng phương pháp trò chơi học tập vào phân môn Luyện từ và câu là
đưa học sinh vào hoạt động vận dụng. Học sinh phải thực hiện chủ động, sáng
tạo để nhận diện được điều cần lĩnh hội, tiếp thu. Trò chơi học tập tổ chức trong
quá trình học giúp làm giảm bớt đi sự căng thẳng khô khan không còn sự tẻ nhạt
19
mà đem đến sự sôi nổi, ham mê, hấp dẫn, say sưa tìm hiểu, khám phá và lĩnh hội
tri thức của mỗi giờ học.Việc sử dụng trò chơi học tập trong phân môn Luyện từ
và câu là phương pháp hữu hiệu cho học sinh thoát ly khỏi việc cung cấp kiến
thức về từ, câu một cách khô khan. Thay vào đó hình thức sử dụng trò chơi học
tập sẽ giúp học sinh nắm chắc kiến thức và vận dụng linh hoạt vào thực tế.
Thông qua trò chơi, kiến thức lại một lần nữa được khắc sâu trong trí óc của học
sinh, việc lưu giữ tri thức thông qua trò chơi là một hình thức đúng đắn và mang
tính đổi mới cao trong phương pháp dạy học. Chính vì vậy, trò chơi học tập có
những ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình dạy học.
Trò chơi học tập là hình thức học tập thông qua trò chơi. Trò chơi học tập
không chỉ nhằm vui chơi giải trí mà còn góp phần củng cố tri thức, kỹ năng học
tập của các em. Với các đặc điểm riêng trò chơi mở ra cho học sinh Tiểu học
một khả năng phát triển lớn. Các em được tiếp cận hoàn cảnh chơi, nhiệm vụ
chơi, hoạt động chơi. Từ đó các em lĩnh hội các tri thức sống động, thực tế cuộc
sống xung quanh và tri thức khoa học.Quá trình chơi các em biểu lộ tình cảm rất
rõ ràng như niềm vui khi chiến thắng,buồn bã khi thất bại. Đây chính là đặc tính
thi đua rất cao của các trò chơi. Vì vậy khi tham gia trò chơi học sinh vận dụng
hết khả năng về sức lực, tập trung sự chú ý, trí thông minh và sáng tạo.Trò chơi
học tập rèn luyện cho học sinh kĩ năng, kĩ xảo thúc đẩy hoạt động trí tuệ. Bởi lẽ,
khi tham gia chơi cũng là dịp tốt nhất để trẻ phát hiện, thăm dò thế giới xung
quanh qua đó mà kích thích tính tò mò, óc quan sát năng lực phán đoán, trí
tưởng tượng. Chính vì vậy nhiều nhà giáo dục đã từng gọi "Trò chơi là trường
học của cuộc sống" [ 19, 85]. Trẻ em cần chơi như việc cần được ăn no mặc ấm.
Trò chơi nuôi dưỡng tâm hồn mà trẻ không gì có thể thay thế được. Không tạo
chuẩn, có bảng chống lóa và tủ thiết bị đựng đồ dùng được trang trí đẹp mắt, tạo
không gian lớp học thân thiện gần gũi với học sinh. Mang lại cho học sinh cảm
giác thích thú khi đến trường. Yếu tố này giúp cho quá trình dạy học của các
giáo viên được thuận lợi hơn và học sinh có hứng thú của việc học, hình thành ý
thức học tập,biết cố gắng phấn đấu trở thành con ngoan, trò giỏi xứng đáng là
những chủ nhân tương lai của đất nước.
21
Ở trường Tiểu học Đồng Mỹ, môn Tiếng Việt do giáo viên chủ nhiệm
trực tiếp đảm nhận. Điều này cũng có nhiều thuận lợi, vì giáo viên có thể hiểu
sâu sắc hơn về nội dung, yêu cầu của môn học, đủ năng lực để tổ chức các hoạt
động và tiến trình các tiết dạy một cách linh hoạt, hợp lý, không bị khống chế
bởi thời gian. Vì vậy việc tổ chức trò chơi học tập gây hứng thú cho học sinh
thông qua phân môn Luyện từ và câu đối với khối 3 ở trường Tiểu học Đồng Mỹ
là có tính khả thi.
1.2.2. Thực trạng của việc tổ chức trò chơi học tập gây hứng thú cho học
sinh lớp 3 qua phân môn Luyện từ và câu ở trường Tiểu học Đồng Mỹ -
Thành phố Đồng Hới.
Qua tìm hiểu chúng tôi thấy việc tổ chức trò chơi học tập gây hứng thú
cho học sinh qua phân môn Luyện từ và câu ở trường Tiểu học Đồng Mỹ có một
số thuận lợi và khó khăn.
Về mặt thuận lợi, nhà trường luôn quan tâm đến chất lượng dạy học, chỉ
đạo chuyên môn luôn sát với thực tiễn, luôn đẩy mạnh việc dạy và học ứng dụng
phương pháp dạy học tích cực theo mô hình mới. Điều này góp phần kích thích
hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho học sinh, giúp học sinh biết giữ gìn và
phát huy "thứ của cải vô cùng quý giá của dân tộc". Đội ngũ giáo viên luôn có ý
thức trong việc nâng cao chất lượng dạy học, đa số giáo viên đã nghiên cứu và
chuẩn bị bài soạn khá chu đáo trước khi đến lớp, nắm được các bước tổ chức
một trò chơi. Giáo viên đã xác định được vai trò của việc tổ chức trò chơi học
tập trong phân môn Luyện từ và câu, biết vận dụng phương pháp này vào từng
thời điểm thích hợp trong quá trình dạy. Phần lớn giáo viên đã xác định được vai
35 phút, thời gian này cho một tiết học giáo viên phải đảm bảo cung cấp cho học
sinh kiến thức mới nên thành thử việc tổ chức trò chơi học tập cũng chưa được
đào sâu. Đó là những khó khăn đang còn mắc phải trong việc tổ chức trò chơi
học tập gây hứng thú cho học sinh tại Trường Tiểu học Đồng Mỹ qua phân môn
Luyện từ và câu.
23
1.2.3. Nội dung và chương trình dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 3
1.2.3.1 Nội dung dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 3.
Những nội dung dạy phân môn Luyện từ và câu bao gồm: mở rộng vốn
từ, tu từ so sánh, nhân hóa, từ loại, dấu câu, câu và đặt câu. Về nội dung mở
rộng vốn từ, cung cấp cho học sinh hệ thống các từ ngữ xoay quanh các chủ đề
để từ đó làm giàu vốn từ sử dụng cho học sinh. Về nội dung tu từ so sánh, nhân
hóa giúp học sinh biết về các biện pháp tu từ, biết được đặc điểm và cách dùng
các biện pháp đó. Về nội dung từ loại, cung cấp các từ chỉ sự vật, từ chỉ hoạt
động, trạng thái, từ chỉ tính chất, đặc điểm giúp học sinh nắm được cách dùng từ
phù hợp. Đối với nội dung dấu câu thì cung cấp cho học sinh đặc điểm và cách
sử dụng các dấu câu như dấu hỏi, chấm than, dấu chấm, dấu phẩy, dấu hai chấm.
Trong phân môn này cung cấp cho học sinh nội dung về câu đó là loại câu: Ai là
gì?, Ai thế nào?, Ai làm gì?. Học sinh sẽ biết được cách đặt và trả lời câu hỏi với
các kiểu câu đó và sử dụng phù hợp. Đồng thời, nội dung phân môn này còn
cung cấp cho học sinh về đặt câu, giúp học sinh hiểu được và đặt câu thành thạo
theo mẫu câu: Vì sao?, Như thế nào?, Ở đâu?, Khi nào?, Bằng gì? và Để làm
gì?. Nội dung dạy học phân môn Luyện từ và câu được khái quát qua sơ đồ sau:
1.2.3.2. Chương trình dạy học phân môn Luyện từ và câu.
Chương trình Luyện từ và câu lớp 3 gồm 31 tiết ( không kể những tuần ôn
tập giữa kỳ ) học kỳ I là 16 tiết, học kỳ II là 15 tiết. Mỗi tuần 1 tiết gồm các nội
dung sau :
25
Tuần
Chủ điểm Nội dung Trang
1 Măng non Ôn về từ chỉ sự vật. So sánh 8
2 Măng non MRVT: Thiếu nhi. Ôn tập câu; Ai là gì? 15
3 Mái ấm So sánh. Dấu chấm 24
4 Mái ấm MRVT: Gia đình. Ôn tập câu: Ai là gì? 33
5 Tới trường So sánh 42
6 Tới trường Trường học. Dấu phẩy 50
7 Cộng đồng Ôn tập về từ chỉ hoạt động, trạng thái. So sánh 58
8 Cộng đồng MRVT: Cộng đồng. Ôn tập câu Ai làm gì?
9 ÔN TẬP GIỮA HỌC KỲ I
10 Quê hương So sánh. Dấu chấm 79
11 Quê hương MRVT: Quê hương.Ôn tập câu Ai làm gì? 89
12 Bắc - Trung -Nam Ôn tập về từ chỉ hoạt động, trạng thái. So sánh 98
13 Bắc - Trung -Nam
MRVT: Từ địa phương. Dấu chấm hỏi, chấm
than
107
14 Anh em một nhà