PHẦN THỨ NHẤT
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1. Lí do chọn đề tài :
Hứng thú lá thái độ đặc biệt của cá nhân đối với một đối tượng nào đó, có ý
nghĩa đối với cuộc sống , vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong
quá trình hoạt động.
Hứng thú thể hiện sự tập trung chú ý cao độ ở sự hấp dẫn đối với nội dung
hoạt động. Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng hiểu quả của
nhận thức.Vì thế, việc xây dựng hứng thú cho học sinh có vai trò rất quan trọng.
Trong quá trình dạy học các môn học nói chung, môn Tiếng Việt nói riêng, đặc
biệt ở học sinh tiểu học để đạt được kết quả cao, người giáo viên tiểu học cần
tạo ra hứng thú trong hoạt động học tập cho học sinh.
Môn Tiếng Việt là môn học có vai trò đặc biệt quan trọng ở bậc tiểu học, là
phương tiện chủ yếu để học sinh tiếp thu kiến thức cho các môn học khác, môn
Tiếng Việt ở tiểu học có nhiệm vụ hình thành ngôn ngữ cho học sinh, thể hiện ở
bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Do đó môn Tiếng Việt có một vị trí quan trọng
đối với học sinh tiểu học. Môn Tiếng Việt là một công cụ hữu hiệu trong hoạt
động và giao tiếp của học sinh, giúp học sinh tự tin và chủ động,hòa nhập các
hoạt động học tập trong trường học. Giúp học sinh hình thành – rèn luyện các kỹ
năng cơ bản ở tiểu học, đồng thời nó chi phối kết quả học tập của các môn học
khác.
Chính vì những lí do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “ tìm hiểu hứng
thú học tập môn tiếng việt của học sinh khối 3, trường tiểu học Hùng Vương –
Thành phố Đà Lạt ” Nhằm tìm hiểu thực trạng hứng thú học tập môn Tiếng Việt
của học sinh lớp 3 trường tiểu học Hùng Vương – Thành phố Đà Lạt. Từ đó, đề
xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho học
sinh, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập.
2. Mục đích nghiên cứu
- Hứng thú học tập môn Tiếng Việt của học sinh khối 3 trường tiểu học Hùng
Vương – Thành phố Đà Lạt.Từ đó đề xuất ra một số biện pháp tổ chức hoạt
điểm hứng thú nhận thức, hứng thú học tập môn Tiếng Việt của học sinh và sự
phát triển hứng thú học tập của học sinh tiểu học.
2
6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
6.2.1 Phương pháp điều tra sư phạm.
• Mục đích :
+ Tìm hiểu hứng thú học môn Tiếng Việt của học sinh khối 3, trường tiểu học
Hùng Vương – Thành phố Đà Lạt.
+ Phát hiện các nguyên nhân đưa đến hứng thú học tập môn Tiếng Việt cũng
như yếu tố làm ảnh hưởng đến hứng thú học tập môn này.
6.2.2 Phương pháp quan sát sư phạm.
• Mục đích :
+ Tìm hiểu thái độ ( mức độ hứng thú ) của học sinh trong quá trình học tập trên
lớp đối với môn Tiếng Việt qua dự giờ thăm 2 lớp ( lớp 3A, 3B ).
6.2.3 Phương pháp Đàm Thoại ( phương pháp trò chuyện )
• Mục đích :
+ Để trưng cầu ý kiến của giáo viên về thái độ học tập của học sinh đối với môn
Tiếng Việt
PHẦN THỨ HAI
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu:
Hứng thú là một đề tài hấp dẫn đối với các nhà tâm lí học. Các học giả tư sản
đã đưa ra quan điểm của mình về hứng thú từ thế kỉ XIX.
Những phát minh của Dewey, Montersor, Decroly…đã chứng tỏ những tư
tưởng về giao tiếp dựa trên hứng thú đã có sẵn mầm mống trong toàn bộ khoa
tâm lí cuối thế kỉ XIX.
Trong cuốn chuyên khảo về hứng thú công bố năm 1914, X.Aanahin đã
nghiên cứu kĩ những quan điểm khác nhau về 3 vấn đề hứng thú và kết luận
rằng: không có hứng thú với tư cách là một hiện tượng độc lập trong đời sống
tâm lí cá nhân, không thể tán thành ý kiến này được,
Trong tâm lí học Xô Viết, một số người quy hứng thú về nhu cầu “ hứng
thú là một nhu cầu nhận thức “ Một số người coi hứng thú là một xu hướng
(Mtelôp). Gần đây, các nhà khoa học có xu hướng nghiên cứu về định nghĩa “
hứng thú là thái độ nhận thức của cá nhân đối với hiện thực” (A.C.A.C Chipôp,
N.Miaxisôp, X.L Rubinstein, V.G.Ivanôp).
• Hứng thú đối với môn học cụ thể:
Các công trình nghiên cứu của A.F.Beeliaep, N.Đ.Levitop, N.S.Lukin thì
lại chú ý đến phát triển hứng thú nhận thức với các môn học cụ thể và đã vạch ra
hệ phương pháp nhằm làm nảy sinh và củng cố hứng thú. Các công trình nghiên
cứu của L.L.Boriovich, U.A.Kruchetski, Andreas Helmke đã đi sâu vào giải
quyết đặc điểm hứng thú của từng lứa tuổi học sinh và chỉ ra những biến đổi cơ
bản diễn ra trong phạm vi hứng thú.
Trong những năm gần đây, N.G.Maozova, L,X.Xlavina, Renniger…cũng
đã xem xét hứng thú nhận thức với tư cách là động cơ ý nghĩa quan trọng trong
hoạt động học tập của học sinh.
Ở Việt Nam, từ những năm 1960 đã có những công trình nghiên cứu về
hứng thú học tập của học sinh Việt Nam. Một số công trình đi tìm hiểu hứng thú
học tập của học sinh phổ thông trung học như công trình nghiên cứu của Phan
Huy Thu(1970); tìm hiểu tình hình sự phân hóa học tập các môn học của học
sinh và phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng đến hứng thú học tập các môn
5
học. Một số tác giả khác đã đi sâu nghiên cứu các môn học cụ thể của học sinh
như hứng thú học Toán, Lịch Sử , Thủ công- Kĩ thuật… Đặc biệt có cả những
công trình nghiên cứu về hứng thú học tập của giáo sinh cao đẳng sư phạm.
Như vậy, đề tài hứng thú đã được giải quyết một cách phong phú với
nhiều khía cạnh khác nhau.
1.1.2 Vai trò của hứng thú đối với đời sống cá nhân:
Hứng thú tạo nên cho cá nhân một trạng thái tình cảm dễ chịu. Như phần
định nghĩa đã nói, đối tượng của hứng thú không những có ý nghĩa về mặt đời
sống mà còn có khả năng đưa lại cho cá nhân những khoái cảm. Do đó khi hứng
thú đối với đối tượng hoạt động nào đó thì cá nhân luôn cảm thấy phấn khởi,
sung sướng thoải mái trong lĩnh vực hoạt động nào đó.
Hứng thú làm tăng hiệu quả của quá trình nhận thức. Vì có quan hệ với
chú ý và tình cảm nên khi có hứng thú thì cá nhân hướng toàn quá trình nhận
thức vào đối tượng làm tăng độ chính xác và sâu của quá trình nhận thức. Bởi
vậy, cá nhân sẽ quan sát tinh nhạy hơn, ghi nhớ nhanh chóng lâu bền hơn, nhớ
lại chính xác hơn… Kết quả học tập của học sinh có hứng thú với môn học nào
đó đã chứng minh rất rõ kết luận này.
Hứng thú thể hiện ở sự tập trung chú ý cao độ, ở sự say mê hấp dẫn đối
với nội dung hoạt động, ở bề rộng và chiều sâu hứng thú. Hứng thú sẽ làm nảy
sinh khát vọng hành động, làm tăng hiệu quả hoạt động nhận thức, tăng sức làm
việc.
Vì thế, cùng với nhu cầu, hứng thú là một trong những hệ thống động lực
nhân cách.
Hứng thú tăng sức làm việc. Hứng thú là một dạng đặc biệt của tình cảm
do sự hấp dẫn của đối tượng gây ra. Cho nên khi có hứng thú, cá nhân có sức
chịu đựng dẻo dai, làm việc say sưa lâu dài hơn so với những công việc kém
hứng thú.
Hứng thú là một trong các cơ sở đến tài năng. Muốn hình thành năng lực phải
có hứng thú. Năng lực cá nhân được hình thành khi đảm bảo hai điều kiện cơ bản: cá
nhân đó phải nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động và hoạt động phải có sức
hấp dẫn tình cảm đối với cá nhân. Đó cũng là một trong những đặc điểm của đối tượng
gây nên hứng thú. Như vậy có thể nói hứng thú là một trong yếu tố quyết định sự hình
thành và phát triển năng lực cá nhân,thực tiễn cho thấy: không một người tài ba lỗi lạc
lại không có hứng thú với công việc và với lĩnh vực mà mình hoạt động.
1.1.3 Các giai đoạn phát triển của hứng thú nhận thức :
+ Hứng thú nhận thức: hứng thú và hoạt động nhận thức có quan hệ với
nhau rất chặt chẽ nhưng không đồng nhất, bởi vì ở con người có hứng thú gián
tiếp tức là hứng thú tập trung vào kết quả của hoạt động đơn thuần.
8
Hứng thú học tập được coi là một biểu hiện của hứng thú nhận thức. Các
hứng thú khoa học có tính chất chuyên môn như hứng thú vật lý, khoa học…
cũng thuộc về hứng thú nhận thức.
+ Hứng thú lao động nghề nghiệp: hứng thú nghề nghiệp, hứng thú kĩ thuật,
hứng thú sư phạm.
+ Hứng thú xã hội – chính trị: hứng thú đối với những hình thức nhất định
của công tác xã hội, hứng thú đối với những vấn đề chính trị, hứng thú với thời
cuộc.
- Căn cứ vào chiều hướng của hứng thú, có thể phân chia hứng thú trực tiếp
với hứng thú gián tiếp:
+ Hứng thú trực tiếp: Khi cá nhân bị chi phối bởi chính đối tượng mà mình
động đến, bởi bản thân các sự kiện hay quá trình mà mình theo đuổi. Trong
trường hợp này cá nhân hứng thú với quá trình hoạt động như quá trình nhận
thức, quá trình nắm vững kiến thức, quá trình lao động và sáng tạo.
+ Hứng thú gián tiếp: Khi hứng thú vào kết quả của hoạt động, kết quả của
sự kiện hay quá trình chứ không phải bản thân sự kiện hay quá trình đó. Cũng có
khi người ta gọi hứng thú gián tiếp là hứng thú thực tế của cá nhân đối với một
cái gì đó.
Cả hai hứng thú trực tiếp và gián tiếp đều có ý nghĩa quan trọng. Hứng
thú trực tiếp thì dẫn đến sự nhận thức sâu sắc hơn đối tượng của hứng thú, còn
hứng thú gián tiếp là phương diện tiếp thu các tri thức,kỹ năng, kỹ xảo để hoạt
động có kết quả. Ở những cá nhân được giáo dục chu đáo thì trong cấu trúc
hứng thú của họ thường có sự hứng thú giữa hứng thú trực tiếp và hứng thú gián
tiếp. Vì đó là điều kiện thuận lợi nhất cho tính tích cực của hoạt động cá nhân.
Trong lĩnh vực học tập, sự kết hợp hài hòa giữa hứng thú trực tiếp và hứng thú
gián tiếp là điều tốt nhất để phát triển mỗi cá nhân và đạt kết quả cao trong học
nhân; xong cần phải có hứng thú trung tâm, tức là hứng thú thu hút người ta
nhiều nhất.
Trong thực tế, ở mọi người các điểm này có thể kết hợp với nhau theo
một cách riêng tiêu biểu cho cá nhân họ. Có người có hứng thú tích cực, sâu
sắc nhưng lại hẹp; có người có hứng thú rộng nhưng hời hợt. Trường hợp lí
tưởng nhất là trong hứng thú có sự kết hợp chặt chẽ giữa tính tích cực bền
vững, giữa chiều sâu và bề rộng.
1.1.5 Đặc điểm hứng thú học tập của học sinh tiểu học
10
• Hứng thú nhận thức
Hứng thú nhận thức là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với hoạt động nhận
thức, vừa có ý nghĩa với cuộc sống, vừa cón khả năng mang lại khoái cảm cho
cá nhân trong quá trình nhận thức.
• Hứng thú học tập
Hứng thú học tập là một dạng của hứng thú nhận thức, là thái độ đặc biệt của
cá nhân đối với hoạt động học tập, hoạt động này vừa có ý nghĩa với cuộc sống
vừa mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình nhận thức.
Ở học sinh tiểu học, các em có thể có hứng thú với một hoặc nhiều môn học
nào đó. Khi đó hứng thú học tập được hình thành và phần nào chiếm ưu thế, vì ở
tuổi này hoạt động học tập đã trở thành hoạt động chủ đạo. Lúc đầu các em có
thể có hứng thú như nhau với tất cả các môn học nhưng hứng thú đó không chỉ
là nội dung hấp dẫn của tri thức, cách thức học mà còn là những lời khen của
thầy cô, của cha mẹ, phần thưởng…
Đến cuối bậc tiểu học, hứng thú học tập của các em đã có sự phân hóa; thích
môn học này, không thích môn học kia… Tuy nhiên hứng thú học tập ở học sinh
tiểu học vẫn chưa có thực sự bền vững, sự phân hóa hứng thú học tập chưa rõ
ràng còn mang tính chất cảm tính. Vì vậy, vấn đề cần chú ý trong việc phát huy
hứng thú ở các em là phương pháp giảng dạy của giáo viên và khả năng chuyên
môn của học.
• Hứng thú môn Tiếng Việt
các yếu tố làm ảnh hưởng đến hứng thú học tập bộ môn này.
• Nội dung Ăng-két
• Cách tiến hành:
Phát phiếu điều tra cho học sinh, hướng dẫn các em đọc kĩ và trả lời
phiếu ngay tại lớp.
• Cách sử dụng đánh giá:
Sàng lọc những phiếu không hợp lệ, thống kê theo bảng, tính phần trăm,
phân tích kết quả điều tra, rút ra kết luận về hứng thú học tập phân môn
Tiếng Việt, các mức độ hứng thú, nguyên nhân gây nên hứng thú và hạn chế
hứng thú của học sinh( phương pháp này kết hợp với phương pháp quan sát
sư phạm).
2.2.2 Tiến hành quan sát:
• Mục đích: Tìm hiểu thái độ ( mức độ hứng thú) của học sinh trong quá
trình học tập trên lớp với bộ môn Tiếng Việt qua dự giờ thăm lớp (2 lớp).
• Cách tiến hành:
Dự tất cả các giờ phân môn Tiếng Việt của giáo viên ở khối 3.
Ngoài ra chúng tôi còn trò chuyện với thầy cô và học sinh để trưng cầu ý
kiến của họ về thái độ học tập của học sinh đối với môn Tiếng Việt.
2.3 Kết quả nghiên cứu
Bảng 1: Mức độ hứng thú học tập môn Tiếng Việt so với các môn học khác
của 60 học sinh lớp 3A và 3B
TT Các môn học
Mức độ
Thích Bình thường Không thích
13
SL % SL % SL %
1 Tiếng Việt 50 83,3 7 11,7 3 5,0
2 Toán 54 90,0 3 5,0 3 5,0
3 Thủ công 41 68,3 14 23,3 5 8,3
4 Hát nhạc 39 65,0 16 26,7 5 8,3
Nhận xét:
Qua biểu đồ ta thấy:
- Số học sinh có mức độ thích chiếm tỉ lệ rất cao 83,3%. Đó thường là
những em có tinh thần, ý thức, thái độ học tập tốt. Điều đó cũng phù hợp
với môi trường, hiện trạng, tình hình học tập của học sinh hai lớp 3A và
3B trường tiểu học Hùng Vương – Thành phố Đà Lạt.
- Số học sinh có mức độ bình thường chiếm tỉ lệ 11,7%.
- Ngược lại, số học sinh có mức độ không thích chiếm tỉ lệ thấp 5,0% và
thường rơi vào những em có học lực yếu,kém.
15
Từ sự chênh lệch khá lớn về mức độ hứng thú ở môn Tiếng Việt của học
sinh hai lớp 3A và 3B chúng tôi đã tiến hành điều tra những nguyên nhân
dẫn đến sự chênh lệch này.
Bảng 3 :Những nguyên nhân gây hứng thú học tập môn Tiếng Việt
của 60 học sinh lớp 3A và 3B
Nguyên nhân SL %
Giáo viên giảng dễ hiểu 55 91,7
Rèn luyện được các kỹ năng nghe – nói – đọc – viết 49 81,7
Môn Tiếng Việt rất có ích trong cuộc sống 48 80,0
Thường đạt điểm cao trong môn Tiếng Việt 52 86,7
Biểu đồ 2: Các nguyên nhân học sinh hứng thú học tập
Nhận xét:
- Nguyên nhân gây hứng thú có tỉ lệ cao nhất trong môn Tiếng Việt là giáo
viên giảng dễ hiểu chiếm tỉ lệ 91,7% .Sở dĩ học sinh có ý kiến như vậy là
do đa số giáo viên đã dẫn dắt học sinh vào nội dung bài học một cách lôi
cuốn, hấp dẫn, sử dụng các phương tiện dạy học trực quan nhiều hình ảnh
sinh động, đưa ra các câu hỏi phù hợp với từng đối tượng học sinh.
- Nguyên nhân thứ hai gây nên hứng thú học tập môn Tiếng Việt là do
“thường đạt điểm cao trong môn Tiếng Việt” chiếm tỉ lệ 86,7%. Các em
đạt kết quả cao một phần là do giáo viên dạy hay và học sinh thấy dễ học,
KẾT LUẬN-KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Đề tài cơ bản đã giải quyết được nhiệm vụ đặt ra, các kết quả nghiên cứu phù
hợp với giả thuyết đề ra. Từ phân tích kết quả nghiên cứu, chúng tôi rút ra được
một số kết luận có tính khái quát như sau:
1.1 Qua kết quả điều tra cho thấy các nguyên nhân “Giáo viên giảng dễ hiểu”,
“thường đạt điểm cao trong môn Tiếng Việt” là nguyên nhân bên ngoài kết
hợp với “Có ý nghĩa với bản thân và cuộc sống” là nguyên nhân bên trong
giúp học sinh học tập có hiệu quả môn Tiếng Việt.
1.2 Hứng thú học môn Tiếng Việt của học sinh khối 3 trường Tiểu học Hùng
Vương – Thành phố Đà Lạt chủ yếu ở mức độ rất thích và thích.
1.3 Giữa hứng thú học tập môn Tiếng Việt và năng lực học tập môn Tiếng Việt
(Kết quả học tập) có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, những học sinh có hứng
thú học tập môn Tiếng Việt thường đặt kết quả cao.
1.4 Hứng thú học tập môn Tiếng Việt của học sinh khối 3 trường tiểu học Hùng
Vương –Thành phố Đà Lạt, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố trong đó chủ
yếu là do phương pháp giảng dạy của giáo viên, và một phần là do các em
chưa chăm chú trong giờ học. Chưa hiểu được sự cần thiết của môn học đối
với bản thân.
1.5 Hứng thú có vai trò quan trọng đối với toàn bộ đời sống con người nói
chung, đặc biệt đối với học tập của học sinh nói riêng, làm tăng hiệu quả của
quá trình học tập phát triển tư duy, tích cực trong quá trình nhận thức của học
sinh đặc biệt là hứng thú học tập môn Tiếng Việt, kích thích tính tích cực học
tập bộ môn, góp phần hình thành những kĩ năng sống cho học sinh.
18
2. Kiến nghị
Để góp phần nâng cao hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho học sinh tiểu học,
trong quá trình giảng dạy ở trường giáo viên cần làm tốt những vấn đề sau:
2.1 Khi tổ chức dạy môn Tiếng Việt cho học sinh cần vận dụng các phương
pháp dạy học sao cho phong phú, đa dạng, phù hợp với nội dung bài dạy, phù
3. Lê Văn Hồng (TLHLT & TLHSP) NXB Giáo dục Hà Nội năm 1996.
4. Lê Vi Tốp (Tâm lý học trẻ em và Tâm lý học sư phạm) NXB Giúp dục Hà
Nội năm 1972
5. Phạm Minh Hạc (Chủ biên) Tâm lý học (Sách dùng cho hệ đào tạo Giaso
viên Tiểu học) – NXB Giúp dục năm 1995.
6. Phương pháp dạyTiếng việt (Giáo trình đào tạo Giáo viên Tiểu học – Hệ
CĐSP & Hệ Sư phạm 12+2)-NXB Giáo dục.
7. Tài liệu trên mạng:www.tailieu.vn
20
PHỤ LỤC
Phiếu tìm hiểu hứng thú học tập môn Tiếng Việt.
Trường :…………………………………………
Họ và tên :………………………………………
Lớp :………………………………………………
Nam/Nữ :…………………………………………
Học lực :…………………………………………
Câu 1: Em hãy đánh dấu ( x ) vào mức độ thích hợp nhất với em.
TT Các môn học Mức độ
Thích Bình thường Không thích
1 Tiếng Việt
2 Toán
3 Thủ công
4 Hát nhạc
5 Thể dục
6 Mĩ thuật
7 Đạo đức
8 Tự nhiên – Xã hội
Câu 2: Em thích phần học nào trong các phần học sau:
a. Tập đọc